Về mặt nội dung, sách có bảng mục từ hay bảng phân loại mục từ chữ Hán được sắp xếp theo thứ tự chữ cái Latinh, chữ Hán giản thể và âm đọc pinjin, các mục từ được giải thích ngắn gọn, dễ hiểu, có ghi chú riêng cho từng mục từ.
Sách có tổng 5.841 chữ Hán đơn tự, với khoảng 11.600 từ ngữ Hán, so với những cuốn từ điển Hán Việt hiện nay, cuốn sách này có quy mô, dung lượng không lớn. Đây là cuốn từ điển cỡ nhỏ, tiện dụng để tra cứu nhanh cho đối tượng bạn đọc học tập và nghiên cứu tiếng Hán. Cuốn sách này, không chỉ tiếp thu tốt những thành quả biên soạn từ điển Hán Việt hiện đại trước đây mà nó còn có những điểm đặc sắc, sáng tạo hơn; thể hiện ở 2 điểm chính: thứ nhất, cuốn sách đề ra một phương thức tra chữ Hán mới, giúp cho người đọc tiện dùng hơn; thứ hai là các tác giả đã bổ sung thêm vào các từ tượng thanh, tượng hình, từ chỉ màu sắc riêng biệt, cũng cập nhật thêm từ ngữ thuộc các chuyên ngành khoa học của tiếng Hán vào sách.
1. Phương thức tra chữ Hán mới của từ điển
Thông thường các từ điển Hán Việt trước đây có nhiều cách tra cứu để tìm âm và nghĩa tiếng Việt của chữ Hán, trong đó cách tra theo bộ thủ được dùng nhiều nhất, cách tra này gồm ba bước như sau:
Bước 1: tra bộ thủ riêng biệt của chữ Hán cần tra (gồm 214 bộ thủ).
Bước 2: tra phần hình chữ còn lại theo số nét để tìm âm đọc của chữ Hán
Bước 3: tra tìm âm và nghĩa tiếng Việt của chữ Hán
Khác với các từ điển đã ra mắt, cuốn từ điển mới này bỏ qua bước tra bộ thủ riêng biệt chỉ thực hiện cách tra còn hai bước như sau:
Bước 1: chỉ tra phần hình chữ còn lại theo số nét và đối chiếu với bộ thủ riêng biệt kèm theo, để tìm âm hoặc số trang của chữ cần tra.
Bước 2: tra tìm nghĩa tiếng Việt của chữ Hán theo số trang hoặc âm đọc tìm được qua bước 1. Ví dụ: chữ 油 yóu "du" ta chỉ cần tra 由 "do" và đối chiếu với bộ thủ 氵"thủy" kèm theo, hoặc chữ 间 jiān "gian" chỉ cần tra 日 "nhật", rồi đối chiếu với bộ thủ 门 "môn" kèm theo.
Các soạn giả cũng đặt ra nguyên tắc biên soạn từ điển như sau:
Nguyên tắc 1: khi tách chữ Hán thành hai phần: phần bộ thủ và phần hình chữ còn lại nên khi tìm một chữ Hán nào đó trong từ điển (phần tra chữ) chỉ cần tra phần hình chữ còn lại sau đó đối chiếu với bộ thủ tương ứng, khi bộ thủ và những chữ không tách ra được bộ thủ nào thì tra đủ số nét chữ Hán đó để tìm chữ. Đối với trường hợp các chữ Hán có phần hình chữ còn lại giống nhau, chỉ khác nhau về thanh điệu thì trong phần tra nghĩa các chữ Hán đó được sắp xếp gần nhau theo thứ tự về thanh điệu, giúp dễ tìm chữ hơn, dễ so sánh và tránh được những sai sót không đáng có. Ví dụ như: các chữ Hán có phần hình chữ còn lại giống nhau là: 包 bāo “bao” thì được xếp lần lượt: 苞 bāo “bao”, 雹 báo “bão” , 饱 bǎo “bão” , 刨 bào “bào”…
Nguyên tắc 2: trường hợp một số chữ Hán có nhiều bộ thủ khác nhau cấu thành, do đó có bộ thủ nằm bên trái, lại có bộ thủ nằm bên phải, hoặc ở bên trên, bên dưới chữ Hán, trong, ngoài chữ Hán; nên cùng một chữ Hán có thể đưa ra các bộ thủ riêng biệt khác nhau, có nhiều cách tra bộ thủ cho chữ đó; sự nhìn nhận bộ thủ nào là bộ thủ riêng biệt, phụ thuộc vào từng quyển từ điển khác nhau. Với riêng cuốn sách này, các soạn giả đưa ra một số quy ước nên bỏ bộ thủ riêng biệt nào, để có phần hình chữ còn lại của chữ cần tìm được xác định và duy nhất, điều này làm cho mỗi chữ Hán chỉ có một cách tra chữ, điều này làm việc tra chữ được nhanh, gọn và làm cho từ điển được đơn giản hơn.
