Khai quật công trường khai thác đá xây dựng Thành Nhà Hồ ở núi An Tôn

Tháng 7/ 2011, chỉ ít ngày sau khi Thành Nhà Hồ được công nhận là Di sản Thế giới, trong một đợt khảo sát ngắn ngày, ông Nguyễn Văn Long, cán bộ Trung tâm Bảo tồn Di sản Thành Nhà Hồ (TTBTDSTNH) cùng một số cán bộ khác đã phát hiện ra công trường khai thác đá tại núi An Tôn Hạ (còn gọi là núi Phù Lưu). Tại khu vực mặt núi phía tây bắc đã phát hiện được 26 phiến đá được chế tác vuông thành sắc cạnh, các mặt đá đều có các dấu vết gia công. Để làm rõ hơn tính chất của công trường, tháng 11/2011, Trung tâm Bảo tồn Di sản Thành Nhà Hồ và Viện Khảo cổ học tiến hành khai quật công trường khai thác đá núi An Tôn theo quyết định số 2476/QĐ – BVHTTDL
 Núi An Tôn nằm ở phía tây của xã Vĩnh Yên, huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hóa, cách cổng Tây Thành Nhà Hồ về phía tây bắc 1,5km theo đường chim bay. Núi An Tôn có hai dãy đá vôi chạy song song và cách nhau khoảng 200m. Dãy núi phía nam  - An Tôn Thượng, tại dãy này có Hang Tượng (nay đã bị phá). Theo sự điều tra của chúng tôi thì mặt núi phía đông và phía bắc vách đá dựng đứng, không có dấu vết của dăm đá và đá cổ rơi xuống. Hiện tại, xung quanh chân núi là nhà dân.
Dãy phía bắc được gọi bằng khá nhiều tên: An Tôn Hạ, núi Phù Lưu, núi Chùa, núi Don. Mặt phía tây nam của núi hình vòng cung, quay ra cánh đồng bằng phẳng và sông Mã..
Đợt khai quật này chúng tôi mở 3 hố khai quật và một hố kiểm tra địa tầng với tổng diện tích là 355m2. Cả 3 hố đều nằm ở chân núi phía bắc của dãy An Tôn Hạ. 
1. Kết quả khai quật hố 1
Có diện tích 162 m2, sát con đường ven núi An Tôn. Địa tầng của hố 1 tương đối đơn giản và chỉ có duy nhất 1 tầng văn hóa. 
Tầng văn hóa (độ sâu 0,1m- 0,20m) là lớp đất sét vàng nhạt có nhiều đá dăm, được sử dụng như là một loại vật liệu xây dựng. Chúng được kết hợp với sét để tạo thành nền kiến trúc.
Trên mặt bằng của lớp 1 bắt đầu xuất hiện sét vàng – vết tích của nền kiến trúc và các mảnh đá dăm cổ, các cục đá vôi nhỏ có lớp patin dày, với những hình thù khác nhau tập trung thành cụm. Những lớp đá dăm được rải đều trên và dưới các lớp sét cùng 13 tảng đá lớn nằm ở khu vực giữa hố. Ngoài ra còn có 4 tảng khác nhau ở góc phía tây. 
Cũng ở bề mặt của lớp 1 còn phát hiện được một số mảnh gốm men, sành, mảnh đầu đao thời Trần – Hồ. Ngoài ra, ở khu vực giáp hố đổ rác còn phát hiện được mảnh gốm men thời Lê.
a. Di tích nền kiến trúc 

Anh-tin-bai
Toàn bộ mặt bằng của hố 1 là phần còn lại của một di tích kiến trúc, nền kiến trúc đang bị phá hủy ở thời hiện đại. Nền kiến trúc được làm từ sét vàng và mảnh đá dăm cổ được đầm kỹ, với 2 lớp đá dăm. Đây là một nền nhà tương đối rộng. Với diện tích khai quật còn hẹp, cùng với những khó khăn do các hố đào lấy đất và phần đất mà  người dân đang canh tác khiến chúng tôi không thể xác định chính xác kích thước của nền kiến trúc. Tuy nhiên qua dấu vết của lớp dăm cổ ở dưới cùng  và lớp sét vàng đắp ở trên vẫn còn tiếp tục ăn về cả 4 hướng của vách hố, chúng tôi chỉ có thể xác định được đây là một nền nhà lớn hơn nhiều so với diện tích 162m2 của hố khai quật. 
Anh-tin-bai

 

Anh-tin-bai
Anh-tin-bai

Trên bình diện và trắc diện của hố 1 xuất lộ hai lớp đá dăm và 3 lớp đất sét như sau:

+ Các lớp đá dăm cổ: 
Lớp đá dăm dưới cùng nằm ngay trên lớp sét sinh thổ, được sử dụng như một loại vật liệu xây dựng. Người ta đã tận dụng những mảnh dăm nhỏ là chủ yếu là để đầm tạo mặt phẳng làm nền nhà, bên trên lớp dăm này là lớp đất sét vàng, dày mịn, thuần. 
Lớp đá dăm trên cùng: chủ yếu là lớp dăm có kích thước nhỏ. Tuy nhiên người ta cũng sử dụng dăm và mảnh đá có kích thước lớn hơn để đầm tạo nền nhà.
