Quan điểm của Alvin Toffler về vai trò của tri thức đối với lực lượng sản xuất trong tác phẩm “Làn sóng thứ ba” và những giá trị tiếp cận ở Việt Nam hiện nay
Trong tác phẩm “Làn sóng thứ ba”, Alvin Toffler tiếp cận lịch sử phát triển xã hội như sự vận động của các làn sóng văn minh, trong đó tri thức, khoa học - công nghệ, truyền thông và thông tin giữ vai trò nền tảng, tạo động lực cho sự chuyển biến của lực lượng sản xuất và sự phát triển của xã hội. Bài viết của TS. Dương Thị Hương và TS. Ngô Thị Tân Hương, đăng trên Tạp chí Thông tin Khoa học xã hội số 3 năm 2026, tập trung phân tích quan điểm của Alvin Toffler về vai trò của tri thức đối với lực lượng sản xuất trong tác phẩm “Làn sóng thứ ba”, đồng thời đối chiếu với thực tiễn phát triển ở Việt Nam nhằm làm rõ những giá trị tham khảo đối với quá trình phát triển lực lượng sản xuất, đáp ứng yêu cầu đổi mới mô hình tăng trưởng, phát triển kinh tế tri thức và kinh tế số trong giai đoạn hiện nay.

Ảnh
minh họa: Bìa sách Làn sóng thứ ba của Alvin Toffler
Trọng tâm nghiên cứu của
hai tác giả trước hết tập trung vào việc bóc tách hạt nhân hợp lý trong tư
tưởng của nhà tương lai học Alvin Toffler qua tác phẩm kinh điển “Làn sóng thứ
ba”. Toffler chỉ ra rằng, khi nhân loại bước sang nền văn minh hậu công nghiệp,
tri thức không còn là một yếu tố phụ thuộc mà đã trở thành tư liệu sản xuất bậc
nhất, chi phối toàn bộ cấu trúc tạo ra của cải. Ở phương diện người lao động,
mô hình này “khai tử” lợi thế của nhân công giá rẻ thô sơ để tôn vinh những
“công nhân trí óc” giàu sáng kiến, tháo vát và có năng lực tự học liên tục. Ở
phương diện tư liệu sản xuất, tri thức đóng vai trò là công cụ lao động trực
tiếp, giúp con người vượt qua giới hạn của tài nguyên hữu hạn để “tạo ra từ
không thành có” thông qua công nghệ vi xử lý, vật liệu siêu dẫn và các nguồn
năng lượng tái tạo. Để vận hành lực lượng sản xuất mới này, Toffler nhấn mạnh,
các quốc gia bắt buộc phải sở hữu 3 bệ đỡ chiến lược: một cuộc cách mạng giáo
dục hướng đến năng lực tự thích ứng, chính sách thu hút nhóm nhân tài ưu tú, và
một hạ tầng thông tin hiện đại được ví như “hệ thần kinh điện tử” quyết định sự
sinh tồn của một nền kinh tế.
Trên cơ sở phân tích
những luận điểm cốt lõi trong tư tưởng của Alvin Toffler, hai tác giả làm rõ
vai trò ngày càng nổi bật của tri thức đối với sự phát triển của lực lượng sản
xuất trong nền văn minh hậu công nghiệp. Theo Toffler, khi nhân loại bước sang
nền văn minh hậu công nghiệp, tri thức không còn là một yếu tố hỗ trợ mà đã trở
thành nguồn lực sản xuất trực tiếp, giữ vai trò quyết định trong việc tạo ra
của cải và nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế. Ở phương diện người
lao động, tri thức làm thay đổi căn bản yêu cầu đối với nguồn nhân lực, khi lợi
thế cạnh tranh không còn dựa chủ yếu vào lao động giản đơn hay chi phí nhân
công thấp mà chuyển sang năng lực sáng tạo, khả năng thích ứng và học tập suốt
đời của người lao động. Theo đó, lực lượng “công nhân trí óc” với trình độ
chuyên môn, kỹ năng và năng lực đổi mới sáng tạo trở thành nhân tố trung tâm
của nền sản xuất hiện đại. Ở phương diện tư liệu sản xuất, tri thức không chỉ
là nguồn lực hỗ trợ mà còn trở thành công cụ lao động trực tiếp, mở rộng khả
năng khai thác và sáng tạo các nguồn lực mới thông qua sự phát triển của công
nghệ vi xử lý, vật liệu mới và các nguồn năng lượng tái tạo. Để vận hành hiệu
quả mô hình lực lượng sản xuất này, Alvin Toffler cho rằng, mỗi quốc gia cần
xây dựng ba nền tảng có ý nghĩa chiến lược, gồm: đổi mới căn bản giáo dục theo
hướng phát triển năng lực tự thích ứng; xây dựng chính sách phát hiện, thu hút
và phát huy đội ngũ nhân tài; đồng thời phát triển hạ tầng thông tin hiện đại
như một “hệ thần kinh điện tử” của nền kinh tế.
