Tóm tắt: Tự do là một giá trị vừa mang tính đạo đức, vừa mang tính chính trị - luật pháp mà con người luôn theo đuổi và nỗ lực hiện thực hóa trong thực tiễn. Từ năm 1950 trở lại đây, sự khác nhau trong phương thức hiện thực hóa tự do đã tạo nên những đặc trưng khác nhau của thể chế chính trị thế giới. Bài viết tập trung trình bày và phân tích những luận điểm của Isaiah Berlin về tự do, trọng tâm là ý tưởng về “tự do khẳng định” và “tự do phủ định”, đồng thời chỉ ra mối liên hệ về mặt tư tưởng và thực tế đối sánh giữa hai ý tưởng này.
Từ
khóa: Lý thuyết chính trị, tự do, tự do khẳng định, tự do phủ định.
Isaiah Berlin (1909 –
1997) là một nhà triết học, chính trị học, giáo dục học người Anh gốc Do Thái,
giảng dạy tại Đại học Oxford (Anh). Ông được biết đến với tư cách là người phản
đối những triết thuyết của chủ nghĩa tự do cổ điển [Xem: 5] và chủ nghĩa tinh
hoa chính trị [Xem: 6]. Với những luận điểm của mình về tự do cá nhân, Berlin
đã nhận được giải thưởng Jerusalem năm 1979. Đặc biệt, với bài viết Hai khái
niệm về tự do (Two concepts of Liberty) (1958), Berlin đã khơi dậy một trong
những tranh luận học thuật thú vị và quan trọng nhất trong lĩnh vực lý thuyết
chính trị ở các nước nói tiếng Anh về khái niệm tự do. Sự phân tích và phân
biệt “tự do khẳng định” và “tự do phủ định” của Berlin là một trong những xuất
phát điểm lý luận cho những thảo luận và đánh giá giá trị của tự do chính trị
sau này.
Tác phẩm Bốn tiểu luận về
tự do (Four essays on Liberty) (nhà xuất bản Oxford) của ông đã được Nguyễn Văn
Trọng dịch và nhà xuất bản Trí thức ấn bản năm 2014. Trong tác phẩm này, Berlin
đã giải thích hai cách hiểu khác nhau về tự do chính trị xuyên suốt trong lịch
sử triết học phương Tây. Ông đã chỉ ra cách thức mà ở đó, khía cạnh “khẳng
định” của tự do trở thành nền tảng lý luận cho hiện tượng áp bức và đè nén tinh
thần và nhận thức, hay trở thành luận điểm biện hộ cho chủ nghĩa toàn trị. Đồng
thời, ông cũng chỉ ra cách thức mà khía cạnh “phủ định” của tự do đã được vận
dụng nhằm khẳng định tính ưu việt của thị trường tự do và chủ trương nhà nước
“tối thiểu”.
Trong Bốn tiểu luận về tự
do, Berlin phân định tư tưởng tự do trong lịch sử tư tưởng thành 2 khuynh hướng
chính, đó là “tự do phủ định” và “tự do khẳng định”. Về “tự do phủ định”, ông
cho rằng nó “liên quan đến lời giải đáp cho câu hỏi “không gian nào mà ở trong
đó một chủ thể - một cá nhân hay một nhóm người – được, hay là cần phải được,
để cho được làm hay có khả năng là [như thế], không có can thiệp bởi những
người khác?” [1, tr.40]. Còn “tự do khẳng định”, đó là lời giải đáp cho câu hỏi
“Điều gì, hay là người nào, là ngọn nguồn của kiểm soát hay can thiệp khả dĩ
xác định xem một ai đó phải làm hay phải là thế này chứ không phải là thế khác”
[1, tr.40].
Khi đề cập tới ý nghĩa
thứ nhất của tự do hay “tự do phủ định”, tự do được hiểu như là không gian
riêng tư của cá nhân, ở đó cá nhân có thể hành động theo mong muốn và ý chí của
chính mình mà không bị bất kỳ ngoại lực nào (cá nhân và tổ chức) chi phối hay
ngăn cản. Berlin nhận xét: “Tự do chính trị theo nghĩa ấy đơn thuần là khoảng
không gian, mà ở trong đó một người có thể hành động không bị người khác cản
trở” [1, tr.41]. Chẳng hạn, một nông dân đang trồng hoa trong khu vườn của
mình, thì tự do phủ định của người nông dân đó được biểu hiện qua các thông
tin, như anh ta có thể trồng hoa vào sáng, trưa, chiều; có thể trồng hoa hồng,
hoa cúc, hoa mai; có thể quyết định trồng bao nhiêu cây, trồng theo luống hay
không theo luống... Tất cả những quyết định này đều chỉ diễn ra trong phạm vi
khu vườn của người nông dân, trong phạm vi đó, anh ta tự do trồng hoa theo mong
muốn, theo kinh nghiệm và tri thức của bản thân anh ta. Theo Berlin, đây là tự
do cá nhân theo nghĩa cơ bản nhất, nghĩa đầu tiên và cũng là nghĩa “phủ định”.