+ Các lớp đất sét: Tính theo thứ tự từ dưới lên trên, dưới cùng là nền đất nguyên thổ, sét vàng đang trong quá trình laterite hóa, nên sét lẫn khá nhiều hạt sỏi son nhỏ li ti. Đây là nền đất khá vững chắc, nền đất này ngay từ đầu đã không bằng phẳng, nên ở góc phía tây nam đã được gia cố thêm đá phiến có kích thước tương đối lớn và đá dăm để tạo mặt bằng.
- Lớp đất sét 1 (dưới cùng): Bên trên nền đất gốc người ta vẫn cẩn thận đổ 1 lớp đất sét vàng mịn, thuần, dày từ 0,27m - 0,28m. Trên lớp sét 1 là lớp đá dăm 1 (lớp dăm dưới cùng) được đầm kỹ và rất phẳng. Lớp dăm dưới cùng bắt đầu từ độ sâu 2,02m - 2,03m so với code 0.
Chúng tôi đã cắt một số đoạn để quan sát lớp đất sét dưới cùng và thấy chúng không hề lẫn đá dăm, bắt đầu từ độ sâu thấp hơn 2,3m so với code 0.
- Lớp sét 2 (lớp sét ở giữa): ở độ sâu 2m so với code. Lớp này bị đào xới nên rất khó xác định được độ dày. Phần còn lại, chỉ đo được từ 0,1m - 0,15m. Bề mặt của lớp đất sét 2, cũng do bị đào xới nên bị lẫn một số mảnh đá dăm khác. Tuy nhiên căn cứ vào đáy của lớp dăm 2 dải ở bên trên, có thể xác định đây là lớp sét khá dày. 
Lớp sét 3 (lớp sét ở trên cùng): ở độ sâu 1,7m - 1,73m so với code 0, bề mặt tương đối phẳng, nhưng ở góc tây nam có 1 hố đào hình chữ nhật, sau đó được san lấp để trồng lúa. Hiện tại vẫn còn dấu vết đất sẫm màu hơn.
b. Các khối đá nằm trên nền kiến trúc
Trên bề mặt của lớp sét 3 (lớp sét trên cùng), có 15 tảng đá nguyên liệu, dăm đá kích thước lớn đã được bóc tách từ các tảng đá lớn hơn, và 1 khối đá đã được đẽo gọt hoàn chỉnh. 
Những khối đá phân bố tập trung ở hai góc tây bắc và đông nam của hố khai quật, trong đó tập trung chủ yếu ở góc phía đông nam. Cụm khối đá ở góc phía tây bắc có 4 khối đá nằm liền kề và gần nhau, và đều nằm xiên theo hướng bắc nam. Trong tổng số 4 khối thì có một khối mang có dấu vết chế tác. Khối đá màu xám trắng dài 1,3m, rộng 0,87m và dày 0,42m, khá vuông vức, lớp patin dày. Trên bề mặt và cạnh của khối đá vẫn còn lưu lại các dấu vết đục theo nhiều hướng khác nhau, có vết đục dọc, vết đục ngang và cả những vết đục xiên. Các vết đục có độ rộng trung bình 0,01m - 0,15m, sâu khoảng 0,5m - 1cm. 
Ngoài khối đá này, ở góc đông nam của hố khai quật còn có 2 khối đá vuông vức hình chữ nhật khác nằm xiên theo hướng đông tây, có các dấu vết chế tác khá cẩn thận. 
c. Hiện vật
* Hiện vật thời Trần - Hồ (thế kỷ XIII - XIV)
Hiện vật thời Trần - Hồ thu được ở hố khai quật gồm có mảnh trang trí kiến trúc, mảnh sành và hàng vạn mảnh dăm đá. 
+ Đồ sành:  có 38 hiện vật, trong đó còn nhận rõ một lon sành bị vỡ và 4 mảnh nắp vung. 
- Lon sành: chỉ còn 1 phần nhưng vẫn còn đủ chiều cao, màu xám xanh, tương đối mỏng, mịn, vành miệng kiểu cạp rổ bẹt, bản miệng bên trong thẳng, rộng và chờm ra khỏi thân. Giữa thân và miệng bên ngoài có đường lõm lòng máng nhẹ, đáy hơi choãi. Dưới lòng đáy có vết cắt nham nhở. Lòng lon để lại nhiều vết cạo sửa, đường kính miệng 16cm; đường kính đáy 16cm; cao 11,5cm. 
- Nắp vung: 4 hiện vật, đều bị vỡ, đều là nắp vung rất điển hình, phổ biến ở thời Trần. Nắp vung được chia làm 2 loại:
Nắp vung kiểu phù đồ, bị mất núm, trong và ngoài nắp vung có màu xám xanh, được làm từ chất liệu sét mịn.
Nắp vung hình chóp nón, núm nặn tay, tán bên ngoài có hai tầng. Bên trong nắp vung có các đường cạo sửa, đỉnh của tán có đường tròn do được ấn lõm bằng tay. 
