Di tích kiến trúc Champa Đồng Miễu, Phú Hòa, Phú Yên trong khung cảnh khảo cổ học Champa
Lời mở
Văn hoá Champa từ lâu đã là đối
tượng nghiên cứu quan trọng của khảo cổ học. Trên dải đất miền Trung Việt Nam
và Tây Nguyên, trong hàng trăm năm qua đã có nhiều công trình nghiên cứu của
các nhà khoa học trong và ngoài nước về những lĩnh vực cụ thể của nền văn hoá
này như: Kiến trúc, kỹ thuật xây dựng, nghệ thuật điêu khắc, đồ gốm... và đã
thu được những kết quả to lớn. Trên địa bàn tỉnh Phú Yên cũng có hàng vô số các
di tích văn hoá Champa mà nổi tiếng như tháp Nhạn, bia Chợ Dinh, thành Hồ...
Tuy nhiên về kiến trúc đền tháp Champa
trên địa bàn tỉnh Phú Yên còn nguyên vẹn thì chỉ có tháp Nhạn, còn lại đều
là dấu tích, phế tích. Trong những năm gần đây, ngành văn hoá tỉnh Phú Yên cùng
các nhà khảo cổ học đã có những nghiên cứu, khai quật khảo cổ một số các di
tích văn hoá Champa như Thành Hồ, Núi Ông, Núi Bà, Cù Lao Mái Nhà, Hòn Chùa và
đặc biệt là cuộc điều tra tại di tích Đồng Miễu những năm 2009, 2012, 2016 và
khai quật năm 2019, một di tích kiến trúc Champa nằm ở phía tây Thành Hồ đã
cho thấy: đây là một kiến trúc có vị trí rất quan trọng, nó như một tiền đồn án
ngữ phía tây Thành Hồ, đồng thời kiến trúc này có vị trí như một thánh địa theo
mô hình Thánh địa đến Trung tâm hành chính rồi cảng cửa biển mà ở đây thánh địa
là khu vực Đồng Miễu, Trung tâm hành chính là Thành Hồ và cảng cửa biển Đà Rằng,
nơi có Núi Nhạn và tháp Nhạn hiện nay. Khai quật và nghiên cứu khu di tích này
sẽ làm sáng tỏ nhiều điều về văn hoá Champa ở Phú Yên, nhất là chứng minh về một
thánh địa phía tây Thành Hồ.
Nghiên cứu và bổ sung vào kho tư
liệu văn hoá Champa một nguồn thông tin quan trọng về phế tích đền tháp ở vùng
Nam Champa. Tìm hiểu và khẳng định mô hình Thánh Địa - Trung tâm hành chính - Cảng
cửa biển của các tiểu vương quốc Champa xưa. Vì phế tích còn khá tốt, toàn bộ
phần nền móng của ngôi tháp xưa còn gần như nguyên vẹn nên cuộc khai quật hi vọng
sẽ tìm thấy những hiện vật trang trí bằng đá cũng như các loại hiện vật khác. Kết
quả cuộc khai quật sẽ làm rõ hơn diện mạo, đặc trưng của kiến trúc Champa vùng
phía nam. Tìm ra những nét riêng của nghệ thuật kiến trúc Champa vùng Phú Yên
ngày nay (Kauthara xưa) (Trần Kỳ Phương 2002).
Năm 2009, trong chuyến khảo sát
văn hoá miền Trung của Trung tâm Viện Viễn đông Bác cổ Pháp Hà Nội và Viện Khảo
cổ học đã đến khu vực gò Đồng Miễu và phát hiện thấy một phế tích nền móng kiến
trúc Champa trên đỉnh một cái gò, gò này nổi cao chừng 2m so với mặt ruộng lúa
hiện thời. Trên gò và khu vực xung quanh xuất lộ rất nhiều gạch Champa, kích
thước chủ yếu 30x18x8cm. Gạch có màu đỏ, lõi đen, có nhiều vỏ trấu. Có thể dễ dàng
nhận ra đây là một nền móng của một kiến trúc xây gạch có bình đồ vuông (Barocco.
F, 2011). Chính giữa phế tích hiện nay có một hộ nông dân dựng một căn nhà
tranh tre cư trú. Chính vì có hộ nông dân này mà phế tích Đồng Miễu chưa bị đào
phá nặng nề như những phế tích kiến trúc Champa khác.
Năm 2012, các nhà khảo cổ học Việt
Nam, Italia, Pháp một lần nữa đến Đồng Miễu. Lần này các nhà chuyên môn đã xem
xét và điều tra kĩ hơn, phát hiện một vỉa tường móng dày 1m ở phía đông của kiến
trúc. Có thể nói đây là một phế tích có thể khai quật và chắc chắn sẽ mang lại
nhiều thông tin hữu ích.
Năm 2016, Ban Quản lý Di tích Phú
Yên đã có cuộc thám sát tại Đồng Miễu và đã phát hiện một vệt gạch xây theo hướng
bắc - nam ngay sát chân tường bếp nhà ông Nguyễn Tấn Xu.
Năm 2019, Viện Khảo cổ học
phối hợp Bảo tàng tỉnh Phú Yên tiến hành khai quật di tích này với
diện tích 35m². Kết quả khai quật đã làm xuất lộ một phần nhỏ của một
kiến trúc đền tháp Champa gồm cấu trúc nền, móng và một phần thân tháp phía tây.
Từ tư liệu vật liệu gạch, kĩ thuật xât dựng và đặc biệt là hiện vật gốm phát hiện
trong di tích cho phép đi đến nhận định: đây là di tích đền tháp xây gạch Champa
có niên đại thế kỷ IV - V, sớm nhất trong khảo cổ học Champa. Di tích này chưa
bao giờ được các nhà khoa học Pháp hồi đầu thế kỷ XX biết đến. Từ trước đến
nay, các nghiên cứu về kiến trúc Champa đều cho rằng trước thế kỷ VII, có lẽ Champa
chưa có công trình đền tháp xây gạch, mà chỉ là các kiến trúc sử dụng vật liệu
nhẹ như gỗ, tre… (Trần Kỳ Phương 2002). Việc
phát hiện di tích tháp Đồng Miễu đã cho chúng ta suy nghĩ khác hơn, rằng từ thế
kỷ IV người Champa đã xây dựng đền tháp bằng gạch cho dù cả kỹ thuật sản xuất gạch
đến trình độ xây dựng còn chưa hoàn thiện, thậm chí non nớt nhưng đó có thể là
những viên gạch đầu tiên tạo nền móng cho những tuyệt tác kiến trúc Champa sau
này. Đây là một phát hiện quan trọng trong nghiên cứu khảo cổ học và lịch sử Champa
(Nguyễn Tiến Đông và Đoàn khai quật 2020: 683-690).
