Từ quan niệm của C.Mác về công bằng phân phối đến nguyên tắc phân phối trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay
Tóm tắt: Quan điểm công bằng phân phối dưới chủ nghĩa xã hội được C.Mác thể hiện thông qua phê phán “cương lĩnh của Đảng công nhân Đức”. Theo C.Mác, ở giai đoạn đầu của hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa - tức chủ nghĩa xã hội vẫn chưa thể có công bằng thật sự, vì vẫn còn tàn dư của “pháp quyền tư sản” và nguyên tắc phân phối phải là dựa theo lao động. Ở Việt Nam hiện nay, Đảng Cộng sản Việt Nam đã kế thừa nguyên tắc phân phối của C.Mác, đồng thời vận dụng sáng tạo vào hoàn cảnh cụ thể Việt Nam. Vì vậy, nguyên tắc phân phối ở Việt Nam hiện nay chủ yếu dựa vào kết quả lao động và hiệu quả kinh tế, đồng thời dựa vào sự đóng góp vốn và các nguồn lực khác cho sản xuất kinh doanh, và phân phối thông qua hệ thống an sinh xã hội, thông qua phúc lợi xã hội. Nguyên tắc phân phối đó là hợp lý và đầy tính nhân văn. Tuy nhiên, trong quá trình hiện thực hóa nó thì kết quả còn chưa được như mong muốn: Phân hóa giàu nghèo vẫn diễn ra sâu sắc, khoảng cách về thu nhập và điều kiện sống giữa nông thôn và thành thị, giữa miền xuôi và miền núi vùng sâu, vùng xa còn lớn.

Từ khóa: Công bằng phân phối, C.Mác, kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

1. Quan niệm của C.Mác về công bằng phân phối dưới chủ nghĩa xã hội

Như chúng ta biết, vấn đề công bằng phân phối trong chủ nghĩa xã hội đã được C.Mác đề cập trong tác phẩm “Phê phán cương lĩnh Gôta”. Trong tác phẩm này, C.Mác nghiên cứu giai đoạn đầu của hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa - chủ nghĩa xã hội. C.Mác chỉ ra rằng chủ nghĩa xã hội có nghĩa là cải tạo cách mạng căn bản chủ nghĩa tư bản, tiêu diệt sự thống trị chính trị của giai cấp tư sản và sở hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa, biến nó thành thành tựu của toàn thể nhân dân.

Dự báo những biến đổi cách mạng sẽ diễn ra trong đời sống kinh tế, chính trị và văn hóa trong giai đoạn đầu của hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa, C.Mác phê phán gay gắt cách tiếp cận tiêu dùng của Latxan đối với các vấn đề của chủ nghĩa xã hội, quan điểm trừu tượng về “công bằng”. Thay vào những câu tù mù về “công bằng phân phối”, về “thu nhập lao động”, về “sản phẩm đầy đủ của lao động - cho công nhân”, được thể hiện trong cương lĩnh Gôta - cương lĩnh của Đảng công nhân Đức(*), C.Mác giải thích rằng quan điểm đúng về chủ nghĩa xã hội có thể có được trước hết từ sự phân tích những điều kiện của sản xuất cũng chính là cái quy định các nguyên tắc phân phối.

Trong quá trình phê phán cách tiếp cận tiêu dùng đối với các vấn đề của chủ nghĩa xã hội, C.Mác luận chứng sự phụ thuộc của nguyên tắc phân phối xã hội chủ nghĩa vào phương thức sản xuất. Ông chỉ ra sự đối lập căn bản giữa nguyên tắc phân phối xã hội chủ nghĩa với nguyên tắc phân phối tư bản chủ nghĩa. Theo C.Mác, dưới chủ nghĩa xã hội, các điều kiện vật chất của sản xuất được phân phối hoàn toàn khác so với dưới chủ nghĩa tư bản, chúng được thể hiện dưới hình thức xã hội và tư liệu sản xuất thuộc về người lao động. Từ sở hữu xã hội chủ nghĩa rút ra sự phân phối xã hội chủ nghĩa, trong đó phần lớn thu nhập quốc dân sẽ được sử dụng để thỏa mãn nhu cầu của các thành viên trong xã hội, phần còn lại dùng để thỏa mãn các nhu cầu chung của xã hội. C.Mác phê phán gay gắt quan điểm trừu tượng về “thu nhập không bị cắt xén của lao động” của Latxan, vì nó xuyên tạc các quá trình kinh tế khách quan, định hướng một cách giả dối người công nhân khi nó cho rằng, dưới chủ nghĩa xã hội người công nhân sẽ nhận được sản phẩm lao động của mình một cách toàn vẹn không bị cắt xén. Trên thực tế, trong chủ nghĩa xã hội cũng tồn tại các nhu cầu xã hội và nhu cầu cá nhân, C.Mác cho rằng, trong tương lai, nhu cầu xã hội chung sẽ ngày càng tăng. Vì thế, cần[1]phải để lại một phần sản phẩm xã hội trong thu nhập quốc dân để bù vào sự hao mòn của tư liệu sản xuất, để tái sản xuất mở rộng, để dành cho giáo dục, y tế, quản lý, cho quỹ dự trữ quốc gia, quỹ phúc lợi xã hội. Ở đây, C.Mác nhấn mạnh rằng cái phần thu nhập quốc dân dành cho thỏa mãn các nhu cầu xã hội như trường học, cơ quan y tế… dưới chủ nghĩa xã hội sẽ tăng lên một cách đáng kể so với dưới chủ nghĩa tư bản và sẽ ngày càng tăng theo mức tăng của sự phát triển kinh tế - xã hội. Như vậy, đòi hỏi của Latxan về “thu nhập không bị cắt xén của lao động” là hư cấu, và việc đưa nó vào cương lĩnh của Đảng công nhân là một sai lầm tai hại.