Các mảnh sành vỡ hết đều có màu xám xanh, nâu nhạt hoặc hồng nhạt, trong đó màu xám xanh chiếm tỷ lệ lớn. Trong số này có 5 mảnh trang trí hoa văn sóng nước, đường chỉ nổi kết hợp đường bập vân, đường chỉ chìm.
+ Đồ đất nung: 1 đầu đao ngói bị vỡ chỉ còn lại phần mũi, gần giống với lưỡi cày, mặt cắt ngang hình chữ V. Mũi đao cong, màu đỏ gạch, được làm từ sét có lẫn hạt sỏi son, trong và ngoài có lớp phong hóa. Chiều dài còn lại 22cm, rộng nhất 19cm, dày thân 2cm. Mặt ngoài có sống, hai bên thành mũi đao vát, mỗi bên trang trí hình hoa lá cách điệu. Phong cách trang trí giống với những đầu đao đã phát hiện hiện ở Thành Nhà Hồ và đàn Nam Giao…
+ Đồ đá  gồm:
- Mảnh đá mài, bị vỡ nhỏ, màu nâu nhạt, làm từ loại đá cát kết, một mặt có vết mài  lõm. Kích thước còn lại dài 5cm, rộng 4cm, dày 1,5cm.
-  Mảnh đá dăm cổ: Tại hố 1 đã phát hiện được hàng vạn mảnh đá dăm, song chúng tôi chỉ thu về một số mảnh đá dăm tiêu biểu để thống kê kích thước và phân loại chúng. 
Căn cứ và chiều dài của mảnh đá dăm, chúng tôi tạm chia đá dăm ra làm 3 loại:
- Đá dăm kích thước lớn: có chiều dài từ 15cm trở lên, loại trung bình dài từ 10cm - 14,9cm, loại nhỏ dài dưới 10cm.
* Hiện vật thời Lê
+ Gốm men: 10 mảnh, gồm: 
-  Đồ gốm men thế kỷ XV - XVI: Có 2 mảnh đế bát, men trắng đục, chân đế cúp, tương đối cao, xương gốm xốp, vành đế cạo men, ve lòng, lớp men mỏng, có vết rạn, đường kính đế 4cm - 6cm.
- Đồ gốm men thế kỷ XVII - XVIII: Có 3 mảnh men trắng vẽ lam. Hai mảnh vỡ khá nhỏ, rất khó xác định loại hình. Mảnh còn lại là đế của 1 chiếc đĩa đáy thụt, thành loe ngả, giật cấp, ve lòng, giữa lòng có vẽ lam nhạt hình xoắn ốc, lòng phủ men trắng xanh, hầu hết thân bên ngoài không được tráng men. 
Có 5 mảnh (3 mảnh miệng, 2 mảnh thân) thuộc loại gốm có vành miệng ngoài có đường chỉ lam, men trắng đục, xương gốm màu nâu đỏ. Đây là mảnh của loại bát “chỉ lam” do lò Bát Tràng sản xuất ở thế kỷ XX.
+ Đồ sành: Đồ sành thế kỷ XV - XVI có 18 mảnh, đồ sành thế kỷ XVII - XVIII có 7 mảnh, đều là của 1 cá thể. Đây là mảnh của lọ sành, đáy thót, màu nâu đỏ. Bên trong có nhiều đường vuốt tay, không được cạo sửa cẩn thận, để lại nhiều vết lõm sâu.
Những mảnh đồ sành thời Trần - Hồ tìm được ở hố 1 nằm lẫn với các mảnh đá dăm cổ. Hiện vật thời Lê nằm trên bề mặt lớp 1 hoặc ở lớp mặt, trong đống mà người dân làm ruộng vứt lên. Những mảnh gốm men thế kỷ XX tìm thấy trong lớp đất xáo trộn trong hố rác.
Chính vì sự có mặt của những mảnh đồ dùng sinh hoạt thời Trần - Hồ nằm trong địa tầng có chứa những mảnh dăm đá cổ nên có thể kết luận những mảnh đá dăm cổ này có niên đại thời Trần - Hồ.
Về mảnh đá mài, đây là loại đá giống như đá cùng loại vẫn thường phát hiện được ở thời Lý - Trần. Đối với công trường khai thác đá thì việc có những đá mài để mài dụng cụ để đục đá thường là rất phổ biến.
2. Kết quả khai quật hố 2
Hố 2 hình chữ nhật, diện tích 94,5m2 (13,5m x 7m), nằm ở khoảng giữa của chân núi của dãy An Tôn Hạ, vách phía bắc cách chân núi 18m, phía nam giáp con đường đi dưới chân núi và cánh đồng trồng rau màu (thung Thắng Hào).
Hố 2 cách hố 1 về phía tây là 115m, cách hố 3 về phía đông là 21,5m và cách hố kiểm tra 4 về phía bắc 8,7m. Mặt bằng của hố dốc theo chiều từ bắc xuống nam  theo triền núi, với độ cao chênh lệch của vách bắc so với vách nam (vách bắc ở trên, vách nam ở dưới) là 2,72m. Về cơ bản mặt bằng hố ở phía bắc tương đối nguyên vẹn. Bề mặt của hố trước khi khai quật có nhiều cây và cỏ dại, cùng với một số khối đá gốc (khối số 16, 17, 22, 23, 24), một số khối đá được chế tác hoàn chỉnh (khối 1, 2, 3, 4), ngoài ra còn có một số khối đá mới ở góc phía đông do người dân nổ mìn phá đá làm đổ xuống. 