Vị trí của ngôi tháp phần nào chứng
minh cho lý thuyết về các vùng Champa, các lãnh thổ Champa trong lịch sử của
cố GS. Trần Quốc Vượng, đây có lẽ chính là nơi các chủ nhân Champa xưa chọn
làm khu Thánh địa, tuy nhiên có thể do còn chưa nắm bắt đầy đủ và chưa thật có
kinh nghiệm nên việc ứng xử với loại vật liệu mới là gạch đã không được như ý
muốn. Công trình bị đổ, vỡ nhiều lần, quy mô
nhỏ lại ở vùng có nhiều lụt lội nên đã không có nhiều các công trình được xây dựng
thêm. Vào thời kì sau những cuộc nội chiến giữa các tiểu vùng, tiểu quốc Champa
đã làm suy sụp cả Thành Hồ lẫn Thánh địa của nó. Dù sao mặc lòng, di tích này vẫn
là một điểm sáng trên bản đồ di tích Champa ở miền Trung Việt Nam với giá trị lịch
sử - văn hóa rất lớn và đáng trân trọng.
Đây thực sự là một di sản hiếm,
quý không chỉ của riêng Phú Yên mà còn cả của Quốc gia.
1. Di tích
Đồng Miễu trong bối cảnh văn hóa Champa ở Phú Yên
Chúng ta đã biết rằng cảnh quan của
miền Trung Việt Nam, định hình lịch sử của cư dân của nó, với thung lũng hẹp và
ranh giới núi cung cấp các điều kiện thuận lợi cho sự hình thành của nền văn
hóa đa dạng và khác biệt. Làm thế nào người dân Champa thích ứng với môi trường
tự nhiên và hình thành thông qua việc tạo ra các mạng lưới các đô thị có tường
bao quanh, đền thờ, các kiến trúc dân sự…
Trong khi các nhóm kiến trúc cổ điển còn tồn tại
ở Quảng Nam rõ ràng mang tính chất là "ngôi đền-tháp” từ lâu đã quen thuộc.
Trong 2004 - 2008, được hỗ trợ bởi
Quỹ Lerici và hướng dẫn của Patrizia Zolese, Federico Barocco tham gia trong
nghiên cứu khảo cổ học tại Mỹ Sơn (Barocco F. and Zolese P. 2006). Sau đó,
trong năm 2009, tài trợ của EFEO cho phép ông tiến hành một cuộc điều tra hệ thống
của thung lũng Thu Bồn. Mục đích của ông là để cung cấp một bản đồ khảo cổ học
của các khu định cư Champa nhiều tôn giáo và đô thị ở thung lũng đó giữa thế kỷ
thứ V và XII. Kết quả là một bộ bản đồ cho thấy một mô hình đô thị phức tạp và
xác định một lãnh thổ chính xác cho phép nhận thấy một cảnh quan văn hóa Champa
rộng hơn được biết đến trước đây, bao gồm các đặc điểm địa lý và con người cụ
thể. Đồng thời, ông nhận ra rằng một mô hình đô thị tương tự có thể cũng đã được
áp dụng ở các tỉnh khác của miền Trung Việt Nam, chẳng hạn như Phú Yên.
Trong khi đó, qua nhiều mùa làm
việc tại Quảng Ngãi, Andrew Hardy và Nguyễn Tiến Đông đồng ý rằng nghiên cứu về
Champa đã tập trung chủ yếu ở những nơi có nhiều di tích còn tồn tại trên mặt đất
và bi kí, chẳng hạn như Quảng Nam và Bình Định, và những thông tin đó có giá trị nghiên cứu ở các tỉnh miền Trung,
trong đó có Phú Yên, nơi có con sông dài nhất miền Trung Việt Nam, Đà Rằng/Ba.
Sông này là con đường thuận lợi nhất để trao đổi hàng hóa, văn hóa giữa miền
ven biển và cao nguyên (Hardy A. 2009). Tuy nhiên, trên địa bàn tỉnh này chỉ
còn một tháp Chăm nguyên vẹn và một số văn bia được biết, vài cuộc khai quật được
thực hiện ở Thành Hồ, và trong một vài tài liệu hiếm hoi đề cập đến Phú Yên
trong những chuyên khảo về Champa, người ta thường gộp Phú Yên vào công quốc
Khautara (Khánh Hoà).
Trong năm 2008, trong dự án mang
tên "Lịch sử và di sản của miền Trung Việt Nam”, Nguyễn Tiến Đông và
Andrew Hardy thực hiện một cuộc khảo sát sơ bộ của các mạng lưới di tích Champa
Phú Yên. Trong năm 2010, Barocco, Nguyễn Tiến Đông và Hardy trở lại và đã có một
cuộc khảo sát lĩnh vực rộng lớn hơn. Barocco trình bày kết quả đầu tiên của
chuyến công tác này tại một hội nghị được tổ chức tại Phú Yên vào năm 2011 (Barocco.
F 2011). Như ở Quảng Nam, những khu định cư Champa được phân bố dọc theo các
sông chính và các nhánh của nó, và cho rằng sự hình thành của cảnh quan văn hóa
này cũng như vậy trong lịch sử Champa ở Phú Yên thời kì đầu, sau đó phát triển
đầy đủ tại thời điểm Champa cổ điển. Mô hình đô thị ở đây có sự tương đồng mạnh
mẽ với một trong những khu vực đô thị Champa ở Quảng Nam và cho phép xác định
Phú Yên như là một lãnh thổ tương đối độc lập chính trị trong Champa.
Trong những năm đầu thế kỷ XX, một
số nghiên cứu được tiến hành ở Phú Yên, chủ yếu là do Henri Parmentier, nhưng dựa
trên so sánh phong cách chứ không dựa vào bằng chứng địa tầng. Các di tích khảo
cổ học đã được phát hiện, nhưng hệ thống kiểm kê và phân loại không được thực
hiện (Parmentier H. 1902). Tại thời điểm hiện tại, ngoài kiến trúc đền Tháp Nhạn
(thế kỷ XI - XII) trên bờ phía bắc của Đà Rằng và bia Chợ Dinh (thế kỷ thứ V)
thì chỉ còn một vài di tích không còn nguyên vẹn còn tồn tại. Tuy nhiên, có rất
ít bằng chứng trong hồ sơ Parmentier rằng di sản Champa của Phú Yên được bảo tồn
tốt hơn thời kỳ ông đến.
Một cái nhìn gần hơn, cho thấy một
mạng lưới không nhiều di tích phân bố trong lưu vực sông Đà Rằng/Ba. Thật vậy,
cuộc điều tra chỉ ra sự tồn tại của một mô hình tương tự như ở Quảng Nam dọc
theo Thu Bồn. Ở đây, dọc theo Đà Rằng, dòng sông kết nối các vùng đất thấp với
các khu vực thượng nguồn gần phía đông-bắc Campuchia trong một “mạng lưới trao
đổi ven sông”. Khu vực Thành Hồ được xác nhận là xuất hiện từ khoảng thế kỷ III
- IV, có tường thành vững chắc, trong khu vực nội thành có các công trình kiến
trúc xây gạch và đặc biệt có những di chỉ khảo cổ chứa đựng những đồ gốm có
niên đại thế kỷ II - IV (Lâm Thị Mỹ Dung 2002), điều này cho thấy ở đây, trên
lưu vực sông Đà Rằng/Ba đã xuất hiện một trung tâm Champa, nhà nước Champa sớm.