Tình trạng bị ép buộc và
mất tự do của cá nhân xuất hiện khi những can thiệp từ bên ngoài một cách có
chủ ý tác động tới cá nhân, khiến cá nhân đó không thể hành động theo mong muốn
và ý chí của bản thân. Trong trường hợp người nông dân làm vườn nêu trên, có
thể thấy như thế này: Khi anh ta đang trồng hoa, người hàng xóm thân cận cho
rằng cách trồng hoa như vậy là không hợp lý. Người đó góp ý với người nông dân
rằng anh ta nên chuyển đổi cách trồng hoa theo cách mà người đó cho là hợp lý
hơn, người nông dân từ chối làm theo lời khuyên. Từ đó, người hàng xóm tìm
nhiều phương cách khác nhau để cản trở người nông dân, khiến anh ta không thể
trồng hoa theo cách mà anh ta muốn. Thậm chí, gay gắt hơn, người hàng xóm có
thể viện dẫn quyền lực công để ngăn cản việc trồng hoa của người nông dân. Hành
vi đó đã vi phạm quyền “tự do phủ định” của người nông dân.
Ở ví dụ trên, ta có
thể hiểu, “tự do phủ định” hướng tới “sự tự do lựa chọn” (hành vi, suy nghĩ,
biểu hiện cảm xúc) của cá nhân trước các khía cạnh khác nhau của đời sống cá
thể. Tương tự trường hợp người nông dân trong ví dụ trên, một cá nhân có được
tự do phủ định khi anh ta có thể lựa chọn ngày hôm nay đi làm hay nghỉ ngơi ở
nhà; nếu đi làm sẽ di chuyển bằng phương tiện gì; thời gian nào anh ta sẽ ra
khỏi nhà và thời gian nào sẽ trở về. Khi tự mình đưa ra các lựa chọn hay quyết
định có chủ đích cho hành động mà không bị can thiệp, một cách cố tình hay vô ý
bởi các nhân tố bên ngoài, thì có nghĩa là cá nhân đó có tự do. Tuy nhiên, việc
cá nhân đang có việc làm hay đang thất nghiệp, thu nhập có đủ trang trải cuộc
sống, tình trạng sức khỏe đảm bảo hay không đảm bảo,... lại không thuộc về phạm
vi xem xét của “tự do phủ định”. Song chiếu theo đó, một cá nhân dù có đang
thất nghiệp, nghèo khó, kiệt quệ sức khỏe, nếu được tự lựa chọn phương thức
hành động của mình thì anh ta vẫn có “tự do phủ định”. Như vậy, khía cạnh “phủ
định” chỉ quan tâm tới những nhân tố ngoại lực (cá nhân khác trong cộng đồng,
quyền lực công) có thể gây ảnh hưởng tới tự do của cá nhân, chứ không cân nhắc
tới những nhân tố nội tại (điều kiện, hoàn cảnh, sinh kế) khi đánh giá mức độ
tự do.
Theo Berlin, lập luận này
khá phổ biến ở các triết gia của chủ nghĩa tự do cổ điển, như John Locke (1632
– 1704), John Stuart Mill (1806 – 1873) hay Adam Smith (1723 – 1790),… những
người bênh vực cho “tự do lựa chọn” của cá nhân trước các uy quyền hay sự thúc
bách từ bên ngoài [Xem: 3]. Các nhà tự do cổ điển cũng tán thành luận điểm
rằng, tồn tại một nguy cơ khi tất cả mọi người đều tự do, đó là, không gian tự
do của người này sẽ chồng lấn lên không gian tự do của người khác, vì thế, cần
phải hạn chế không gian tự do này ở mức độ có thể bảo tồn được tự do của mỗi
người, cũng là bảo vệ khái niệm “tự do”. Đồng thời, sau khi đã thống nhất được
cách hiểu chung về tự do, các triết gia thường chuyển sang tranh luận về “phạm
vi” của không gian tự do - “không gian không - bị - can - thiệp càng rộng thì
tự do của tôi càng nhiều” [1, tr.44].