Tóm lại đây là hố có địa hình khá phức tạp với nhiều độ cao khác nhau. Điểm đáng chú ý là vị trí của hố nằm sát với chân ngọn núi Gấm nơi mà người ta khai thác đá cách đây không lâu. Chính vì vậy trên bề mặt của hố còn có lớp đá dăm vụn và một số tảng đá mới đổ xuống. Lớp đá dăm hiện đại và cỏ dại  mọc bên trên dày trung bình từ 0,1m - 0,15m.
+ Lớp mặt: (độ sâu 0m - 0,1m): Dày trung bình 0,1m - 0,15m, độ dày càng lớn hơn về phía vách núi. Lớp  mặt chủ yếu là đá dăm hiện đại, đất mùn, xốp và màu nâu đen, cùng với  khá nhiều gốc cây dại. Do quá trình múc đất lên, đã làm xuất lộ đất lẫn ít mảnh dăm cổ nhưng số lượng không nhiều. Lớp dăm mới chủ yếu ở dạng củ đậu, không có lớp patin. 
+  Lớp 1 (Dày trung bình từ 0,1m - 0,15m):  Độ sâu của lớp 1 ở góc phía bắc cao hơn 1,47m, so với Code 0 giả định; góc phía nam thấp hơn 0,87m, ở góc phía đông thấp hơn 1,25m, góc tây cao hơn 1,14m. Do phải bảo tồn di tích, chúng tôi chỉ đào xuất lộ lớp đá dăm và các khối và tảng đá cổ nên chỉ dừng lại ở bề mặt của lớp 1. Tuy nhiên để kiểm tra độ dày của lớp đá dăm, chúng tôi đã cắt một số đoạn có lớp đá dăm cổ dày để kiểm tra, trên cơ sở lợi dụng những vách hố đào lấy đất của người dân. Ở bề mặt của lớp 1 đã phát hiện được những di vật như sau: 
- Một số mảnh gốm men, mảnh sành, mảnh gạch ngói, dấu vết của những đồ dùng sinh hoạt và vật liệu kiến trúc thời Trần - Hồ. 
- Trong lớp đất xáo trộn (ngoài lớp sét vàng đắp nền) ,còn tìm thấy một số mảnh sành, mảnh đế bát thành xiên, men trắng vẽ  lam, sản phẩm cùa lò Hợp Lễ (thế kỷ XVIII). 
- 31 tảng đá, trong đó có 4 khối đá có dấu vết chế tác cổ, 5 khối đá gốc, còn lại là những khối đá mới được lăn xuống do quá trình người ta khai thác đá trong thời gian gần đây.
- Do bị đào xới, nên mặt bằng của lớp 1 lồi lõm, có những chỗ tạo thành hố sâu hơn 1m. Rất nhiều mảnh đá dăm cổ đã bị lấy đi cùng đất, tuy nhiên lượng đá dăm còn lại trên bề mặt hố cũng khá nhiều, có chỗ dày tới 1,4m.
a. Các cụm đá dăm cổ
Toàn bộ mặt bằng lớp 1 chúng tôi tạm chia ra làm 8 cụm đá dăm cổ nằm tương đối tập trung, mật độ dày đặc. Tuy nhiên giữa các cụm vẫn có những khoảng đất trống. Mật độ của đá dăm trong các cụm không giống nhau, cụm nhiều, cụm ít, một số cụm phân bố dày đặc, nơi đá dăm dày nhất tập trung chủ yếu ở phần giữa hố.
b. Các khối đá có vết đục và chế tác
Tại  hố 2, chúng tôi đã phát hiện được 31 tảng đá. Dưới đây là một số khối và tảng đá tiêu biểu: 
- Khối đá 11.AT.H2:01: Nằm ở sát góc phía tây. Khối này đã được Trung tâm Bảo tồn Di sản Thành Nhà Hồ phát hiện vào tháng 7/2011, số  đăng ký là 06.TNH. Khối đá đã được chế tác gần như hoàn chỉnh, hình khối hộp chữ nhật, các cạnh vuông vức. Trừ một mặt nằm đè lên dăm cổ chúng tôi chưa quan sát được, 5 mặt còn lại đều có vết “đục vỉa” (đục lấy mặt phẳng). Dụng cụ đục có đầu nhọn, rất sắc. Theo các thợ làm đá ở đây thì để tạo khối, người ta dùng đục nêm (có nơi gọi là đục bạt), lưỡi dẹt, có kích thước lớn hơn đục vỉa. Để tạo mặt phẳng, người ta sử dụng kỹ thuật đục vỉa. Dụng cụ là một đục sắt, mũi nhọn. Kỹ thuật phải đục nhẹ. Người ta có thể đục theo chiều ngang từ ngoài vào để tránh thớ của tảng đá, đục theo hàng lối. Quan sát các vết đục ở trên khối đá, chúng tôi đo và thấy các vết đục chỉ sâu khoảng 0,3cm, rộng 1cm và đục theo chiều ngang (thớ đá theo chiều dọc). 
