Báo cáo tình hình lao động, việc làm và an sinh xã hội tháng 6/2026 và 6 tháng đầu năm 2026
Tháng 6 chuẩn bị cho loạt điều chỉnh quy mô lớn về quyền lợi an sinh gắn với tăng lương cơ sở có hiệu lực đồng loạt từ 1/7/2026. Sáu tháng đầu năm cũng là giai đoạn cao điểm vận hành mô hình chính quyền địa phương hai cấp cùng lúc với triển khai Nghị quyết 72-NQ/TW về chăm sóc sức khỏe nhân dân, dễ dẫn đến gián đoạn dịch vụ trong giai đoạn chuyển giao. Giai đoạn nửa đầu năm này, hệ thống an sinh xã hội đang chuyển dịch mạnh sang phương thức cung ứng dựa trên hạ tầng dữ liệu số.

1. Những kết quả nổi bật

1.1. Thị trường lao động: Duy trì đà phục hồi và tăng trưởng thu nhập

Trong 6 tháng đầu năm 2026, thị trường lao động tiếp tục ghi nhận những tín hiệu tích cực. Lực lượng lao động quý I đã đạt 53,6 triệu người, tăng hơn 687.000 người so với cùng kỳ. Đáng chú ý, thu nhập bình quân của người lao động đạt 9,0 triệu đồng/tháng, tăng 8,5 điểm phần trăm.[1]

Nền tảng việc làm được củng cố nhờ sự bùng nổ của số lượng doanh nghiệp thành lập mới (hơn 142,6 nghìn doanh nghiệp trong 5 tháng[2]) và hoạt động xuất nhập khẩu duy trì ở mức cao. Tại các cực tăng trưởng như TP.HCM, Đồng Nai và Hải Phòng, nhu cầu tuyển dụng tiếp tục mở rộng, tạo ra nhiều cơ hội việc làm đa dạng cho người lao động.

Hình 1. Tổng quan tình hình lao động và việc làm 6 tháng đầu năm 2026

 

1.2. An sinh xã hội và y tế: Bước ngoặt từ chính sách mới và số hóa

Hệ thống an sinh xã hội (ASXH) đang chuẩn bị cho một đợt cải cách lớn có hiệu lực từ ngày 01/07/2026. Các điểm nhấn quan trọng bao gồm:

  • Điều chỉnh lương và trợ cấp: Lương cơ sở, lương hưu và trợ cấp BHXH tăng 8%, đồng thời bổ sung cho nhóm hưởng thấp (dưới 3,5 triệu đồng được tăng thêm 300.000 đồng/tháng). Trần tiền lương đóng BHXH bắt buộc tăng lên 50,6 triệu đồng/tháng; trợ cấp một lần khi sinh con tăng lên 5,06 triệu đồng; trợ cấp mai táng tăng lên 25,3 triệu đồng[3]. Số người hưởng BHXH một lần giảm khoảng 28,29% trong quý I/2026, phản ánh niềm tin của người lao động đối với hệ thống ASXH[4].
  • Lưới an sinh được mở rộng đáng kể: trợ cấp xã hội và hưu trí xã hội hằng tháng phủ tới khoảng 4,5 triệu người (tăng 1,6 triệu so với 2024), tổng ngân sách 45.000 tỷ đồng/năm, 100% địa phương chi trả không dùng tiền mặt. Thành quả giảm nghèo giai đoạn 2021–2025 ấn tượng: tỷ lệ hộ nghèo đa chiều giảm còn khoảng 1,3%, vượt xa mục tiêu Quốc hội (≤2,5%).

·       Y tế và bảo hiểm y tế. Quyền lợi bảo hiểm y tế (BHYT) mở rộng thực chất từ 1/7/2026: thanh toán 50% chi phí khám ngoại trú trái tuyến tại tuyến cơ bản/chuyên sâu, và chi trả 100% cho lần khám đúng tuyến có chi phí dưới 15% lương cơ sở[5]. Số hóa y tế tăng tốc: 41 triệu Sổ sức khỏe điện tử được tích hợp trên VNeID, 1.246 bệnh viện dùng bệnh án điện tử[6]. Trong quý II/2026, các tỉnh, thành phố lần lượt triển khai khám sàng lọc miễn phí toàn dân. BHYT triển khai thí điểm tích hợp mạng lưới phòng khám bác sĩ gia đình vào hệ thống y tế cơ sở để quản lý sức khỏe toàn diện, liên tục cho người dân và giảm tải cho các bệnh viện tuyến trên[7].