C.Mác cũng chỉ ra rằng, dưới chủ nghĩa xã hội thu nhập quốc dân được phân phối không phải với mục đích làm giàu cho riêng một giai cấp nào, mà vì lợi ích của toàn xã hội, của tất cả mọi người lao động. Về vấn đề này, C.Mác viết: “Nhưng nội dung và hình thức có đổi khác, vì trong những điều kiện đã thay đổi thì không một ai có thể cung cấp một cái gì khác ngoài lao động của mình và mặt khác, vì ngoài những vật phẩm tiêu dùng cá nhân ra thì không còn cái gì khác có thể trở thành sở hữu của cá nhân được” [5, tr.34]. Cụ thể hơn, ở đây C.Mác muốn nói rằng, ở giai đoạn đầu của hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa tư liệu sản xuất thuộc về toàn xã hội, mỗi công dân là một người lao động, họ không có tư liệu sản xuất riêng, chỉ có tư liệu tiêu dùng cá nhân, do đó họ chỉ khác nhau ở số lượng và chất lượng lao động đóng góp vào quá trình sản xuất, điều đó quyết định nguyên tắc phân phối. Và từ đó, C.Mác đã nêu đặc điểm đặc thù quan trọng nhất của nguyên tắc phân phối dưới chủ nghĩa xã hội - dựa trên đặc thù xã hội về tư liệu sản xuất tức là, loại trừ sự phân hóa giai cấp và sự bóc lột, đó là nguyên tắc phân phối theo lao động có thể hiểu là ai làm nhiều hưởng nhiều, ai làm ít thì hưởng ít. Tư tưởng này cũng được V.I.Lênin luận chứng trong Nhà nước và cách mạng khi ông đối lập các nguyên tắc xã hội chủ nghĩa với pháp quyền tư sản mà ông cho là thứ pháp quyền củng cố quan hệ người bóc lột người: Ai không làm việc, người đó không có ăn [Xem: 6, tr.116] (tất nhiên là phải trừ đi những người già, người tàn tật, mất sức lao động…).