Khối đá có màu xanh xám, mặt trên bị rêu phong màu xám đen, nằm xiên theo chiều bắc nam và nằm đè lên một lớp đá dăm nhỏ dày 0,1m. Điều đó chứng tỏ là ngay từ thời Hồ nó đã nằm ở vị trí này. Đáy của khối đá nằm sâu so với mặt đất núi là 0,3m. Đầu phía nam của khối đá bị vỡ hai góc. Một cạnh phía bắc bị sứt, lộ ra màu lớp đá tím (thợ làm đá gọi là đá gân gà, loại đá này rất dễ bị vỡ khi đục).
Khối đá dài 1,84m, rộng 0,8m, cao 0,77m. Nằm cao hơn 2,1m so với Code 0 giả định.
- Khối đá 11.AT.H2:02: Nằm cách khối đá số 1 là 1,70m về phía nam. Đây là loại đá vôi có gân gà, màu xanh. Khối đá có hình gần với hình chữ nhật, có thể là đang tạo tác dở. Còn hai cạnh có dấu vết đục. Các cạnh còn lại tương đối vuông vức. Khối đá bị lật úp nên mặt dưới không thể kiểm tra được. Mặt trên có nhiều vết lõm, do mưa nắng bào mòn, đường kính khoảng 0,30m. Nhiều khả năng khối đá được đục dở thì bị vỡ nên người ta bỏ lại.
Khối đá nằm xiên theo chiều bắc nam và 1 mặt đáy bị lấp dưới lớp đá dăm. Một mặt cạnh còn lưu lại vết đục vỉa theo chiều chéo. Đường kính của mũi đục rộng từ 0,7cm – 1cm. Vị trí cao nhất của khối đá là 0,78m, vị trí thấp nhất là 0,49m so với Code 0 giả định, dài nhất 1,2m, rộng nhất 1,04m. Khối đá này được phát hiện mới trong quá trình khai quật.
- Khối đá 11.AT.H2:03: Không có các thớ ngang dọc (các thợ đá gọi là đá nạc), nằm cách vách phía nam 3m về phía bắc, có thể không nằm ở vị trí ban đầu mà bị xê dịch đến vị trí hiện tại do quá trình đào đất của người dân bởi một đầu của khối đá bị gối lên khối đá mới được đánh cách đây vài chục năm. Khối đá có hình chữ nhật, một góc bị mất và một góc bị nứt. Vết nứt là vết cũ, nên có thể vì lý do đó mà nó bị bỏ lại. Đá có màu xanh nhạt, tất cả các bề mặt đều có lớp patin. Mặt trên và 4 cạnh tương đối phẳng, mặt dưới lồi lõm, có thể là đang chế tác dở. Mặt trên và 4 cạnh có vết đục vỉa, tuy nhiên các vết đục  này thưa, ít. Điều đó chứng tỏ khối đá trước khi được tạo tác đã tương đối phẳng. 
Khối đá nằm theo hướng bắc nam, dài 0,97m, rộng 0,83m, dày 0,46m, nằm thấp hơn 0,43m so với Code 0 giả định.
Về cơ bản, kết quả khai quật ở hố 2 đã mang lại nhận thức quan trọng như sau:
- Trước hết, tại hố khai quật đã phát hiện được 4 khối đá có dấu vết chế tác, trong đó có 3 khối còn nằm nguyên ở vị trí ban đầu. Đặc biệt phải kể đến khối đá có kí hiệu 11. AT.H2: 1, với những đường đục vỉa điển hình rất giống với vết đục trên khối đá tường Thành Nhà Hồ. Đáng lưu ý là mặt dưới của khối đá còn đang đè lên mặt lớp dăm cổ mỏng, từ việc đục tách tạo mặt phẳng và góc cạnh, là những bằng chứng cho thấy tại công trường này không chỉ là nơi khai thác nguyên liệu mà còn là nơi chế tác đá tại chỗ hoàn chỉnh trước khi chuyển về thành. 
- Mặc dù đã bị lấy đi khá nhiều đá dăm nhưng cũng tại hố 2 vẫn còn lớp đá dăm cổ khá dày, có chỗ dày tới 1,4m. Sự có mặt của các cụm đá dăm cổ với mật độ dày đặc đã phần nào gián tiếp phản ánh số lượng lớn của những khối đá được tạo tác ở đây.
c. Hiện vật thời Trần - Hồ
Ngoài những mảnh đá dăm cổ thì ở hố 2 còn phát hiện được những mảnh đồ dùng sinh hoạt thời Trần  - Hồ.
+ Đồ sành
Tại hố 2, đã phát hiện được 3 viên đáo gốm hình tròn, được làm từ các mảnh đồ sành bị vỡ và 6 mảnh sành thời Trần - Hồ. 
+ Đồ gốm men:  2 mảnh ( 1 mảnh gốm men ngọc và 1mảnh gốm men trắng ngà).