Ở cuối dòng sông, cửa biển của
nó, nơi có bia Chợ Dinh với những dòng chữ ghi trên vách núi Nhạn đánh dấu đất
của Champa giống như bia Hòn Cụp trên sông Thu Bồn ở phía trước của khu vực Mỹ
Sơn (Finot L 1902).
Mạng lưới di tích ở đây ngoại trừ
bia Chợ Dinh và Tháp Nhạn còn có di tích Phú Lâm, phần còn lại của một kiến
trúc vuông (không có dấu vết của cửa ra vào hoặc cửa sổ), kỹ thuật xây dựng của
nó cũng tương tự như những người quan sát thấy trong các cấu trúc Champa Mỹ
Sơn. Các bức tường dày hơn 1,20m; gạch dài (40cm) và được xây kiểu dán gạch bằng
một loại chất kết dính có bột gạch trộn với một loại nhựa cây (dầu thực vật).
Trong tường, một loại hợp chất có thể nhìn thấy, gồm các mảnh gạch vụn, đất,
ngói vụn, dầu thực vật để trám vào những lỗ hổng trên tường kiến trúc. Các khảo
sát cho thấy công trình đã được tháo gỡ, một phần vật liệu xây dựng của nó được
tái sử dụng tại trường học thời hiện đại xây ngay cạnh đó. Ở phía thượng nguồn,
tại thôn Mỹ Lệ, xã Hòa Tân Tây, đứng trên một ngọn đồi được bao quanh bởi những
cánh đồng lúa xuất lộ di tích kiến trúc xây gạch. Xong những tư liệu khảo cổ ở
đây chưa cho thấy một công trình lớn trong lịch sử. Mạng lưới di tích này, như
tất cả các phần còn lại kiến trúc Champa ở Phú Yên, cho thấy dấu hiệu của việc
lấy những vật liệu cũ để tái sử dụng trong những công trình sau đó, việc này có
tính truyền thống. Như ở Thành Hồ, nhiều gạch Champa được dùng để xây các ngôi
mộ thế kỷ XVIII - XIX.
Di tích Thành Hồ nằm ở thượng nguồn,
trên bờ bắc của sông Đà Rằng, cách bờ biển khoảng 15km. Thành Hồ có bình đồ
vuông, đối mặt với con sông ở phía nam và được bảo vệ bởi các dãy núi phía tây.
Các công trình kiến trúc thời kỳ Champa đã không còn, có thể do bị tàn phá bởi
các cuộc chiến kể cả nội chiến thời Champa. Nhưng phần thành lũy còn lại rất ấn
tượng và các tài liệu khảo cổ học cuộc khai quật gần đây chứng minh cho tầm
quan trọng của nó từ giai đoạn đầu của lịch sử Champa lên đến thế kỷ XV. Trong
khi quy hoạch đô thị của nó tương tự như các thành Champa tại Huế, các tài liệu
khảo cổ học - như gạch, ngói và kendy gốm - cho thấy sự tương đồng mạnh mẽ với
các mô hình của Trà Kiệu (Quảng Nam) (Lâm Thị Mỹ Dung 2005) và Châu Sa (Quảng
Ngãi). Trình tự địa tầng được xác định trong nghiên cứu gần đây cũng khẳng định
mối quan hệ gần gũi hệ thống di tích Gò Cấm, gần Trà Kiệu (Đặng Văn Thắng 2011).
Phía nam của dòng sông, ở độ cao
28m (mực nước biển), di tích Núi Bà đối diện với Thành Hồ bên kia sông. Trong
quá trình điều tra đầu thế kỷ XX ở khu vực này, một số tác phẩm điêu khắc đã được
thu hồi, bao gồm cả mảnh vỡ của tượng một nữ thần (tượng đã bị mất) (vì vậy di
tích có tên Núi Bà. Núi của Nữ thần, có thể đây là ngôi đền thờ Po Nagar như
ngôi đền ở Nha Trang, Khánh Hòa) (Lê Đình Phụng, Nguyễn Tiến Đông
1992: 54-61).
Một mạng lưới di tích ở phía bắc
thành phố Tuy Hòa cung cấp bằng chứng về cuộc sống thường nhật của cư dân Chăm
xưa bằng một hệ thống giếng đá, phân bố dày đặc trong một xóm nhỏ có tên Xóm Giếng,
thôn Xuân Dục, xã An Phú. Khu vực này nằm gần một con sông nhỏ có tên Đồng Nai,
bên bờ trái con sông này, chỉ hơn 1 mét từ mép nước, có 1 phế tích kiến trúc gạch
trên một gò cao hơn mặt ruộng chừng 30m, được gọi là Hòn Tháp. Phía ngoài biển,
cách cửa sông Đồng Nai chừng 1 hải lí là Hòn Chùa, trên đó có dấu tích tích của
1 kiến trúc gạch Champa. Giả thuyết khoa học là: Hòn Chùa là trạm quan sát,
phòng thủ ngoài của biển, Hòn Tháp là nơi trình báo hải quan và những giếng nước
ở đây cung cấp nước ngọt cho các con tàu, thuyền đi biển ngày xưa. Trong thành
phố Tuy Hòa hiện nay cũng có một hệ thống khá dày những giếng cổ Champa còn sót
lại, phân bố nhiều ở khu vực gần với sông Ba.
Phía Bắc Phú Yên, nơi có con sông
lớn thứ 2 của tỉnh này và cũng là con sông quan trọng của nền văn minh Champa ở
Phú Yên, sông Cái hay còn gọi là sông Kì Lộ.
Tại xã Xuân Sơn Nam, huyện miền
núi Đồng Xuân, chúng tôi đã khảo sát, khai quật, nghiên cứu một khu lò mộ bằng
gốm của cư dân Champa xưa (niên đại thế kỷ XIII). Những chứng cứ ở đây cho thấy
một cách hỏa thiêu của Champa xưa lần đầu tiên phát hiện (Nguyễn Tiến Đông và
nnk 2011).
Các nghiên cứu chứng minh sự tồn
tại của một mô hình Champa phức tạp và cũng thành lập phát triển dọc theo sông
Đà Rằng. Lãnh thổ khảo cổ học là rộng lớn và có nhiều yếu tố khác nhau, như
chúng ta có thể nhìn thấy từ vị trí của văn tự, phế tích kiến trúc, đền tháp,
và địa điểm khảo cổ khác. Các bản đồ của các di tích cho phép chúng tôi đánh
giá quy mô mạng lưới của di tích có nhiều nét giống với lãnh thổ Champa dọc
theo Thu Bồn. Ở phía nam Phú Yên như ở miền Bắc Quảng Nam, ảnh hưởng của nghệ
thuật và kỹ thuật xây dựng theo mô hình tương tự như phát triển trong giai đoạn
hình thành Champa và đã được thành lập trên cơ sở các tính năng địa hình của mỗi
lãnh thổ, cũng như các truyền thống địa phương. Đặc biệt, sự hình thành ban đầu,
mô hình đô thị, kiến trúc và các yếu tố trang trí của khảo cổ học Champa ở Phú
Yên cho thấy sự tồn tại ở đây là của một thực thể chính trị khép kín chứ không
phải là một lãnh thổ phụ thuộc.