Quy ước 1: nếu một chữ Hán chỉ có một bổ thủ riêng biệt (bên trái hoặc bên phải) thì bỏ bộ thủ riêng biệt đó đi. Nếu một chữ có hai bộ thủ riêng biệt (một bộ thủ bên trái, một bộ thủ bên phải) thì bỏ bộ thủ riêng biệt bên trái (tức bộ thủ được viết trước). Ví dụ: chữ “sán” 汕 bỏ bộ thủ riêng biệt thủy 氵(bỏ bộ thủ viết trước), hình chữ còn lại là chữ “sơn” 山. Đặc biệt, khi chữ Hán có bộ thủ sước 辶hoặc bộ dẫn 廴thường được viết sau cùng, nếu trước nó không có bộ thủ nào thì tạm bỏ đi, ví dụ: chữ "biên" 边 bỏ đi 辶, phần hình chữ còn lại là 力. Còn nếu trước nó có bộ thủ khác thì bỏ bộ thủ phía trước đi, ví dụ: chữ “kiện” 健 bỏ đi bộ thủ 亻phần hình chữ còn lại là chữ 建.
Quy ước 2: nếu một chữ chỉ có một bộ thủ riêng biệt (trên cùng hoặc dưới cùng) thì bỏ bộ thủ riêng biệt đó đi. Nếu một chữ có hai bộ thủ riêng biệt (một bộ thủ nằm trên cùng, một ở dưới cùng), thì bỏ bộ thủ riêng biệt trên cùng. Ví dụ: chữ 置 “trí” bỏ đi bộ thủ riêng biệt 罒 “võng”, phần hình chữ còn lại là chữ 直 trực.Với trường hợp, nếu số nét bộ thủ dưới cùng nhiều hơn số nét bộ thủ trên cùng (thường từ 2 nét trở lên) thì bỏ bộ thủ dưới cùng. Ví dụ: chữ "nả" 拿 bỏ bộ "thủ" 手, phần hình chữ còn lại là chữ 合.
Quy ước 3: nếu một chữ chỉ có một bộ thủ riêng biệt (bên trong hoặc bên ngoài) thì bỏ bộ thủ riêng biệt đó đi. Nếu một chữ có hai bộ thủ riêng biệt (một bộ thủ bên ngoài, một bộ thủ bên trong) thì bỏ bộ thủ riêng biệt bên ngoài. Ví dụ: chữ "quốc" 国 bỏ đi bộ thủ riêng biệt "vi" 囗, phần hình chữ còn lại là chữ 玉.
Quy ước 4: bỏ bộ thủ có nhiều nét hơn và phù hợp với các quy ước trên, nhưng không bỏ đi một phần của bộ thủ. Ví dụ: chữ "ma" 磨 bỏ bộ thủ riêng biệt "ma" 麻 có nhiều nét hơn bộ thủ "nghiễm" 广. Bộ thủ được viết trước có thể chỉ có một phần được viết. Một số chữ không có bộ thủ riêng biệt, nhưng xác định được bộ thủ viết trước hoặc bộ thủ viết sau cùng phù hợp với quy ước trên, ta vẫn bỏ bộ thủ đó đi để tìm được phần hình chữ còn lại.
Nguyên tắc 3: trong phần tra nghĩa của từ điển này, tập hợp các từ đơn được chia thành hai tập hợp con. Các phần tử của tập hợp con thứ nhất, được tập hợp từ 4 loại như sau:
Loại 1: các phần hình chữ còn lại
Loại 2: một số bộ thủ (được sắp xếp trong bảng bộ thủ của từ điển này), ví dụ: 女, 车, 音,...
Loại 3: các chữ Hán không tách ra được bộ thủ (theo các quy ước nêu trên) ví dụ: 长, 民, 之, ...