+ Đồ đá: Có được hàng vạn mảnh đá dăm, xong chúng tôi chỉ thu về một số mảnh đá dăm tiêu biểu, với 3 loại như ở hố 1.
d. Hiện vật thời hậu Lê (thế kỷ XVIII): Có 1 mảnh đế bát, ký hiệu men trắng nhờ vẽ lam, là sản phẩm của lò Hợp Lễ, ve lòng, lòng bát vẽ vòng tròn xoắn không khép kín bằng màu xanh lam nhạt. Mảnh đế bát này được phát hiện ở bề mặt lớp 1, có thể bị xáo trộn từ lớp mặt xuống
3. Kết quả khai quật hố 3
Hố 3 nằm ở khoảng giữa ngọn núi Lũng và ngọn núi Gấm. Đây là khoảng rộng nhất của sườn núi phía nam. Cũng chính vì đây là hẻm núi có đường đi qua nên không bị ảnh hưởng của việc nổ mìn phá đá. So với các hố khác, hố 3 được hoạch định ở sát chân núi nhất. Hố hình chữ nhật, nằm theo chiều đông tây, lệch bắc 600, diện tích 97,5m2 (bắc nam 6,5m, đông tây 15m), cách 14m so với vách núi về phía bắc, cách hố 2 là 21,5m , cách hố 1 là 145m về phía tây. Hố nằm theo chiều dốc từ tây bắc – đông nam, phần cao nhất là phía tây bắc (hẻm núi). 
Với việc mở hố 3, chúng tôi có thể kiểm tra được tầng đá gốc ở dưới chân núi và cũng kiểm tra được địa tầng của lớp đá dăm cổ. Xung quanh hố 3 có rất nhiều tảng đá gốc nhô lên bề mặt sườn núi. Bề mặt của hố  có khá nhiều tảng đá cổ với tính chất là đá nguyên liệu được khai thác từ dải đá vôi liền kề. 
Với bề mặt có nhiều tảng đá mới và cổ đè lên, nên bề mặt của hố 3 có nhiều chỗ bị chia cắt. Việc này gây khó khăn không ít trong việc khai quật, nhưng hiệu quả của nó cũng không hề nhỏ bởi những khoảng trống hẹp giữa những tảng đá đã đảm bảo tính nguyên vẹn, không hề có hố đào, rất thuận lợi cho việc nghiên cứu địa tầng.
Mặt bằng hố trước khi khai quật có nhiều cây, cỏ dại phủ kín. Ở đây có quá nhiều rễ cây mọc ở kẽ đá lên nên tạo thành nhiều hốc mùn lẫn với đá dăm nhỏ. 
- Lớp mặt (độ sâu từ 0m - 0,05m): đây là khu vực ít chịu ảnh hưởng của việc nổ mìn phá đá nên đá dăm hiện đại có rất ít ở trên bề mặt. Cũng ở lớp mặt, đã thấy xuất hiện một số viên đá dăm cổ. Những mảnh dăm cổ có patin phủ kín tất cả các mặt và cạnh. Ở lớp mặt chúng tôi không gặp những mảnh của dụng cụ sinh hoạt thời Trần - Hồ.
- Lớp văn hóa (độ sâu 0,05m - 0,2m): Đất màu nâu sẫm, xốp, lẫn nhiều mùn, dày từ 0,05m – 0,20m. Có một điều rất đặc biệt là toàn bộ những viên đá mới do đánh mìn đổ xuống mặt hố đều nằm trên lớp đất mùn này. Chân của những viên đá cổ thì lại nằm đè trực tiếp lên lớp đá dăm cổ (không có lớp đất mùn). Khe của các tảng đá cổ cũng có rất nhiều mảnh dăm cổ, hoàn toàn không có dăm hiện đại. Lớp đất màu nâu của lớp 1 rất thuần, đó chính là lớp đất bị rửa trôi từ phía trên đỉnh núi xuống.
a. Các cụm đá dăm cổ
Trong hố 3 với diện tích 97,5m2 chúng tôi phát hiện được 5 cụm đá dăm cổ, phân bố dày đặc, với những mảnh dăm có kích thước và hình dạng khác nhau. Những lớp dăm này nằm xen kẽ giữa các tảng đá gốc và những tảng đá cũ được lăn xuống, có cấu tạo như là một lớp trung gian để ngăn cách và phân biệt giữa những tảng đá gốc nằm bên dưới và những tảng đá cũ lăn xuống đè lên lớp dăm. Những cụm và lớp dăm này chủ yếu có  màu trắng đục và hơi ngả vàng, một phần trải qua thời gian chúng bị vôi hóa, một phần do nằm lâu trong đất do dưới sự tác động của ôxit sắt mà chúng có màu sắc như vậy. Qua kiểm tra chúng tôi thấy lớp dăm dày trung bình 0,60m - 1m. 
- Phần đá dăm trên bề mặt hố: Cụm dăm phân bố ở phần dưới chân núi, nằm xiên theo hướng đông tây, nằm liền với vách hố gần với cụm đá góc đông bắc của hố. Cụm đá này có độ dốc khá lớn, trải rộng theo triền núi. Các mảnh dăm trong cụm có kích thước phổ biến là (8,5x17x0,77)cm; (13x8x5)cm, (0,03x0,15x0,01)m. Những mảnh dăm dẹt và có hình múi cam, hình tam giác, hình chữ nhật… được phủ lớp patin mỏng.