Thách thức đối
với nghiên cứu hiện nay là thiết lập những phát hiện này trong bối cảnh không
gian và thời gian. Đặc biệt, làm thế nào giải thích sự tồn tại của mối liên hệ
giữa các nền văn hóa vật chất của các thung lũng sông Đà Rằng, sông Thu Bồn và
các con sông khác của miền Trung Việt Nam.
2. Khai quật
Đồng Miễu lần thứ nhất 2019
2.1. Vài nét về di tích Đồng Miễu
Di tích Đồng Miễu thuộc địa bàn
khu phố Định Thọ 1, thị trấn Phú Hòa, huyện Phú Hòa, tỉnh Phú Yên. Từ trung tâm
thị trấn Phú Hòa (Thành Hồ) theo quốc lộ 25 chừng 2km, đến cầu Đồng Dinh rẽ phải
theo đường kênh chính bắc, qua khu dân cư Định Thọ 1 sẽ tới khu vực di tích. Di
tích là một gò đất lẫn nhiều gạch Champa cổ, tọa độ GPS: E 00627855; N1440729
(N 13001.554’; E 109001.723’), độ cao so với mực nước biển
29m, cao hơn mặt bằng hiện tại chừng 3m, nằm trong khuôn viên nhà ông Nguyễn Tấn
Xu (thường gọi là Năm Xu) 74 tuổi, sống độc thân, nuôi heo, gà, vịt, bò. Trên
gò đất này (di tích) ông Năm Xu đã xây cất nhà ở, bếp và dãy chuồng heo chiếm hết
3/4 di tích. Với sự xâm lấn di tích như vậy gây rất nhiều khó khăn cho việc mở
hố khai quạt khảo cổ học. Toàn bộ khu Định Thọ 1 trong đó có di tích Đồng Miễu
nằm trong một thung lũng nhỏ, được bao quanh bởi các núi, dãy núi. Phía đông nam
là Hòn Một, phía bắc - đông bắc là Hòn Ông, phía tây là Hòn Ngang, qua bên kia
sông Ba là Núi Bà (nơi có di tích kiến trúc Champa thế kỷ XII).
Hình 1. Dòng chảy cổ qua di tích -(Nguồn: Tác giả)
Phía đông của di tích, ngay sát
quả gò là một dòng chảy như một con suối lớn. Qua khảo sát chúng tôi thấy đây
chính là những gì còn lại của một dòng chảy cổ, ở đây còn lại dấu tích của thềm
sót với nhiều cuội nhỏ, lòng sông còn rất nhiều cát dạng hạt thô, những yếu tố
đủ để kết luận về một dòng sông cổ.
Điều tra kỹ khu vực xung quanh di
tích, chúng tôi phát hiện dấu tích của một cây cầu và một con đập, có thể đây
là sản phẩm của thời kỳ Champa. Trên nền đất gần nơi con sông cổ và con đập,
chúng tôi cũng thu lượm được những mảnh gốm Champa cổ, gốm có văn in ô vuông kiểu
Hán. Điều này cho biết khu vực này phải có di chỉ cư trú của cư dân Champa xưa
từ những thế kỷ III, IV tương tự như lớp cư trú Thành Hồ.
Năm 2003, GS. Trần Quốc Vượng
cùng các cộng sự từ Hà Nội và Bảo tàng Phú Yên đã đến và khẳng định đây là một
di tích kiến trúc Champa. Trong những năm sau đó các cán bộ của Viện Khảo cổ học,
Trung tâm trường Viễn đông Bác cổ Pháp tại Hà Nội, Bảo tàng Phú Yên cũng đã đến
khảo sát di tích này và nhận định đây có thể là Thánh địa Bà La Môn giáo của
vùng Champa Phú Yên theo mô hình vùng Champa của GS. Trần Quốc Vượng (Trần Quốc
Vượng 1998). Ngược lên theo dòng sông Ba chừng hơn 10km sẽ đến Thành Hồ, trung
tâm hành chính của Champa xưa, nay là trung tâm hành chính huyện Phú Hòa, vượt
qua dãy Hòn Ông theo một con đường cổ mà người dân vẫn còn nhớ là đến thung
lũng Định Thọ hiện nay, nơi có di tích Đồng Miễu, vị trí địa lí này cho phép đi
đến nhận định: Khu di tích Đồng Miễu chính là Thánh địa của tiểu vùng Champa xưa
nay là tỉnh Phú Yên. Câu hỏi đặt ra ở đây là: tại sao Thánh địa mà lại chỉ có một
ngôi đền khá khiêm tốn? Câu trả lời là không dễ và chúng tôi sẽ cố gắng giải
đáp ở phần thuyết minh về đặc trưng di tích và di vật của Đồng Miễu.
2.2. Đặc trưng di tích
Sau khi làm xuất lộ gần như toàn
bộ mặt tường phía tây, một phần quay góc sang mặt tường phía Bắc, một phần nhỏ
lòng di tích, chúng tôi đã xác nhận đây là phần còn lại của một ngôi đền thờ Champa
mà chúng ta quen gọi là tháp Chàm.
Hình 2. Mặt đế và một phần tường phía tây - (Nguồn: Tác giả)
Về kiến trúc thì một ngôi đền,
tháp thờ Champa sẽ có bình đồ vuông hoặc chữ nhật với phần nền, móng được gia cố
kĩ lưỡng, vững chắc, tiếp đến là phần đến, sau nữa là tường hay còn gọi là thân
tháp, trên cùng là bộ mái tháp.
Giữa đế và thân tháp cũng như giữa
thân và mái tháp thường có các đường giật cấp làm ranh giới. Ở di tích này, khu
vực khai quật cũng đã làm rõ các cấu trúc nền, móng và một phần thân tháp. Bây
giờ chúng ta sẽ đọc kiến trúc này từ dưới lên trên.
2.2.1. Nền
Được tạo bởi một loại hợp chất gồm
đất, đá nhỏ, gạch, ngói vụn và có thể trộn với một loại dầu thực vật (loại dầu
làm nguyên liệu chủ yếu chế tạo chất kết dính xây dựng các kiến trúc gạch Champa
xưa). Hợp chất này được đổ xuống hố nền và được đầm rất chặt tạo nên một lớp nền
vững chắc trước khi xây móng. Lớp nền có màu xám đen. Ở bên ngoài mặt kiến trúc
phía tây, chúng tôi xác định lớp nền dày 40cm.