Hình 2. Tổng quan tình hình an sinh xã hội 6 tháng đầu năm 2026

2. Vấn đề và thách thức

Bên cạnh những kết quả đáng khích lệ đạt được trong 6 tháng đầu năm qua, hệ thống an sinh xã hội Việt Nam cũng còn những khoảng trống và thách thức gay gắt mà các nhà hoạch định chính sách cần đối mặt:

2.1. Khoảng trống an sinh của lao động phi chính thức và lao động nền tảng số

Lực lượng lao động Việt Nam vẫn còn có hơn 30 triệu lao động phi chính thức, trong đó hàng trăm nghìn tài xế công nghệ (Grab, Be, Gojek...) hiện đang nằm ngoài hệ thống bảo hiểm xã hội (BHXH) bắt buộc[8]. Ngay trong chính hệ thống BHXH bắt buộc, cũng còn nhiều tổ chức chậm đóng BHXH cho người lao động. Đơn cử như TP.HCM đã ghi nhận 26.613 doanh nghiệp chậm đóng BHXH (tính đến tháng 4/2026)[9], cho thấy việc đảm bảo độ bao phủ của BHXH còn gặp vấn đề ngay cả đối với lao động chính thức. Việc Tổ chức Lao động Quốc tế thông qua hiệp ước bảo vệ lao động nền tảng số ngày 12/6/2026[10] cũng đặt ra cho Việt Nam nghĩa vụ đảm bảo về chính sách và thực thi theo chuẩn quốc tế. Trong khi đó, hệ thống BHXH hiện hành được thiết kế cho việc làm ổn định, chưa phù hợp với thu nhập biến động của lao động trong nền kinh tế chia sẻ và lao động số.

2.2. Loại trừ phúc lợi số đối với nhóm yếu thế

Nhóm yếu thế, đặc biệt là người khuyết tật, đang gặp khó khăn trong việc tiếp cận dịch vụ công trực tuyến. Theo Báo cáo Đánh giá nhanh thực trạng cung ứng dịch vụ công trong bối cảnh chính quyền địa phương 2 cấp, chỉ 6,4% người khuyết tật được khảo sát đã sử dụng dịch vụ công trực tuyến, bằng một phần ba nhóm không khuyết tật. Dù có tới 91% người khuyết tật sở hữu thiết bị số, nhưng phần lớn trong số họ không có năng lực số hoặc chỉ có ở mức cơ bản, do nền tảng số chưa đảm tính dễ tiếp cận đối với người khuyết tật (như đã quy định trong Thông tư số 26/2020/TT-BTTTT)[11]. Trên toàn quốc, vẫn còn khoảng 34 triệu thuê bao chưa được xác thực với cơ sở dữ liệu dân cư[12]. Khi các chính sách an sinh xã hội được cung ứng qua VNeID, nhóm thiếu năng lực số có nguy cơ bị loại khỏi hệ thống.

2.3. Lạm phát làm giảm giá trị thực của tiền lương và và các khoản trợ cấp sắp tới

Tính bình quân 5 tháng đầu năm 2026, chỉ số giá tiêu dùng đạt 4,31%, riêng tháng 5 tăng 5,6% so với cùng kỳ, lạm phát cơ bản tăng 4,04%[13]. So với chỉ tiêu lạm phát 4,5%/năm của cả năm 2026, tỷ lệ lạm phát nửa đầu năm nay thu hẹp đáng kể dư địa của chính sách ổn định giá cả, khiến phần tăng thực của lương và trợ cấp (bắt đầu từ 1/7) trở nên rất mỏng.

2.4. Hạ tầng số thị trường lao động chưa hiệu quả và lệch pha cung-cầu kỹ năng tiếp diễn

Sàn giao dịch việc làm quốc gia (vieclam.gov.vn) sau hai tháng vận hành thử mới chỉ có 83 lao động đăng ký trên hơn 6.000 vị trí tại TP.HCM[14]. Tình trạng “thừa thầy, thiếu thợ” vẫn tiếp diễn dai dẳng trên cả sàn giao dịch việc làm trực tuyến: tại Thành phố Hồ Chí Minh, nhóm có trình độ đại học chiếm 13,18% người tìm việc, nhưng chỉ 6,47% vị trí tuyển dụng, trong khi lao động phổ thông thiếu cung nghiêm trọng (6.752 người tìm việc so với 9.163 vị trí)[15]. Theo tính toán của Tổ chức lao động quốc tế, có khoảng 11,5 triệu lao động (20,8% lực lượng) chịu nguy cơ tác động bởi AI tạo sinh, trong đó lao động nữ chịu ảnh hưởng nhiều hơn (24,1% so với 17,8% ở nam)[16]. Bên cạnh đó, có gần 1,6 triệu thanh niên 15–24 tuổi không đi làm, không đi học và cũng không tham gia bất kỳ khóa đào tạo nghề nào (thanh niên NEET- chiếm 11,4%). Tình trạng thất nghiệp thanh niên nông thôn tăng 1,5 điểm phần trăm trong khi thành thị giảm[17], cho thấy áp lực việc làm thanh niên đang chuyển dịch về nông thôn, đòi hỏi chính sách đào tạo nghề và kết nối việc làm phải mở rộng phạm vi địa bàn.