Trong phê phán quan điểm của Latxan về “thu nhập không bị cắt xén của lao động”, C.Mác cũng chỉ ra đặc điểm của phân phối dưới chủ nghĩa xã hội (giai đoạn đầu của hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa) đồng thời chỉ ra sự khác biệt cơ bản của nó với nguyên tắc phân phối cộng sản chủ nghĩa. Ông xuất phát từ quan điểm cho rằng các nguyên tắc của pháp quyền không bao giờ có thể đứng cao hơn so với chế độ kinh tế và trình độ phát triển kinh tế của xã hội đó. Áp dụng các nguyên tắc đó cho việc phân tích giai đoạn đầu của hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa, C.Mác chỉ ra rằng, chúng mang trên mình một số dấu ấn của xã hội tư bản, những tàn dư của chúng trong ý thức con người. Do vậy, dưới chủ nghĩa xã hội, người lao động có thể vẫn nhận các vật phẩm tiêu dùng không phải theo nhu cầu, mà theo lao động, điều đó có nghĩa là vẫn còn một sự bất bình đẳng nhất định trong việc thỏa mãn nhu cầu của người lao động. Bởi lẽ, dưới chủ nghĩa xã hội thước đo như nhau được sử dụng đối với mọi người mà người lao động trên thực tế lại là không như nhau, không bằng nhau. Họ có năng khiếu cá nhân không như nhau, khả năng lao động không như nhau. Ngoài ra, một công nhân thì có vợ, người khác thì không, người này có nhiều con hơn người kia…, do đó, trong một khoảng thời gian như nhau, những người lao động đạt được lượng lao động xã hội không như nhau và sẽ nhận một lượng sản phẩm không như nhau. C.Mác viết: “Do vậy, với một công việc ngang nhau và do đó, với một phần tham dự như nhau vào quỹ tiêu dùng của xã hội thì trên thực tế, người này vẫn lĩnh nhiều hơn người kia, người này vẫn giàu hơn người kia, v.v.. Muốn tránh tất cả những thiếu sót ấy thì quyền phải là không bình đẳng, chứ không phải là bình đẳng” [5, tr.35]. Như vậy, một bước chuyển tư liệu sản xuất thành sở hữu xã hội vẫn chưa xóa bỏ được các khuyết tật của phân phối, hay sự khác biệt trong thu nhập của người lao động. Về hạn chế trong phân phối, hay có thể nói là những bất công còn tồn tại ở giai đoạn đầu của hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa, V.I.Lênin cũng đã nói không nên rơi vào ảo tưởng khi nghĩ rằng sau khi xóa bỏ chế độ tư bản chủ nghĩa thì những bất công, tàn dư của pháp quyền tư sản, sẽ lập tức biến mất, điều đó chỉ xảy ra dưới chủ nghĩa cộng sản.

Theo C.Mác, nguyên tắc phân phối theo lao động ở giai đoạn đầu của hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa có thể chuyển sang nguyên tắc phân phối theo nhu cầu chỉ khi sản xuất xã hội đạt được trình độ rất cao, khi mà của cải vật chất được sản xuất ra đủ dồi dào, phong phú, khi khắc phục được sự khác biệt giữa thành thị và nông thôn, giữa lao động trí óc và lao động chân tay. Về vấn đề này, C.Mác viết: “Trong một giai đoạn cao hơn của xã hội cộng sản chủ nghĩa, khi mà sự phụ thuộc có tính chất nô dịch của con người vào sự phân công lao động của họ không còn nữa và cùng với nó, sự đối lập giữa lao động trí óc với lao động chân tay cũng không còn; khi mà lao động trở thành không những là một phương tiện để sinh sống mà bản thân nó còn là một nhu cầu bậc nhất của đời sống; khi mà cùng với sự phát triển toàn diện của các cá nhân, sức sản xuất của họ cũng ngày tăng lên và tất cả các nguồn của cải của xã hội đều tuôn ra dồi dào,- chỉ khi đó người ta mới có thể vượt hẳn ra khỏi giới hạn chật hẹp của pháp quyền tư sản và xã hội mới có thể ghi trên lá cờ của mình: làm theo năng lực, hưởng theo nhu cầu!” [5, tr.36]. Như vậy, theo C.Mác, chỉ có dưới chủ nghĩa cộng sản thì mới có sự phân phối công bằng thật sự và đồng thời mới xóa bỏ được hoàn toàn bất công xã hội.

2. Nguyên tắc phân phối trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay

Cần lưu ý rằng nguyên tắc phân phối theo lao động mà C.Mác đưa ra là ở xã hội xã hội chủ nghĩa - giai đoạn đầu của hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa. Trong xã hội đó nền kinh tế được xây dựng dựa trên hai hình thức sở hữu: Tập thể và toàn dân, không có kinh tế tư nhân.

Tuy nhiên, ở Việt Nam hiện nay, công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội bắt đầu từ một xuất phát điểm rất thấp. Do đó, thời kỳ quá độ có thể rất dài: “Từ nay đến giữa thế kỷ XXI, toàn Đảng, toàn dân ta phải ra sức phấn đấu xây dựng nước ta trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại, theo định hướng xã hội chủ nghĩa” [2, tr.71]. Việt Nam đi lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa. Xã hội xã hội chủ nghĩa mà C.Mác đề cập trong “Phê phán cương lĩnh Gôta” là xã hội thoát thai từ xã hội tư bản chủ nghĩa một xã hội có nền đại công nghiệp phát triển cao, trong đó quan hệ sản xuất mới không những không kìm hãm mà còn có tác dụng mở đường cho lực lượng sản xuất phát triển. Nguyên tắc phân phối của C.Mác dựa trên mô hình xã hội chủ nghĩa mà ở đó “xã hội tổ chức theo nguyên tắc của chủ nghĩa tập thể, dựa trên chế độ công hữu về tư liệu sản xuất thì những người sản xuất không trao đổi sản phẩm của mình, ở đây lao động chi phí vào việc sản xuất ra các sản phẩm cũng không biểu hiện ra thành giá trị của sản phẩm ấy… (N.G.T. nhấn mạnh)” [5, tr.33]. Việt Nam hiện chưa đạt đến trình độ đó. Nền kinh tế của Việt Nam hiện nay là nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, ở đó “thực hiện nhất quán và lâu dài chính sách phát triển kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, vận động theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, theo định hướng xã hội chủ nghĩa, đó chính là nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Đó là mô hình tổng quát của nước ta trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội” [1, tr.23].