2.2.2. Móng
Được xây bằng loại gạch hình chữ
nhật (loại gạch chiếm số lượng lớn nhất, phổ biến tại di tích), kích thước
trung bình 32x18x6,5 (cm), được tính từ hàng gạch thứ 1 đến hàng gạch từ 1-11,
cao 65cm, Các viên gạch được xây nằm ngang, đều nhau, không thấy có gạch vỡ,
không giật cấp, đến viên số 10 giật ra 5cm để bắt đầu phần đế tháp.
2.2.3. Đế
tháp
Được xây bằng loại gạch chữ nhật
giống như gạch xây móng. Bắt đầu từ hàng 12 đến hàng 23, cao 72cm. Từ phần đế
tháp bắt đầu có kĩ thuật giật gạch tạo những đường nét có tính trang trí mặt
tháp.
Các lần giật:
- Hàng 12, 13, 14 xây phẳng giật
vào so với hàng 11 là 18cm
- Hàng 15 xây lên, hàng
16, 17,18 giật vào 4cm và được xây bằng loại gạch vát xiên, đến hàng gạch 19
xây bằng loại gạch kiểu chậu úp tạo ra một mặt xiên được kết thúc bằng một đường
lượn mềm mại tạo cảm giác chân đế vững chắc nhưng cũng rất điệu đàng.
- Hàng 20 được xây thẳng lên kết
thúc phần đế tháp.
2.2.4. Thân
tháp hay tường tháp
Cũng được
xây bằng loại gạch hình chữ nhật như các phần đế và móng. Phần tường còn lại từ
hàng gạch 23 đến 38, cao 106cm. Phần chân tường gồm 4 hàng gạch từ 24 đến 27 được
xây giật cấp, hai hang gạch 22 và 23 được xây thẳng lên làm ranh giới giũa thân
và đế tháp. Tường dày 150cm.
Các lần giật:
- Hai hàng 24 và 25 giật ra 5cm
- Hàng 26 giật vào 4cm
- Từ hàng 27 trở lên xây phẳng
Nhìn toàn bộ phần xây giật cấp của
đế và phần chân tường hay thân tháp chúng ta dễ dàng nhận thấy phần dưới của
ngôi tháp được tạo các đường trang trí bằng cách xây giật gạch đẩy ra đưa vào
nhịp nhàng tạo một nét kiến trúc uyển chuyển nhưng vững chắc. Với phần chân đế
như thế này tôi chắc chắn phần diềm mái, ranh giới giữa thân tháp và mái tháp
cũng được xây giật gạch như vậy, thậm chí còn có những họa tiết khác bởi chúng
tôi đã phát hiện một số viên gạch có những nét tạo hình tính đặc biệt trong hố
khai quật. Nếu vậy, mặt tường tháp sẽ rất đẹp, với những đường gạch trang trí
nhịp nhàng tạo nên một giai điệu kiến trúc thanh thoát và linh thiêng.
2.2.5. Cửa
giả phía tây
Chúng ta biết một kiến trúc đền
thờ, tháp thờ Champa có cửa chính ra vào ở phía đông, các mặt tường còn lại tây,
nam, bắc đều không có cửa mở mà chỉ là các cửa giả bằng cách tạo một khối nhô
ra khỏi mặt tường. Ở các ngôi đền tháp có niên đại muộn từ thế kỷ VIII trở về
sau, các cửa giả được làm nhô hẳn ra khỏi tường tháp và có cả các trụ cột, hai
bên thường có các bức tượng tròn hoặc phù điêu thể hiện các vị thần, hộ pháp
hay tu sĩ. Ở kiến trúc Đồng Miễu này, phần nhô cửa phía tây rất nhỏ, chỉ 4cm,
chân cửa hơi choãi ở phần đế tháp. Bề rộng của cửa 90cm, cửa cũng được xây giật
cấp theo phần đế và thân tháp. Phải rất tinh mắt và hiểu các kiến trúc Champa cổ
mới có thể nhận ra. Vì chưa khai quật hết di tích nên chúng tôi chưa biết về
các cửa giả còn lại, nhưng tôi tin rằng các cửa giả còn lại cũng tương đồng như
cửa giả phía tây. Đây cũng là một nét riêng có, đặc trưng của di tích Đồng Miễu.
Và đây cũng có thể được coi là tiêu chí của những ngôi đền tháp Champa có niên
đại sớm, trước thế kỷ thứ VI.
2.2.6. Kết
cấu lòng tháp
Đây là một ngôi tháp có kết cấu
lòng rất phức tạp.
Phần nền ở vách tây dày 35cm, chất
liệu cũng giống như phần nền ở chân móng bên ngoài tháp. Trong khi đó nền vách nam
là 90cm, phía bắc cũng vậy. Đây là điều rất khó hiểu khi nghiên cứu cấu trúc lòng tháp này.
Phần móng phía tây cao 55cm, gạch
giống như gạch xây tường và móng tháp, từ hang số 1 đến hàng số 6. Phần đế cao
90cm, từ hàng 7 đến hàng gạch 18, phần này xây không nghiêm túc lắm, nhiều nơi
trùng mạch, một thứ tối kị trong kĩ thuật xây gạch.
Phần thân cao 110cm, từ hàng gạch 19 đến hàng
gạch 31, phần này xây rất nghiêm chỉnh với kĩ thuật câu gạch, một viên đặt theo
chiều dài tiếp đến là viên gạch đặt theo chiều rộng, lặp đi lặp lại cho đến hết.
Ở phía nam lòng tháp, phần nền
cao 90cm, chất liệu như các nền khác. Phần móng 1m, thần thân và đế không hề xuất
lộ mà trên móng chỉ thấy một lớp dày gạch đổ, dường như công trình bị sụp đổ
khi xây dựng lại. Đặc biệt phần móng ở đây được xây bằng loại gách có kích thước
lớn 43x24x8,5 (cm), gạch màu vàng nhạt, chất liệu xốp, độ nung không cao, lõi gạch
không đen. Có một hiện tượng khá đặc biệt, tại góc tây nam có một trụ gạch xây ốp
vào vách tường phía tây, câu vào vách nam với loại gạch lớn, màu vàng nhạt giống
như gạch xây móng phía nam và trụ phía bắc. Điều này chứng tỏ trụ gach này xây
sau tường phía tây và cùng thời với móng, tường phía nam.
Hình 3. Trụ áp tường góc tây nam – (Nguồn:Tác giả)
Trụ có chiều cao 2m, chân móng rộng
50x50 (cm), cao 1 mét, phía trên, phần gắn vào tường phía tây được thu giật
vào, khoảng giữa chân móng và thân trụ có một phần chỉ nhồi hợp chất gạch vụn,
đá, đất sét. Toàn bộ phần này cao 110cm, rộng 40x40 (cm). Hiện tượng này cho thấy
trong khi xây trụ đã có sự đổ vỡ và những người thợ đã gắn hợp chất vào để gia
có trụ gạch. Trụ này có tác dụng như một trụ áp tường để làm tăng độ vững chắc
cho phần tường phía nam. Trụ này xây sau phần tường phía nam.