Loại 4: một chữ có phần hình chữ còn lại ứng với một âm đọc xác định mà không có nghĩa và chỉ có duy nhất một bộ thủ ghép với nó thành chữ có âm đó. Ví dụ: 眼 có phần hình chữ còn lại là 艮, ứng với âm xác định “yǎn” nhưng không có nghĩa, chỉ có duy nhất một bộ thủ 目 ghép với nó tạo thành chữ có âm đọc “yǎn” mang nghĩa là mắt, âm Hán - Việt: “nhãn” nên chữ 眼 này thuộc tập hợp con thứ nhất theo cách phân loại của từ điển.
Các phần tử của tập hợp con thứ hai là các từ đơn có cùng phần hình chữ còn lại nào đó. Các từ đơn được xếp dưới phần hình chữ còn lại của nó và lệch sang trái các cột, ghi chữ nhỏ, kèm theo âm đọc pinjin, âm Hán Việt (nét đậm), nghĩa tiếng Việt. Các từ đơn hoàn toàn giống nhau về chữ viết, nhưng khác nhau về thanh điệu thì từ có thanh điệu đứng trước được xếp vào tập hợp con thứ nhất, từ có thanh điệu đứng sau được xếp vào tập hợp con thứ hai. Ví dụ: 正 zhēng "chinh" được xếp vào tập hợp con thứ nhất còn 正 zhèng "chính" được xếp vào tập hợp con thứ hai. Các từ ghép được xếp phía dưới các từ đơn lần lượt theo vần chữ La tinh, kèm theo âm Hán và nghĩa tiếng Việt.
Đối với những người mới tiếp cận cách tra mới của cuốn từ điển này, việc bỏ đi một bộ thủ để đếm số nét trước khi tra có thể gây nên một số khó khăn hoặc nhầm lẫn, nên các soạn giả đã lập ra bảng phụ lục để dành tra chữ Hán, trong bảng phụ lục này người tra cần đếm đủ số nét, sau đó để biết ta cần bỏ đi bộ thủ nào và phần hình chữ còn lại cần tra để tìm đúng chữ Hán.
Như vậy, ta thấy được nét đặc sắc của cuốn từ điển này đã vận dụng các phương thức dùng trong Toán học vào việc phân loại chữ Hán và đưa ra một phương pháp tra chữ Hán, tra từ ngữ Hán mới lạ, sáng tạo khác biệt, khoa học và khá phù hợp hơn cả. Việc vận dụng thể hiện rõ ở chỗ những soạn giả đã dày công tách chữ Hán thành hai phần riêng biệt là bộ thủ chữ Hán và hình chữ còn lại để tạo ra cách tra chữ Hán mới; trong phần tra nghĩa tiếng Việt từ điển lại chia các tập hợp của các từ đơn thành hai tập hợp con riêng biệt.
2. Việc bổ sung các từ ngữ mới trong từ điển
Như trên đã tìm hiểu, đây là cuốn từ điển cỡ nhỏ nhưng đã cập nhật nhiều từ mới, nhất là các từ ngữ tượng thanh, từ chỉ màu sắc trong tiếng Hán, đây là những lớp từ ngữ khó, nên các cuốn từ điển Hán - Việt hiện đại trước đây biên soạn thường ít đề cập đến. Việc chuyển ngữ, chuyển dịch từ tiếng Hoa sang tiếng Việt sao cho phù hợp các từ ngữ dạng từ tượng thanh, tượng hình, từ láy là việc làm khó khăn cho những người làm công tác từ điển. Hơn nữa nhóm soạn giả vốn là giáo viên dạy môn Toán lẫn tiếng Trung nên cũng đã chú trọng phân loại riêng các thuật ngữ của Toán học trong cuốn từ điển này, nhóm tác giả đã không tránh né việc này, mà đã bổ sung thêm nhiều từ ngữ như vậy vào sách, giúp nó trở thành công cụ tra cứu bổ ích cho người Việt học chữ và từ ngữ tiếng Hán.