Không phản đối tư tưởng
này của các nhà tự do cổ điển, nhưng Berlin chỉ ra rằng, những người bênh vực
“tự do phủ định” đã bỏ quên cụm từ “khả năng” (possibility) của mỗi cá nhân khi
đánh giá mức độ tự do cá nhân. Việc không xem xét tới năng lực bao gồm những
thành tố như thể lực, trí lực, vốn xã hội của cá nhân thì sẽ là một thiếu sót
lớn. Bởi nếu không đủ/không có “khả năng” để hiện thực hóa lựa chọn của mình,
các cá nhân chỉ có thể “tự do lựa chọn trong ý nghĩ”. Cụ thể hơn, với những
nhóm người sinh kế không ổn định, việc họ quan tâm nhất là làm thế nào để có
được một cuộc sống no ấm, đầy đủ về vật chất, thay vì quan tâm đến tự do. Đối
với những người bệnh không có đủ nguồn lực để trang trải các phí tổn y tế, sức
khỏe và những dịch vụ y tế trở thành mối quan tâm hàng đầu của họ, thay vì tự
do. Tự do là một giá trị cốt lõi của nhân loại, nhưng đối với những nhóm người
yếu thế và bên lề xã hội, tự do dường như chưa từng xuất hiện trong ý nghĩ.
Thấu hiểu tinh thần đó, Berlin khẳng định, nếu không có những điều kiện vật
chất nhất định để cá nhân có thể khai phá, bộc lộ và nuôi dưỡng những năng lực
của họ, thì tự do hoàn toàn là một khái niệm xa vời. Điều kiện vật chất ở đây
có thể hiểu là một mức thu nhập nhất định, đủ để đảm bảo đời sống, được sống trong
môi trường không ô nhiễm, được thụ hưởng tiện ích của hệ thống giao thông thuận
lợi... Ông nói: “Trao quyền chính trị, hay quyền được bảo vệ an toàn
chống lại can thiệp của nhà nước cho những người nghèo khó, thất học, thiếu ăn
và bệnh tật là nhạo báng hoàn cảnh của họ; họ cần được trợ giúp y tế hay giáo
dục trước khi họ có thể hiểu được, hay sử dụng được một mức độ gia tăng trong
tự do của họ. Tự do có nghĩa gì đối với những người không thể sử dụng nó được?
Không có những điều kiện thích đáng để sử dụng tự do thì tự do có giá trị gì?
Những thứ cơ bản nhất là quan trọng nhất (…); tự do cá nhân không phải là nhu
cầu trước nhất đối với bất kỳ ai” [1, tr.47].
Phản bác lại khẳng định
của các nhà tự do cổ điển, Berlin không cho rằng thể chế dân chủ tự do (cụ thể
hơn là hệ tư tưởng dân chủ tự do Hoa Kỳ) là thể chế duy nhất có thể xây dựng và
đảm bảo tự do cho con người. Sở dĩ như vậy là vì, khía cạnh “phủ định” của tự
do không nhất thiết phải luôn song hành với thể chế dân chủ, bởi xuất phát điểm
lôgíc giữa hai khái niệm này là khác nhau. Berlin chỉ ra rằng, xuất phát điểm
của tự do “phủ định” là câu hỏi “chính quyền can thiệp tôi đến mức nào?”. Yếu
tố ngoại lai là quyền lực công can thiệp tới sự lựa chọn và khả năng quyết định
của cá nhân trong mức độ nào để cá nhân vẫn có thể hành động trong phạm vi mong
muốn của bản thân. Trong khi đối với thể chế dân chủ là vấn đề “ai cai trị
tôi?” và tính chất của sự cai trị. Người cai trị tôi có thể là một người, một
nhóm người. Tính chất cai trị có thể là một người quyết định thay cho tất cả
mọi người hay nhiều người quyết định trên cơ sở thảo luận, tham vấn và đàm
phán. Hai câu hỏi với xuất phát điểm khác nhau sẽ giải quyết những vấn đề khác
nhau. Rõ ràng, Berlin đã phê phán những nhà tư tưởng xem sự hiện thực hóa tự do
trong đời sống xã hội là một tất yếu đi cùng với thể chế dân chủ, thứ vẫn được
ca ngợi và xem là cứu cánh cho ý thức chính trị thế giới những năm 70 của thế
kỷ XX.