2.5. Phân hóa vùng và chuẩn nghèo mới

Hộ nghèo phân hóa sâu theo vùng địa lý: Đắk Lắk còn 4,13% (gấp 3 lần bình quân cả nước), trong đó 66% tổng hộ nghèo là đồng bào dân tộc thiểu số[18]. Thêm vào đó, chuẩn nghèo giai đoạn 2027–2030 với mức thu nhập cao hơn đáng kể (nông thôn 2,2 triệu; đô thị 2,8 triệu đồng/tháng) sẽ làm gia tăng đáng kể đối tượng cần hỗ trợ, đòi hỏi chuẩn bị nguồn lực và hệ thống dữ liệu từ sớm.

3. Xu hướng, dự báo và giải pháp đề xuất

Thị trường lao động nửa cuối năm 2026 nhiều khả năng tiếp tục phục hồi, nhờ tăng trưởng công nghiệp chế biến-chế tạo và xuất nhập khẩu[19], cùng lực đẩy từ tăng lương cơ sở. Tuy nhiên, ba vấn đề sau đây sẽ là thách thức với hệ thống ASXH trong thời gian tới: 1) Tăng trưởng không bao trùm khi lạm phát nhóm hàng thiết yếu vượt tốc độ tăng thu nhập của nhóm nghèo và cận nghèo; 2) Tốc độ chuyển đổi số và AI vượt năng lực thích ứng của hệ thống ASXH; 3) Khoảng trống an sinh kéo dài của hơn 30 triệu lao động phi chính thức. Trên cơ sở đó, chúng tôi đề xuất các giải pháp ưu tiên như sau:

3.1. Thiết kế gói bảo hiểm xã hội linh hoạt

Cần khẩn trươngg xây dựng cơ chế nhận diện và thiết kế gói BHXH linh hoạt (đóng theo thu nhập thực tế cho lao động nền tảng số) phù hợp với tiêu chuẩn quốc tế của ILO. Đồng thời, cần rà soát Bộ luật Lao động và Luật Việc làm 2025 theo hướng phân loại dựa trên mức độ phụ thuộc kinh tế; và tăng cường cưỡng chế thu BHXH với chế tài đủ mạnh.

3.2. Áp dụng Khung 5A nhằm bảo đảm chuyển đổi số bao trùm

Các nền tảng số cần áp dụng Khung 5A (Tính sẵn có, Chi phí phù hợp, Tăng cường nhận thức, Dễ tiếp cận, Tập huấn sử dụng)[20] để thiết kế lại dịch vụ công số đảm bảo bao trùm người khuyết tật và người cao tuổi. Song song đó là duy trì bắt buộc kênh phục vụ trực tiếp tại Trung tâm phục vụ hành chính công và Tổ công nghệ số cộng đồng cấp xã, song song với kênh số.

3.3. Tăng cường hạ tầng số với thị trường lao động

Cần tích hợp dữ liệu BHXH, BHYT và đào tạo nghề vào Sàn giao dịch việc làm quốc gia đẩy mạnh truyền thông để giảm thiểu tình trạng lệch pha cung - cầu; gắn giáo dục nghề nghiệp với dự báo nhu cầu nhân lực theo vùng; ưu tiên đào tạo lại nhóm hành chính- văn phòng và lao động nữ; mở rộng chương trình đào tạo nghề và kết nối việc làm sang địa bàn nông thôn nơi tỷ lệ thanh niên NEET đang gia tăng.

3.4. Chuẩn bị cho chuẩn nghèo mới

Cần sớm xây dựng nguồn lực và hệ thống dữ liệu để ứng phó với việc thay đổi chuẩn nghèo giai đoạn 2027–2030, vốn sẽ làm gia tăng đáng kể đối tượng cần hỗ trợ; ưu tiên nguồn lực cho vùng đồng bào dân tộc thiểu số nơi tỷ lệ nghèo cao gấp nhiều lần bình quân cả nước.

TS. Đặng Thị Việt Phương
Nguồn bài viết: Viện Xã hội học và Tâm lý học
Tin xem nhiều
Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tất cả: 1