- Phần đá dăm trên vách: Lớp đá dăm này cũng có đặc điểm tương tự với cụm dăm 1 trên bề mặt. Đất trên vách có màu nâu xám, hơi đỏ. Nằm theo triền dốc và trải theo hướng từ tây sang đông, mỏng dần về phía tây và dày hơn ở phía đông (phần giáp với vách đông của hố). Hiện tượng này là do bề mặt của triền núi, càng xuống gần chân núi có độ dốc càng lớn, một phần do ban đầu bề mặt núi ở dưới chân núi đoạn này hơi lõm xuống, chính vì lẽ đó mà lớp dăm càng xuống phía chân núi càng dày hơn. Bên cạnh những mảnh dăm có kích thước lớn còn có rất nhiều mảnh dăm vụn nhỏ như vỏ trấu và hạt đậu. Đá dăm ở đây chủ yếu có màu trắng đục, được phủ một lớp patin dày. Những mảnh dăm này có kích thước: (27x13x12)cm; (10x10x3)cm; (4,5x2x1)cm và còn có rất nhiều mảnh nhỏ li ti. 
b. Các tảng đá trong hố 3
Hố 3 phát hiện tất cả 50 tảng đá, được phân làm 3 loại: đá bị đổ do đánh mìn, đá cổ được lăn xuống  trong quá trình khai thác đá và đá gốc.
- Các tảng đá mới đổ xuống do nổ mìn: có 7 tảng.
 - Các tảng đá cổ được lăn xuống trong quá trình khai thác gồm 22 tảng đá, phân bố rải rác trên bề mặt hố, có nhiều hình dạng khác nhau như: hình gần vuông, hình tròn hoặc hình bầu dục, hình núi… Những tảng đá này có kích thước khá lớn, chúng đều nằm đè lên lớp đá dăm cổ. Trên bề mặt đá đều phủ một lớp patin mỏng, hầu hết màu xám xanh và xám đen, một số tảng có những vết thớ chạy ngang thân, những tảng khác có những lỗ trong nhỏ trên bề mặt được tạo ra trong quá trình phong hóa qua thời gian hàng trăm năm. Các tảng đá tập trung chủ yếu trên bề mặt hố, chỉ có một số ít trước kia chắc cũng nằm trên bề mặt nhưng do quá trình người dân lấy đất nên đá lăn xuống gần với đá gốc.
4. Một vài  nhận định
Từ kết quả khai quật tại công trường khai thác đá núi An Tôn, chúng tôi tạm rút ra kết luận như sau:
4.1. Về niên đại
- Qua những hiện vật là đồ dùng sinh hoạt thường ngày bị vỡ được phát hiện trong các hố khai quật như: mảnh gốm men, mảnh sành, mảnh gạch  ngói, đầu đao… có niên đại sớm nhất là thời Trần - Hồ. Những di vật này nằm cùng với địa tầng có các lớp đá dăm cổ, đó là các đồ dùng sinh hoạt mà các thợ khai thác đá để lại.
- Từ việc so sánh dấu vết kỹ thuật được chế tác trên các khối đá, so sánh kích thước, hình dạng của các khối đá có dấu vết chế tác đã phát hiện trong các hố khai quật cho thấy chúng hoàn toàn trùng khớp với kích thước và dấu vết chế tác của các khối đá xây ở tường Thành Nhà Hồ. Đặc biệt là, lớp patin trên đá đã chứng tỏ niên đại cổ xưa của các khối đá. Các khối đá được chế tác tương đối hoàn chỉnh phát hiện được ở trong các hố khai quật hầu hết đều có dạng khối hộp chữ nhật, thường có 5 mặt được chế tác cẩn thận, phẳng phiu, chỉ có 1 mặt được chế tác sơ sài. Mặt này sẽ được xếp quay về phía bên trong tường thành. Điều này hoàn toàn phù hợp với những khối đá hiện thấy trong các đoạn tường thành nhà Hồ.
- Theo truyền thuyết, ven chân núi An Tôn Hạ, vốn là khu vực ngay từ thời Trần - Hồ đã có làng mạc, chuyện kể về việc dân làng bị trừng phạt vì làm chết voi của nhà Hồ. Về mặt khoảng cách thì dãy núi An Tôn là nơi gần thành nhà Hồ nhất và địa hình cũng thuận lợi cho việc khai thác và vận chuyển.
Qua những chứng cứ trên, có thể khẳng định An Tôn là công trường khai thác đá cổ thời Trần - Hồ.
4.2. Các lớp dăm cổ với địa tầng rõ ràng, có chỗ dày tới 1,4m, diện phân bố lan rộng khắp sườn và chân núi phía nam đã cho thấy đây là một công trường khai thác đá lớn. 