Không chỉ nhận xét và phê
phán cách hiểu cổ điển về khái niệm tự do, Berlin còn đưa ra cách hiểu của mình
về ý nghĩa thứ hai của tự do. Đó là “tự do khẳng định”, còn gọi là sự “tự định
hướng” (self - mastery) hay khả năng “tự quyết” (ability of self –
determination) của cá nhân đối với hành động của chính mình. Berlin viết: “Ý
nghĩa “khẳng định” của từ “tự do” bắt nguồn ở mong ước từ phía con người cá
nhân muốn làm chủ bản thân mình. Tôi mong muốn cuộc sống của tôi và các quyết
định phụ thuộc vào bản thân tôi, chứ không phụ thuộc vào các thế lực ngoại tại
dù là loại gì đi nữa” [1, tr. 63].
Khi tự do được hiểu theo
nghĩa khẳng định, ta có thể nhận thấy bản chất của khái niệm tự do xuất phát từ
ý thức về “cái tôi cá nhân” trong triết học. Những suy tư về cái tôi cá nhân
trên phương diện tâm thức bắt đầu được tìm hiểu và thể nghiệm rõ ràng, trực diện
trong triết học châu Âu từ buổi bình minh của chủ nghĩa tư bản. Lợi nhuận và
thị trường làm nảy sinh nhiều vấn đề khiến các triết gia quan tâm như khai
sáng, chân lý khoa học, lý tính con người… Nếu triết học Phục hưng khởi đầu từ
Ý với mục tiêu quay lại các giá trị nghệ thuật cổ xưa, giải phóng con người
khỏi những lề thói của triết học kinh viện trước đó, thì triết học Khai sáng
thế kỷ XVII được coi là thời kỳ đỉnh cao của những tư tưởng chính trị - xã hội
và con người công dân. Điểm đặc biệt của triết học Khai sáng là nhấn mạnh vai
trò của lý trí và ý thức cái tôi cá nhân luôn được xem xét như là một cá thể
đầy lý tính. Lý tính được xếp hạng cao hơn so với cảm giác/cảm tính. Đỉnh cao
của sự coi trọng lý tính xuất hiện ở triết học Đức thế kỷ XIX với sự phân biệt
các thành tố của tâm thức con người. Kể từ đó tới nay, lý tính được đề cao,
được xem là một đặc điểm tối quan trọng phân biệt con người với các giống loài
khác. Một cá nhân được xem là tự do khi cá nhân đó có khả năng sử dụng tri thức
bằng lý tính để tính toán, cân nhắc các lựa chọn, các khả năng cho hoạt động
của mình.
Tuy nhiên, chính sự coi
trọng lý tính – nội hàm chính của tự do khẳng định có dẫn đến ý thức áp bức
(coercion) lên cá nhân. Theo Berlin, do chỗ người ta có thể phân bậc cao thấp
năng lực lý tính, nên khi gắn liền tự do khẳng định với năng lực lý tính sẽ dễ
dẫn tới hiện tượng có những cá nhân nhận thấy mình có nhận thức lý tính cao
hơn, hoàn thiện và thông tuệ hơn những cá nhân khác. Từ đó, những người này sẽ
dùng lý lẽ dựa trên lý tính của mình để ép buộc các cá nhân bị cho là năng lực
lý tính thấp hơn phục tùng những quyết định hay lựa chọn cụ thể. Ví dụ, cá nhân
A muốn lựa chọn giữa quyết định C và D. A cho rằng C tốt hơn và phù hợp. A tham
khảo ý kiến cá nhân B. Dựa trên kinh nghiệm và nhận thức lý tính của mình, B
cho rằng D sẽ tốt cho A, thay vì C. Từ đó B thuyết phục, thậm chí ép buộc A
phải chọn D. Điều này dẫn tới sự xâm phạm tự do của cá nhân, vi phạm nguyên tắc
tự trị hay tự quyết của cá nhân một cách nghiêm trọng. Trên quy mô rộng hơn, đó
còn là sự vi phạm quyền tự do, tự quyết của một quốc gia, một dân tộc. Hơn nữa,
nó cũng là một trong những luận điệu chủ yếu được chủ nghĩa toàn trị và chủ
nghĩa tinh hoa chính trị sử dụng, nhân danh tự do, để áp bức và nô dịch người
dân ở nhiều xã hội.