+) một số từ ngữ giành riêng trong toán học:
倒数 dàoshù đảo số: số nghịch đảo, 导数 dǎoshù đạo số: đạo hàm, 得数 déshù đắc số: đáp số, 底数 dǐshù để số: cơ số, 底边 dǐbiān để biên: cạnh đáy, 底角 dǐjiǎo để giác: góc đáy, 等比级数 děngbǐjíshù đẳng tỷ cấp số: cấp số nhân, 等差级数 děngchājíshù đẳng sai cấp số: cấp số cộng, 等边三角形 děng biān sān jiaǒ xíng đẳng biên tam giác hình: tam giác đều, 等腰三角形 děngyāosānjiǎoxíng đẳng yêu tam giác hình: tam giác cân, 圆周率 yuánzhōulǜ viên chu suất: số Pi, …
+) một số từ tượng thanh, tượng hình trong từ điển:
吧嗒 bādā: lách cách (từ tượng thanh), 滴嗒 dī dā trích đáp: tí tách (từ tượng thanh), 滴溜溜 dīliūliū trích lưu lưu: trơn tuồn tuột, 荡漾 dàngyàng đãng dạng: dập dềnh, 谠谠 dǎng dǎng đảng đảng: đứng đắn, 噹啷 dānglāng đang lang: leng keng, 轰隆 hōnglóng oanh long: ùng oàng, 淅沥xīlì tích lịch: rả rích, 窸窣 xīsù tất tốt: sột soạt, 熙熙攘攘 xī xī rǎng rǎng: hy hy nhương nhương: nhốn nháo, 稀稀拉拉 xīxīlālā hy hy lạp lạp: lác đác, 嘀嗒 dídā đích đáp: tích tắc, 嘀里嘟嚕 dílidūlū: đích lý đô lỗ: nói liến láu, …
+) Từ láy chỉ màu sắc trong từ điển:
白皑皑 báiáiái bạch ngai ngai: trắng toát, 白花花 báihuāhuā bạch hoa hoa: trắng muốt, 白晃晃 báihuǎnghuǎng bạch hoảng hoảng: sáng choang, 白茫茫 báimángmáng bạch mang mang: mịt mù trắng xóa, 白蒙蒙 báiméngméng bạch mông mông: (trắng) mờ mịt, 碧油油 bìyóuyóu bích du du: xanh rì rì, 碧绿绿 bì lǜ lǜ bích lục lục : xanh mơn mởn, 绿茸茸 lǜ róng róng lục nhung nhung: xanh rờn rợt, 绿瑩瑩 lǜ yīng yīng lục oanh oanh : xanh mượt, 青翠翠 qīng cuì cuì: thanh thúy thúy: xanh biếc, 青莲色 qīng lián sè thanh liên sắc : màu cánh sen (tím nhạt), 黑洞洞 hēidòngdòng hắc động động : đen mò mò, 黑压压 hēiyāyā hắc áp áp : đen kìn kịt, 黑油油 hēiyóuyóu hắc du du : đen nhánh, 红扑扑 hóngpūpū hồng phác phác : đỏ bừng bừng, 红青青 hóng qīngqīng hồng thanh thanh : đỏ thâm thẫm, 红彤彤 hóng tōng tōng hồng đồng đồng : đỏ rừng rực, 红艳艳 hóngyànyàn hồng diễm diễm: đỏ choi chói, 黄灿灿 huángcàncàn hoàng xán xán: vàng óng óng, 黄焕焕 huánghuànhuàn hoàng hoán hoán: vàng rực rỡ, 灰溜溜 huī liūliū hôi lưu lưu: màu xám xịt, ...
Từ điển Hán Việt hiện đại (2018), thật sự là một công cụ tra cứu khoa học nghiêm túc, là thành quả lao động công phu, trách nhiệm cùng công sức miệt mài của các soạn giả. Sự khoa học, mới lạ và độc đáo của từ điển này thể hiện ở hai điểm: thứ nhất là dựa vào Toán học để bổ sung phương pháp tra chữ Hán mới, giúp việc tra chữ Hán nhanh chóng, tiện lợi hơn; thứ hai là, các soạn giả đã chú ý đưa vào các từ tượng thanh, tượng hình, từ chỉ màu sắc, các từ thuộc môn Toán học. Tuy nhiên, đối với những người mới tiếp cận cách tra mới của cuốn từ điển này, việc bỏ đi một bộ thủ để đếm số nét trước khi tra có thể gây nên một số khó khăn hoặc nhầm lẫn, nên các soạn giả đã lập ra bảng phụ lục để dành tra chữ Hán, trong bảng phụ lục này người tra cần đếm đủ số nét để biết ta cần bỏ đi bộ thủ nào và phần hình chữ còn lại cần tra để tìm đúng chữ Hán.
Có thể khẳng định tuy cuốn sách có quy mô không lớn, và vẫn cần phải bổ sung để hoàn thiện tốt hơn nữa nhưng công trình này đã giúp ích vào việc tìm hiểu, học tập chữ Hán và từ ngữ tiếng Hán hiện đại.