Chúng ta đã biết, trước đổi mới (1986), nền kinh tế nước ta vận hành theo cơ chế tập trung quan liêu bao cấp, dựa trên hai hình thức sở hữu tập thể và toàn dân đối với những tư liệu sản xuất chủ yếu. Nguyên tắc phân phối khi đó là “làm theo năng lực, hưởng theo lao động”. Nhưng do lực lượng sản xuất ở trình độ quá thấp kéo theo năng suất lao động cũng quá thấp, không tương ứng với quan hệ sản xuất, nên nguyên tắc phân phối này đã bị biến tướng thành “cào bằng”, “bình quân”. Cũng chính phương thức phân phối đó, do nó “cào bằng” những năng lực và cống hiến khác nhau, nên đã là một trong những nguyên nhân kìm hãm, triệt tiêu động lực phát triển của nền kinh tế và cũng là một trong những nguyên nhân gây ra khủng hoảng kinh tế - xã hội trầm trọng ở nước ta vào những năm 80 của thế kỷ XX.

Công cuộc đổi mới ở nước ta đã khắc phục sự không phù hợp giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất. Thực tiễn đã chỉ ra rằng, không thể áp đặt một cách chủ quan toàn bộ nền kinh tế ở trình độ thấp về lực lượng sản xuất vào hai hình thức sở hữu tập thể và toàn dân và xóa bỏ lập tức các thành phần kinh tế khác mà không gây ra các hậu quả kinh tế - xã hội tương ứng. Ở đây, có thể hiểu theo lập luận của C.Mác chính nền sản xuất xã hội dựa trên chế độ công hữu về những tư liệu sản xuất chủ yếu đã quy định một nguyên tắc phân phối mới. Nếu nền kinh tế dựa vào chỉ hai hình thức sở hữu tư liệu sản xuất (toàn dân và tập thể), sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất không tồn tại, thì phân phối theo lao động là hợp lý (với điều kiện là lực lượng sản xuất phát triển đủ mạnh), vì người lao động đều là người làm công, đồng thời là chủ. Khi đó, lao động sống của người lao động cộng với lao động quá khứ kết tinh trong tư liệu sản xuất sẽ tạo nên giá trị của sản phẩm. Nhưng tư liệu sản xuất là của chung, nên chỉ còn khác nhau ở lao động sống của người lao động, vì thế phân phối theo lao động là công bằng và hoàn toàn hợp lý.

Tuy nhiên nền kinh tế của Việt Nam hiện là nền kinh tế nhiều thành phần (kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể, kinh tế tư nhân, kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài, kinh tế với đa hình thức sở hữu), cho nên nếu chỉ duy trì một hình thức phân phối theo lao động là không hợp lý. Để có công bằng thì việc phân phối còn cần phải có các hình thức phân phối khác phù hợp với các quan hệ kinh tế - xã hội đang hiện tồn, chẳng hạn: Phân phối dựa trên sự đóng góp vốn và các nguồn lực khác nhằm thu hút các nguồn vốn tạo động lực cho phát triển. Hay phân phối cũng cần phải tính đến những nhân tố ngoài kinh tế: Đó là những người đã đóng góp xương máu, sức lực tuổi trẻ cho các cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc nay không còn sức lao động hoặc những người tàn tật, già cả, neo đơn không nơi nương tựa; hay phải tính đến sự đóng góp của những lao động đặc thù như tài năng đặc biệt trong khoa học, nghệ thuật, kỹ thuật, công nghệ… Đây là loại lao động phức tạp mà nhiều khi không trực tiếp tạo ra sản phẩm nhưng lại đóng góp vào sự phát triển văn hóa và một cách gián tiếp, góp phần vào quá trình sản xuất ra sản phẩm. Nguyên tắc phân phối thể hiện tinh thần đó đã được ghi trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển năm 2011) của Đảng Cộng sản Việt Nam: “…Thực hiện chế độ phân phối chủ yếu theo kết quả lao động, hiệu quả kinh tế, đồng thời theo mức đóng góp vốn cùng các nguồn lực khác và phân phối thông qua hệ thống an sinh xã hội, phúc lợi xã hội” [2, tr.74]. Dựa trên những nguyên tắc phân phối cơ bản đó, Cương lĩnh cũng đề cập một cách cụ thể, những định hướng cho các chính sách để xây dựng một xã hội công bằng về cơ hội việc làm, về thu nhập cho mọi người lao động.