Đối chiếu những luận điểm
trên với thực tiễn Việt Nam, nhóm tác giả chỉ ra rằng, quá trình phát triển lực
lượng sản xuất vẫn còn nhiều điểm nghẽn cần tiếp tục tháo gỡ. Về nguồn
nhân lực, mặc dù quy mô lực lượng lao động đạt khoảng 53 triệu người vào
năm 2024 và tỷ lệ lao động qua đào tạo tiếp tục có xu hướng tăng, đạt 28,1%
trong quý II năm 2024, chất lượng nguồn nhân lực vẫn còn nhiều hạn chế. Tình
trạng mất cân đối giữa cơ cấu đào tạo và nhu cầu của thị trường lao động vẫn
diễn ra khá phổ biến, thể hiện qua hiện tượng “thừa thầy, thiếu thợ”, khi tỷ lệ
người có trình độ đại học trở lên gặp khó khăn trong tìm kiếm việc làm luôn cao
hơn nhóm lao động trình độ trung cấp, cao đẳng. Điều này phản ánh sự chưa đồng
bộ giữa chương trình đào tạo với nhu cầu thực tiễn của thị trường, đồng thời
cho thấy quá trình chuyển dịch sang nền kinh tế dựa trên công nghệ và tri thức
còn diễn ra chậm, chưa tạo được sức hấp thụ tương xứng đối với nguồn nhân lực
chất lượng cao. Ngoài ra, lao động Việt Nam vẫn còn thiếu hụt các kỹ năng số cơ
bản so với nhiều quốc gia trong khu vực.
Về tư liệu sản xuất, phần lớn doanh nghiệp
trong nước vẫn sử dụng công nghệ ở mức trung bình hoặc lạc hậu so với mặt bằng
chung của thế giới; hoạt động sản xuất chủ yếu tập trung vào gia công, lắp ráp
với giá trị gia tăng chưa cao và còn phụ thuộc đáng kể vào nguồn nguyên liệu
nhập khẩu. Sau gần 40 năm Đổi mới, tăng trưởng kinh tế của Việt Nam vẫn chủ yếu
dựa vào vốn đầu tư và khai thác tài nguyên, trong khi vai trò của khoa học,
công nghệ và tri thức với tư cách là động lực trực tiếp của tăng trưởng vẫn
chưa được phát huy đầy đủ.
Để hiện thực hóa mục tiêu
đưa đất nước bước vào kỷ nguyên mới dưới tác động của Cách mạng Công nghiệp lần
thứ tư, bài viết đề xuất 04 nhóm giải pháp chiến lược nhằm hiện đại hóa lực
lượng sản xuất của Việt Nam theo xu thế “Làn sóng thứ ba”. Một là đổi
mới giáo dục và đào tạo: chuyển dịch mạnh mẽ từ việc truyền thụ kiến thức
sang phát triển toàn diện năng lực sáng tạo, khả năng tự thích ứng và tư duy
đổi mới. Đưa kỹ năng số và trí tuệ nhân tạo vào hệ thống giáo dục quốc dân,
đồng thời gắn kết chặt chẽ giữa nhà trường và doanh nghiệp để đào tạo nguồn
nhân lực chất lượng cao theo chuẩn quốc tế. Hai là thúc đẩy hệ sinh
thái đổi mới sáng tạo quốc gia: khuyến khích nghiên cứu khoa học, chuyển
giao công nghệ và thương mại hóa sản phẩm ngay trong các trường đại học. Đặt
doanh nghiệp làm trung tâm của hệ thống đổi mới sáng tạo, tăng cường đầu tư
ngân sách và huy động các nguồn lực xã hội cho các lĩnh vực công nghệ cao, tự
động hóa, trí tuệ nhân tạo. Ba là hiện đại hóa hạ tầng thông tin và
viễn thông: ưu tiên xây dựng hạ tầng số tốc độ cao, mở rộng phủ sóng 5G và
tiến tới 6G. Từng bước làm chủ các công nghệ chiến lược như dữ liệu lớn (Big Data),
Internet vạn vật (IoT) và điện toán đám mây để tạo lập “hệ thần kinh điện tử”
cho nền kinh tế số. Bốn là xây dựng cơ chế, chính sách về dữ liệu:
xác lập dữ liệu là một nguồn tư liệu sản xuất mới và quan trọng. Hoàn thiện
khung pháp lý về quyền sở hữu, chia sẻ và bảo mật dữ liệu, đồng thời phát triển
thị trường giao dịch dữ liệu nhằm tạo động lực cho sự phát triển bền vững dựa
trên tri thức.
Có thể thấy, bài viết của
TS. Dương Thị Hương và TS. Ngô Thị Tân Hương không chỉ góp phần làm sáng tỏ giá
trị lý luận trong tư tưởng của Alvin Toffler về vai trò của tri thức đối với
lực lượng sản xuất, mà còn cho thấy ý nghĩa tham khảo của những luận điểm này
đối với quá trình phát triển lực lượng sản xuất ở Việt Nam trong bối cảnh mới.
Việc đối chiếu giữa lý luận và thực tiễn đã giúp nhận diện rõ hơn những hạn
chế, thách thức đặt ra, đồng thời gợi mở các định hướng chính sách phù hợp nhằm
thúc đẩy đổi mới mô hình tăng trưởng gắn với phát triển khoa học, công nghệ,
đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.
Những phân tích và kiến
nghị của bài viết có giá trị tham khảo đối với quá trình hoạch định chính sách
phát triển nguồn nhân lực, khoa học, công nghệ và hạ tầng số ở Việt Nam; đồng
thời góp phần bổ sung cơ sở lý luận và thực tiễn cho việc phát triển lực lượng
sản xuất theo tinh thần Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị và các chủ
trương của Đảng về phát triển kinh tế tri thức, kinh tế số trong giai đoạn hiện
nay.
Thông tin bài viết:
- Nhan đề: Quan điểm của
Alvin Toffler về vai trò của tri thức đối với lực lượng sản xuất trong tác phẩm
“Làn sóng thứ ba” và những giá trị tiếp cận ở Việt Nam hiện nay
- Chủ đề: Kinh tế tri
thức, Kinh tế số
- Tác giả: TS. Dương Thị
Hương, TS. Ngô Thị Tân Hương (Trường Đại học Kinh tế và Quản trị Kinh doanh,
Đại học Thái Nguyên)
- Nguồn trích: Tạp chí
Thông tin Khoa học xã hội số 3 năm 2026.