Nhìn lại lịch sử,
có thể thấy luận điểm này đúng với thời kỳ mở rộng tư bản toàn cầu khi mà các
nước thực dân, nơi nền sản xuất tư bản xuất hiện và phát triển sớm, tiến hành
các cuộc xâm lược với khẩu hiệu “khai hóa văn minh”, đem những giá trị, chuẩn
mực được coi là văn minh hơn áp đặt vào những nước được cho kém văn minh hơn.
Berlin nói: “Đó là luận cứ được sử dụng bởi mọi kẻ độc tài, quan tòa chống dị
giáo và kẻ ỷ thế bắt nạt, những kẻ tìm kiếm biện minh đạo đức nào đó, hay thậm
chí (biện minh) duy mỹ, cho hành vi của chúng. Tôi phải làm vì họ (hay với họ)
điều mà họ không thể tự làm cho họ, và tôi không thể xin họ cho phép hay ưng
thuận, bởi họ không có điều kiện để biết được điều gì là tốt nhất cho họ” [1,
tr.111]. Như vậy, ngay cả khi tự do là một trong những giá trị mà con người
luôn hướng tới, nó vẫn có thể trở thành công cụ cho những mưu toan chính trị
thiếu nhân văn.
Với việc phân tích hai
khía cạnh “khẳng định” và “phủ định” của tự do, dường như chúng ta có thể đặt
ra câu hỏi: Liệu “tự do khẳng định” và “tự do phủ định” có phải là 2 loại tự do
riêng biệt? Ở đây, có thể thấy, Berlin không hề có ý muốn tạo ra thêm một khái
niệm “tự do” mới. Song, trong quá trình tìm kiếm cội nguồn của những suy tư về
tự do trong lịch sử triết học, Berlin nhận thấy có sự khác nhau nhất định trong
cách hiểu và hiện thực hóa tự do của các nhánh triết học, các hệ tư tưởng chính
trị. Có lẽ vì thế nên Berlin tập trung hơn vào việc phê phán sự nhầm lẫn
giữa 2 khía cạnh mà ông gọi là “khẳng định” và “phủ định” của tự do và cảnh báo
về khả năng tự do bị lạm dụng trên phương diện đời sống chính trị - xã hội ở
hai khía cạnh này.
Đóng góp chủ yếu của
Berlin khi phân tích khái niệm tự do, đó là ông đã gắn liền tự do với hệ tư
tưởng chính trị. Tự do không còn mang tính trừu tượng (thường được mô tả là các
quyền tự nhiên) mà đã được cụ thể hóa qua các mô hình nhà nước và thể chế cụ
thể. Đồng thời, Berlin cũng giúp chúng ta nhận thức được rằng, khi gắn liền với
một thể chế nhất định, một giá trị cơ bản của đời sống con người như tự do có
thể chứa đựng những khiếm khuyết nhất định và cần có những “phương tiện thực
tiễn” để điều chỉnh, sửa chữa những khiếm khuyết đó. Vì, có một thực tế là, nếu
một thể chế chính trị chỉ mong muốn bảo vệ và duy trì “tự do phủ định” thì xã
hội sẽ có thể bị mất kiểm soát, các cá nhân có thể làm hại lẫn nhau vì một thứ
tự do “tuyệt đối”. Nếu chỉ có “tự do khẳng định” được nhấn mạnh, nhà nước sẽ
trở thành “chủ thể có uy quyền to lớn nhất” và sẽ vi phạm “quyền tự trị” của
người dân. Đây là điều thường dễ nhận thấy trong các chính thể độc tài.
Berlin viết Hai khái niệm
về tự do trong bối cảnh thế giới đang diễn ra sự đối đầu và cạnh tranh gay gắt
giữa hai ý thức hệ chính trị tiêu biểu của thế kỷ XX: Ý thức hệ Stalin(*) ở
Liên bang Xôviết (1930 - 1953) và ý thức hệ Truman(**) ở Hoa Kỳ. Cả hai ý thức
hệ này đều giương cao khẩu hiệu tự do cho mọi người nhưng với cách nhận thức
khác nhau và quyết sách khác nhau. Bên cạnh đó, trong những suy tư của Berlin
về tự do, đặc biệt là khía cạnh “khẳng định” của tự do, người ta có thể thấy
bóng dáng của tư tưởng giải phóng con người và giải phóng chính trị của C.Mác
(1818 - 1883) trong những năm tháng chiến đấu cho phong trào công nhân Đức và
công nhân thế giới.