4.3. Điều tra kinh nghiệm của các thợ làm đá ở khu vực này
, chúng tôi được biết thêm những thông tin rất bổ ích. Những người thợ làm đá ở đây cho biết, đá ở khu vực này có các loại: đá lớp (đá có nhiều thớ ngang, khi chế tác dễ bị bong, tách, vỡ), đá xanh nạc (đá không có thớ khi chế tác không bị gãy, tách). Tùy theo các loại đá và mục đích sử dụng  để chọn loại đá cho phù hợp. Bên núi An Tôn Hạ, đá lớp có khe giáp ranh khá lớn, dễ tách, vách đá thoải, đá mềm, dễ tạo tác nên được chọn để làm đá xây thành.
Theo các thợ đá ở đây thì việc chuyển đá từ trên núi xuống hoàn toàn làm thủ công. Người thợ đẩy khối đá được khai thác từ mỏ đá trên núi xuống. Những khối đá lớn có thể được đẩy vỡ thành các khối đá nhỏ hơn. Người ta có thể sử dụng dốc đất theo triền núi để chuyển hoặc tận dụng các cây gỗ lớn để trượt đá. 
Việc phát hiện được nhiều khối đá đã được chế tác hoàn chỉnh nhưng không rõ vì lý do nào đó mà chúng chưa được vận chuyển đi, điều đó chứng tỏ núi An Tôn không chỉ là nơi khai thác đá mà còn là công trường chế tác đá tương đối hoàn chỉnh để xây thành Nhà Hồ. Qua các đoạn tường thành bị đổ chúng tôi quan sát được, đất nhồi bên trong tường đá cũng có rất nhiều dăm đá cổ. Trong đợt khai quật di tích đường Hòe Nhai chúng tôi cũng tìm được khá nhiều đục bằng sắt. Những điều này cho thấy, mặc dù những khối đá đã được chế tác tương đối hoàn chỉnh từ các công trường khai thác đá và được vận chuyển về đến tòa thành, thì chúng vẫn phải được gọt đẽo để phù hợp với vị trí mà nó được đặt vào. Không ít trường hợp ở tường thành phía tây đã có những khối đá được cắt khấc để khớp với những viên đá nối tiếp nó. Tuy nhiên, việc chế tác hoàn chỉnh hoặc tương đối hoàn chỉnh những khối đá to sẽ giảm bớt trọng lượng không cần thiết khi vận chuyển.
4.4. Việc mở các hố kiểm tra địa tầng (nền đất) của khu vực xung quanh núi An Tôn đã gợi mở khả năng tìm hiểu cách vận chuyển đá từ công trường về xây thành Nhà Hồ. Như đã trình bày ở trên, tại hố kiểm tra 4, rãnh kiểm tra ở hố khai quật 1 và ở khu vực khai thác đất để đóng gạch của người dân ở khoảng giữa của 2 dãy núi An Tôn Thượng và An Tôn Hạ đều cho thấy một nền đất cứng rắn là lớp sét bị đá ong hóa nằm ngay dưới của lớp đất mùn hoặc lớp đất pha cát bị rửa trôi từ phía núi xuống. Từ đây, chúng tôi hướng đến giả thuyết về việc vận chuyển đá đến thành nhà Hồ bằng con đường bộ. Truyền thuyết ở vùng này cũng cho rằng có một con đường đá nối công trường khai thác đá qua làng Tây Giai đến thành nhà Hồ. Điều này có thể đúng nếu như đá được vận chuyển để xây cổng thành phía nam. Nhưng để xây cổng thành phía tây và phía bắc thì không ổn vì phải đi xa hơn. Người dân ở đây cho biết còn có một con đường nữa đi từ chân núi An Tôn Thượng qua nghĩa trang là đến thẳng tường thành phía tây bắc và tây nam.
Những giả thuyết này cần được kiểm chứng bằng các cuộc khai quật khảo cổ học. Tuy nhiên, với khoảng cách từ núi An Tôn đến thành nhà Hồ thì việc vận chuyển đá bằng đường bộ có vẻ là hợp lý nhất. Nhưng con đường vận chuyển nằm ở đâu thì đó lại là vấn đề khác.

EXCAVATION OF WORKSHOP WHERE ROCKS WERE EXPLOITED FOR CONSTRUCTION OF THÀNH NHÀ HỒ AT AN TÔN MOUNTAIN
Trần Anh Dung, Lưu Văn Phú, Nguyễn Văn Long
At the end of 2011, Việt Nam Institute of Archaeology conducted an excavation at the area at An Tôn Mountain 1.5 km away from the west gate of Thành Nhà Hồ, where rocks were exploited. In the excavated area, we found refined block of rocks, old strengthening layers of macadam, architectural traces of foundation and glazed potshards and earthenware. 
These blocks of rock share the same size and form as the ones used to build Thành Nhà Hồ. The strengthening layers of macadam are fairly thick, demonstrating that the area at An T«n mountain was a workshop for exploiting and refining rocks on a large scale. The glazed potshards and earthenware found in the old layers of macadam indicate that this workshop was from the Trần – Hồ periods.
The found traces of a road tightly rammed with clay and macadam in this area enable an assumption that transportation of those huge rocks from the workshop to the south gate of  Thành Nhà Hồ was done by road.

Trần Anh Dung, Lưu Văn Phú, Nguyễn Văn Long
Nguồn bài viết: Trang Thông tin điện tử Viện Khảo cổ học
Tin xem nhiều
Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tất cả: 1