Hiện tường này cùng với việc trong
lòng kiến trúc được nhồi chặt bằng một hợp chất gạch vỡ (gạch tương tự như gạch
xây tường phía tây và gạch đổ bên ngoài kiến trúc), đất sét, mảnh ngói, mảnh gốm,
đá nhỏ và dầu thực vật tạo nên một khối vững chắc trong lòng tháp khiến chúng
tôi đi đến nhận định: Ngôi tháp này được xây lần đầu với đại diện là bức tường
phía tây, sau đó vì lí do nào đó ngôi tháp bị đổ, chủ nhân của kiến trúc tiếp tục
cứu vãn công trình bằng cách gia cố lòng tháp bằng cách nhối chặt bằng hợp chất
của vật liệu của công trình cũ, xây thêm các trụ ốp tường phía góc tây nam và
trụ ốp tường phía bắc, đồng thời xây thêm hai hàng gạch ốp vào tường tây bằng
chính loại gạch đã xây tháp lần đầu và chính lớp xây thêm này cũng bị đổ vỡ nhiều
và chủ nhân lại lấp đầy chỗ vỡ bằng hợp chất gạch, đá vụn, đất sét trộn với dầu
thực vật, hợp chất này như một loại béton. Hợp chất dạng này chúng tôi thường gặp
ở nhiếu di tích khác như An Xá (Quảng Trị), Tháp Bà (Hội An), Cát Tiên (Lâm Đồng)…
Hình 4. Gia cố lòng kiến trúc -(Nguồn: Tác giả)
Tóm lại, đây là một loại hình kiến
trúc đề tháp Champa đặc biệt, quy mô tháp nhỏ, mặc dù chỉ mới xuất lộ gần hết mặt
tây của di tích nhưng chúng tôi cũng có thể đưa ra cá số đo của cả cạnh tây là
620cm, nếu tháp có bình đồ vuông thì các cạnh còn lại cũng chỉ như vậy. Căn cứ
vào kích thước của các cạnh tháp chúng tôi có thể hình dung tháp này nếu được
xây hoàn chỉnh sẽ có độ cao tối đa 15-16m. Nghiên cứu kĩ cấu trúc tháp cả trong
lẫn ngoài chúng tôi nhận thấy có 2 lần xây dựng, tại phần thân tháp gần góc tây
bắc lộ diện hai lớp gạch xây ốp vào mặt tường đã có trước, việc xây ốp như vậy
chỉ để tăng bề dày của tháp nhằm chịu một lực đè, nén từ trên xuống. Chúng tôi
giả định đây là lần xây dựng thứ 2, lần này có thể xây cả bộ mái bằng gạch nên
cần gia cố chiều dày của tường. Như vậy lần xây đầu, ngôi tháp có thể chỉ được
lợp ngói với bộ khung mái bằng chất liệu nhẹ như gỗ, tre. Một đặc điểm thú vị nữa
của ngôi tháp là toàn bộ mặt tường tháp, cả trong lẫn ngoài đều được quét một lớp
dầu thực vật màu đen. Lớp dầu này có tác dụng như lớp sơn tường để chống ngấm
và tăng cường sự liên kết của các viên gạch mặt tường. Hiện tượng này không thấy
có ở các di tích Champa khác thời kì sau. Đây cũng là một tiêu chí của tháp Champa
thời kì đầu, niên đại sớm thế kỷ IV, V. Căn cứ vào loại gạch, chất liệu gạch
khác nhau của hai lần xây dựng, căn cứ vào vật liệu ngói và gốm trong lớp nhồi
lòng tháp của lần xây sau chúng dần đi đến giả thiết lần xây dựng đầu vào khoảng
thế kỷ IV, lần sau muộn hơn, khoảng thế kỷ V. Ở phần đặc trưng di vật chúng tôi
sẽ đưa ra những nhận xét rõ hơn.
2.3. Đặc trưng di vật
2.3.1. Gạch
Cũng như các đền tháp Champa khác,
ở Đồng Miễu có khá nhiêu loại hình gạch, từ gạch hình chữ nhật nguyên vẹn đến
các loại hình thang, cắt góc, vát xiên, vê tròn, úp chậu, giật cấp, có xuất hiện
một vài viên gạch có nét tạo hình lạ, dường như đó là một phần của motif hoa văn nào đó trên diềm mái, vì chưa có đủ
các viên gạch đặc biệt đó để dựng lại hoa văn nên chúng tôi tạm nhận định như vậy.…
Các nhà khảo cổ đã chọn một số những viên gạch tiêu biểu cho di tích để nghiên
cứu và phục vụ việc trưng bày bảo tàng. Tổng số các viên gạch là 87 gồm nhiều
loại hình khác nhau. Bên cạnh những đặc điểm chung của gạch Champa như nguyên
liệu được làm kĩ, có trộn nhiều vỏ trấu, thực vật như cành cây chặt nhỏ, nhiều
loại hình khác nhau như cắt góc kiểu chữ L, giật cấp, hình thang, mài mỏng, vát
một đầu, vê tròn một đầu… để phục vụ cho
kĩ thuật xây công trình cho phù hợp với các họa tiết hoặc giật cấp, kẻ tường…
thì gạch ở đây có nhiều khác biệt như gạch có lõi đen, một hiện tượng phổ biến
của gạch Champa lại xuất hiện rất ít ở Đồng Miễu, điều này chứng tỏ có sự khác
nhau về kĩ thuật nung gạch thời kì đầu với thời kỳ sau này.
Có thể thời kỳ đầu của việc xây dựng các đền tháp bằng gạch kĩ thuật
nung gạch chưa thật nhuần nhuyễn, Gạch ở đây có độ cứng và màu sắc không đều,
có viên quá cứng, gần như sành, có viên lại quá mềm, bở. Xương gạch viên thì đỏ
sẫm, viên đỏ nhạt, viên thì vàng nhạt, có viên lại màu nâu đen. Gạch có lõi đen
ít và cũng không đều về độ cứng, có viên phàn lõi đen cứng như sành, có viên lại
đen nhạt và “mềm”. Đồng thời với sự lúng túng, chưa nhiều kinh nghiệm trên chất
liệu gạch của “thủa ban đầu” ấy là kĩ thuật xây dựng cũng chập chững và hậu quả
là đổ vỡ công trình, phải làm đi làm lại và dường như công trình này cũng không
tồn tại được bao lâu?
Hình 5. Các loại gạch trong di tích - (Nguồn: Tác giả)
2.3.2. Đá
Hiện
vật đá ở đây chỉ duy nhất có một viên cuội tự nhiên tròn, nhẵn. Người ta thường
thấy những viên cuội như thế này trong các ngôi đền thờ và được gọi là đá thờ hay
đá thiêng, rất may mắn là trong lớp đổ vỡ của những viên gạch nhồi lòng tháp của
lần xây sau, chúng tôi phát hiện một phần của viên gạch có khoét lỗ tròn tên mặt
gạch đủ để dặt viên đá này lên, tạo thành một bộ liga-yoni đơn giản. Hiện tượng
này chúng tôi đã thấy xuất hiện ở di tích 1A Cát Tiên (Lâm Đồng). Hiện vật này
chắc chắn là sản phẩm của lần xây dựng thứ nhất, thế kỷ IV.