Mặc dù, C.Mác chưa từng
sử dụng thuật ngữ “khẳng định” hay “phủ định” khi đề cập tới giá trị tự do,
nhưng ông cho rằng, sự giải phóng trên phương diện chính trị không đồng nghĩa
với giải phóng con người nói chung. Giai cấp công nhân có thể đấu tranh giành lấy
quyền tự do chính trị, bầu cử dân chủ để tổ chức và nắm giữ quyền lực, nhưng đó
chưa phải là tất cả, mà trên hết, phải là xây dựng một chế độ xã hội tốt đẹp -
chế độ cộng sản chủ nghĩa, nơi con người có được tự do giải phóng và phát triển
năng lực của bản thân. Đối với C.Mác, tự do (thoát khỏi sự can thiệp của người
khác) thông qua những “quyền tự do” (tự do phủ định) mà những người theo chủ
nghĩa tự do luôn đề cao là chưa đủ. Bởi, con người là tổng hòa các mối quan hệ
xã hội, vì thế đều có liên đới tới những người khác theo những cách nhất định.
Từ đó, chúng ta cần những mối liên hệ xã hội và điều kiện vật chất cụ thể để cá
nhân có thể hiện thực hóa con người xã hội của mình (tự do khẳng định). Trong
Hệ tư tưởng Đức, C.Mác nhấn mạnh vai trò của cộng đồng trong quá trình giúp con
người hiện thực hóa tự do: “Điều này không thể thực hiện được nếu không có cộng
đồng. Chỉ có trong cộng đồng cá nhân mới có được những phương tiện để có thể
phát triển toàn diện những năng khiếu của mình và do đó, chỉ có trong cộng đồng
mới có tự do cá nhân” [4, tr.108]. Vì thế, “quyền tự do” mà những người theo
quan điểm tự do cổ điển đề cao gần như là một thứ tự do trừu tượng, chỉ mang
tính “lý tưởng”.(**)
Nhìn chung, qua các phân
tích của Berlin, có thể nhận thấy, bản thân các giá trị cơ bản luôn có mối quan
hệ với nhau trong một tầng mức nhất định. Bản thân giá trị tự do cũng đã chứa
đựng trong nó cả khía cạnh phủ định và khẳng định, dù hai khía cạnh này không
phải lúc nào cũng tương thích, hòa hợp với nhau. Mặc dù vậy, tự do vẫn luôn là
giá trị trường tồn mà con người hướng tới.
(*) Joseph
Vissarionovich Stalin (1878 - 1953) là nhà lãnh đạo Liên bang Xôviết từ năm
1920 - 1953. Dưới thời mình, Stalin đã lãnh đạo Liên bang Xôviết trở thành
cường quốc thế giới, là tượng đài của chủ nghĩa xã hội và giai cấp công nhân.
Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựa chính trị của mình, chính quyền độc tài của
Stalin cũng bị lên án do tiến hành các cuộc giám sát dân chúng, các vụ hành
quyết cá nhân và tập thể một cách bí mật thường dân và binh lính quân đội
Xôviết.
(**) Harry S.Truman
(1884 - 1972), là tổng thống thứ 33 của Hoa Kỳ, nhiệm kỳ 1945 - 1953. Trong
thời gian nhiệm kỳ tổng thống của mình, một loạt các chính sách đối ngoại của
Truman đã để lại nhiều ảnh hưởng về sau tới chính trường quốc tế, như: thả bom
nguyên tử ở Hiroshima và Nagasaki, đưa ra học thuyết Truman nhằm kiểm
soát chủ nghĩa cộng sản, sự khởi đầu của Chiến tranh Lạnh giữa Liên bang Xôviết
và Hoa Kỳ, chiến tranh Triều Tiên và sự hình thành NATO.
Tài liệu tham khảo
[1] Isaiah Berlin (2014),
Bốn tiểu luận về tự do (Nguyễn Văn Trọng dịch), Nxb Tri Thức, Hà Nội.
[2] Isaiah Berlin (1969),
Two concepts of Liberty (online), “Four essays on Liberty”, Oxford University
Press: http://cactus.dixie.edu/green/
B_Readings/I_Berlin%20Two%20Concpets%20of%20Liberty.pdf.
[3] V.J.McGill, Two
Concepts of Freedom (Hai khái niệm về tự do): https://www.jstor.org/
stable/2104169?seq=1#page_scan_tab_contents
[4] C.Mác và
Ph.Ăngghen (1995), Toàn tập, t.3, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
[5] Stanford
Enclyclopedia of Philosophy (Bách khoa thư triết học Standford): http://plato.stanford.edu/entries/marx/#2.4.