Hình 6. Một số mảnh gốm trong lòng kiến trúc -(Nguồn: Tác giả)
Hình 8. Một số mảnh gốm trong lòng kiến trúc -(Nguồn: Nguyễn Tiến Đông)
2.3.3. Gốm
Đồ gốm ở di tích này rất ít, chỉ có 97 mảnh trong hố khai quật và 13 mảnh
sưu tầm trên mặt đất khu vực xung quanh, song lại vô cùng quan trọng cho việc định
niên đại của di tích.
Trừ một vài mảnh gốm nhặt trên mặt đất vùng xung quanh di tích (chỉ
mang tính tham khảo) thì toàn bộ những mảnh gốm được thu thập trong hố khai quật,
chủ yếu là trong lớp hợp chất nhồi lòng tháp cho lần xây sau. Một số mảnh gốm
còn dính lớp đất sét, sạn cát, sỏi nhỏ có dấu dầu thực vật. Gốm ở đây chủ yếu là những mảnh vỡ của nồi, vò và kendy. Ngoại
trừ 3 mảnh gốm văn in ô vuông có màu đỏ, xương mịn, còn lại gốm đều có màu xám
đen, xương gốm đen lẫn nhiều cát, sạn nhỏ, gốm khá thô, độ nung thấp, chất liệu
và đặc trưng gốm này khá tương đồng với gốm ở H1, độ sâu 1,79m cuộc khai quật Thành Hồ năm 2009.
Tổng số có 62 mảnh trong khai quật lòng tháp, 35 mảnh bên ngoài tháp, sát chân
tường phía tây. Trong số gốm lòng tháp có 5 mảnh miệng 1 mảnh đế, 1 cổ gốm, 1
vòi kendy, 2 mảnh vai còn lại là thân gốm. Đặc biệt có 10 mảnh gốm dày, áo gốm
màu trắng ngả bạc, xương màu đỏ, chất liệu thô lẫn nhiều cát, sạn, đây là những
mảnh gốm vỡ ra từ một cái vại hoặc lu lớn. Với chất liệu gốm như đã nêu, cùng sự
có mặt của gốm văn in ô vuông kiểu Hán, chúng tôi nói là văn in kiểu Hán chứ
không nói là gốm Hán, bởi văn in này có độ sắc nét không cao, in nông, xương gốm
không đanh như gốm Hán thật, đây là sản phẩm bắt chước, ăn theo gốm Hán đã có
thừ trước đó, thế kỷ II, III. Chính vì nó là kiểu Hán, bắt chước nên có niên đại
muộn hơn, khoảng thế kỷ IV. Kết hợp với kết quả nghiên cứu kiến trúc ở trên,
chúng tôi nhận định lần xây tháp thứ nhất có niên đại thế kỷ IV, lần sửa chữa,
thậm chí xây lại tháp sau đó vào khoảng thế kỷ V.
Hình 7. Gốm niên đại sớm, thế kỷ IV - (Nguồn: Tác giả)
Với những đặc trưng di vật, từ vật liệu xây dựng
như gạch, đến các loại gốm, đá, trong đó các chỉ định về gốm là rất quan trọng,
việc chỉ có gốm thô, xương pha nhiều sạn, cát đi cùng với những mảnh gốm văn in
ô vuông kiểu Hán đủ để đưa ra niên đại đầu của ngôi tháp này là thế kỷ IV.
3. Tạm kết
Trước hết, cuộc khai quật này dù là muộn kể từ khi phát hiện, nhưng nó
đã mang lại những kết quả rất tốt. Chỉ với diện tích rất khiêm tốn 35m2,
độ sâu nơi sâu nhất là 270cm, các nhà khảo cổ đã làm xuất lộ một phần nhỏ của một
kiến trúc đền tháp Champa được xây dựng trong một thung lũng nhỏ cách di tích
thành Hồ nổi tiếng 3km, cách sông Ba 1,5km. dù mới xuất lộ một phần, song những
thông tin về di tích là rất phong phú.
3.1.
Về khoa học
Đây là di tích đền tháp xây gạch
Champa có niên đại sớm nhất được biết đến lần đầu tiên trong văn hóa Champa. Các
nhà khoa học Pháp không biết đến di tích này. Từ trước đến nay, các nghiên cứu
về kiến trúc Champa đều cho rằng trước thế kỷ VII, có lẽ Champa chưa có công
trình đền tháp xây gạch, mà chỉ là các kiến trúc sử dụng vật liệu nhẹ như gỗ,
tre… Việc phát hiện di tích tháp Đồng Miễu đã cho chúng ta suy nghĩ khác hơn, rằng
từ thế kỷ IV người Champa đã xây dựng đền tháp bằng gạch cho dù cả kĩ thuật sản
xuất gạch đến trình độ xây dựng còn chưa hoàn thiện, thậm chí non nớt nhưng đó
có thể là những viên gạch đầu tiên tạo nền móng cho những tuyệt tác kiến trúc Champa
sau này.
3.2.
Giá trị Lịch sử - văn hóa
Vị trí của ngôi tháp phần nào chứng minh cho lý thuyết về các vùng Champa,
các lãnh thổ Champa trong lịch sử của GS. Trần Quốc Vượng, đây có lẽ chính là
nơi các chủ nhân Champa xưa chọn làm khu
Thánh Địa, tuy nhiên có thể do còn chưa nắm bắt đầy đủ và chưa thật có kinh
nghiệm nên việc ứng xử với loại vật liệu mới là gạch đã không được như ý muốn.
Công trình bị đổ, vỡ nhiều lần, quy mô nhỏ lại ở vùng có nhiều lụt lội nên đã
không có nhiều các công trình được xây dựng thêm. Vào thời kì sau những cuộc nội chiến giữa các tiểu vùng, tiểu
quốc Champa đã làm suy sụp cả Thành Hồ lẫn Thánh địa của nó. Dẫu vậy, di tích
này vẫn là một điểm sáng trên bản đồ di tích Champa ở miền Trung Việt Nam với
giá trị lịch sử-văn hóa rất lớn và đáng trân trọng.
3.3.
Phát huy di tích
Phú Yên là một miền đất chứa đựng
nhiều di tích Champa, ngoại trừ Tháp Nhạn sừng sững đang đứng đó và tháp Phú
Lâm có niên đại muộn đang buồn bã hắt hiu vì chưa được quan tâm thì trong lòng
đất Phú Yên còn chứa đựng nhiều di tích rất quan trong, đơn cử như di tích Champa
ngoài Lao Mái Nhà, Hòn Chùa, mấy chục giếng đá ở thôn Xuân Dục, bên cạnh đó là
Hòn Tháp, Thành Hồ… Và hiện nay có thêm Đồng Miễu. Có thể vẽ một tour Champa
như thế này; Hòn Chùa - Xóm Giếng Xuân Dục - Hòn Tháp - Tháp Nhạn - Thành Hồ và
kết thúc là Đồng Miễu với sự thông hiểu di tích và văn hóa Chăm của tour guide
cũng như một hệ thống cơ sở vật chất tạm tốt cho các di tích, ngành du lịch Phú
Yên có thể giữ khách thêm ít nhất một đêm nữa. Đưa người dân quanh di tích vào
cuộc, di tích sẽ mang lại lợi ích cho họ và khi đó không cần tuyên truyền, người
dân sẽ chăm lo, bảo vệ di tích vì đó là một phần quan trọng cuộc sống của họ.
4. Kiến nghị
- Ngay sau đây ngành văn hóa Phú Yên tham mưu cho lãnh đạo tỉnh một kế
hoạch tiếp tục khai quật và nghiên cứu di tích Đồng Miễu và khu vực phụ cận. Di
dời các công trình nhà ở, chuồng trại hiện đang xâm hại di tích ra khỏi vùng bảo
vệ, tiến hành khai quật toàn bộ di tích. Sau khi hoàn thành khai quật phải dựng
mái che, giữ gìn bảo quản di tích thành một bảo tàng tại chỗ phục vụ cho việc
nghiên cứu khoa học, giảng dạy, đào tạo và phát huy du lịch trong thời gian tới.
- Sau khi khai quật và nghiên cứu tổng thể nên xây dựng hồ sơ di tích
đề nghị công nhận di sản cấp Quốc gia vừa là để tăng thêm giá trị Lịch sử - văn
hóa, vừa tạo một hành lang pháp lý giữ gìn di sản lâu dài. Lập tức có quy hoạch,
cắm mốc bảo vệ di tích, khuyến cáo chủ đất không xây cất các công trình nhà cửa,
trồng cây lưu niên trong khu vực quy hoạch bảo vệ.
TÀI LIỆU DẪN
BAROCCO F. AND ZOLESE P. 2006. Ceramic typologies found during the
excavations performedon My Son Group
(2004-2005). In 11th International
Conference of European Association of SoutheastAsian Archaeologists (EASEAA), Bougon,
France, 2006.
BAROCCO F 2011. Archaeological Landscape and Urban Models in Phu Yen
Province. In Proceeding of the International Conference: “The
Cultural Heritage in Coastal Land of Southern Central Vietnam with the Tourism
Development in International Integration”, Tuy Hòa Town, Phú Yên Province,
2-4 April 2011, (in publication).
ĐẶNG VĂN THẮNG
ET AL 2010. Thăm dò, khai quật di tích Thành Hồ (Phú Yên). Trong NPHMVKCH 2009 : Nxb. KHXH, Hanoi: 676-680.
ĐẶNG VĂN THẮNG 2011. Thành Hồ trong bối cảnh thành cổ Chămpa (Thanh Ho
in the context of the Champa citadels). Proceeding of the International
Conference: “The Cultural Heritage in
Coastal Land of Southern Central Vietnam with the Tourism Development in International
Integration”, Tuy Hòa Town, Phú Yên Province, 2-4 April 2011, (in
publication).
FINOT L. 1902. Notes
d'épigraphie. I. - Deux nouvelles inscriptions de Bhadravarman Ier, roi de
Champa.
BEFEO II, 1902, p. 185-191
HARDY A.2009. Economic History of Champa and
Central Vietnam in Hardy A., Cucarzi M., Zolese P
(eds). In Champa and the
Archaeology of Mỹ Sơn (Vietnam), Singapore: 114.
LÂM THỊ MỸ DUNG 2002. Kết quả khảo sát Thành Hồ, tháng 7/2001. Trong NPHMVKCH năm 2001.
Nxb. KHXH, Hà Nội: 798-800.
LÂM THỊ MỸ DUNG 2005. Đồ gốm trong những địa điểm
khảo cổ học Champa ở miền Trung Việt Nam.
Trong Khảo cổ học, số 1: 69.
LÊ ĐÌNH PHỤNG,
NGUYỄN TIẾN ĐÔNG 1992. Núi Bà - Dấu tích một tháp Champa cổ. Trong Khảo
cổ học, số 3: 54-61.
NGUYỄN TIẾN ĐÔNG, NGUYỄN DANH HẠNH, LÊ THẾ VỊNH 2012. Loại hình lò lạ của
Champa tại Phú Yên. Trong NPHMVKCH năm 2011:
728-731.
NGUYỄN TIẾN ĐÔNG Đoàn khai quật 2020. Báo cáo kết quả sơ bộ khai quật
di tích Đồng Miễu. Trong NPHMVKCH năm
2019: 683-690.
PARMENTIER H 1902. Nouvelles
découvertes archéologiques en Annam. In BEFEO,
Tome 2: 281-282.
TRẦN KỲ PHƯƠNG 2002. Phế tích Champa: khảo luận về kiến trúc đền
tháp. Trong Nghiên cứu và Phát triển tập
1(35):75-88; tập 2(36):41-52. Sở Khoa học, Công nghệ và Môi trường Thừa Thiên Huế.
TRẦN QUỐC VƯỢNG 1998. Miền Trung Việt Nam và văn hoá giao thoa (một
cái nhìn địa văn hoá). Nxb. Văn hoá
dân tộc. H.
CHAMPA ARCHITECTURE SITES OF ĐỒNG MIỄU, PHÚ HÒA, PHÚ YÊN IN CHAMPA ARCHAEOLOGICAL
CONTEXT
NGUYỄN TIẾN ĐÔNG
The Đồng Miễu site is located at
Định Thọ 1 street, Phú Hòa town, Phú Hòa district, Phú Yên province. The site
has been surveyed many times and it was excavated for the first time in 2019
with an area of 35m2.
The excavation results revealed a small architectural
part of a Champa temple/tower including the foundation and a part of the
western tower body. This is a special architectural type of the Champa temples,
with a small scale of the tower that was about 15m-16m, which was built twice.
The collected artifacts include building materials such as bricks, stones and
coarse ceramics with designs of Chinese-style square grids,etc. At Đồng Miễu
site, there are some types of bricks such as rectangles, trapezoids, those with
cut-off corners or sloping sides, etc.
Based on various types and materials of bricks from the
two constructions, tiles and ceramics from the inserted layer inside the tower
of the later construction, the Đồng Miễu tower is supposed to be first built
around the fourth century and built later around the fifth century. This is the
temple/ tower built with Champa bricks with earliest date (up to now) in the
Champa archaeology and had never known by the French scientists in the early
twentieth century.
The tower location partly
demonstrates the theory of a Holyland model to the an administrative center and
the seaport of the Champa-culture owners and it might have been a Holyland
located west of Hồ-dynasty citadel.