Như vậy, chủ trương về phân phối trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa của Đảng Cộng sản Việt Nam dựa trên những nền tảng cơ bản của nguyên tắc phân phối của chủ nghĩa Mác - Lênin, đồng thời có phát triển cho phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh cụ thể của Việt Nam. Chủ trương đó cũng phù hợp với tư tưởng của C.Mác rằng, chế độ phân phối tư liệu tiêu dùng phải phụ thuộc vào sự phân phối chính những điều kiện của sản xuất: “Bất kỳ một sự phân phối nào về tư liệu tiêu dùng cũng chỉ là hậu quả của sự phân phối chính ngay những điều kiện sản xuất; nhưng sự phân phối những điều kiện sản xuất lại là một tính chất của chính ngay phương thức sản xuất” [5, tr.37].

Như đã thấy, chủ trương, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam về phân phối là công bằng, hợp lý và đầy tính nhân văn. Cũng cần phải nói rằng, việc hiện thực hóa những chủ trương, đường lối ấy trong thực tiễn cuộc sống đã đạt được những thành tựu đáng kể: “Ngân sách nhà nước dành cho các công trình quốc gia nhằm thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội gia tăng hàng năm. Việt Nam đã hoàn thành hầu hết và cơ bản các mục tiêu thiên niên kỷ. Đặc biệt là đã thực hiện tốt các chỉ tiêu giảm nghèo, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, thực hiện nhiều chính sách để ổn định, từng bước nâng cao đời sống nhân dân. Quan tâm thực hiện những chính sách người có công. Đã thực hiện có hiệu quả nhiều chính sách đối với người cao tuổi, người khuyết tật, trẻ em, phụ nữ, đồng bào dân tộc thiểu số ở vùng cao, vùng sâu, vùng xa” [3, tr.132].

Tuy đạt được những thành tựu đáng kể trong việc thực hiện công bằng xã hội như vậy, nhưng cũng cần phải thừa nhận rằng, trên thực tế, trong đời sống kinh tế - xã hội ở Việt Nam hiện nay việc giải quyết nhiều vấn đề liên quan đến công bằng xã hội vẫn còn chưa được như mong muốn: “Quản lý phát triển xã hội, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội còn nhiều hạn chế, khuyết điểm. Sự phát triển các lĩnh vực, các vùng miền thiếu đồng bộ. Việc giải quyết một số vấn đề xã hội chưa hiệu quả; mục tiêu xây dựng quan hệ hài hòa giữa các lĩnh vực, ngành nghề, vùng, miền chưa đạt yêu cầu; giảm nghèo chưa bền vững, chênh lệch giàu nghèo và bất bình đẳng có xu hướng gia tăng” [3, tr.133].

Thực vậy, sự bất bình đẳng trong xã hội hiện nay ở nước ta vẫn còn tồn tại khá phổ biến, nhất là về thu nhập, về thụ hưởng những thành quả của tăng trưởng của người dân, về tiếp cận các dịch vụ xã hội của các tầng lớp dân cư, các địa phương, vùng miền khác nhau. Tỷ lệ nghèo trong dân cư, nhất là ở nông thôn, vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào các dân tộc thiểu số còn cao. Trong số những người giàu nổi lên, có những người làm giàu chân chính, do có năng lực kinh doanh và đầu tư đúng hướng. Nhưng không ít người giàu lên do buôn lậu, làm hàng giả, trốn lậu thuế, thậm chí một số người giàu lên một cách nhanh chóng bằng tham nhũng. Đáng chú ý là chênh lệch giàu - nghèo có xu hướng gia tăng, khoảng cách về thu nhập giữa 20% người giàu nhất so với 20% số người nghèo nhất, theo những số liệu thống kê gần đây, lên đến gần 10 lần [Xem: 4, tr.74]. Người nông dân, chiếm một số lượng lớn ở nước ta, vẫn còn chịu nhiều thua thiệt, trong đó đáng lưu ý là người nghèo, người bị mất đất sản xuất mà chưa được đào tạo nghề để ổn định cuộc sống. Công nhân và một bộ phận trí thức và nói chung những người làm công ăn lương còn gặp không ít khó khăn trong cuộc sống hàng ngày cũng như trong việc tiếp cận các cơ hội phát triển.

Qua hơn 30 năm đổi mới, hệ thống y tế của Việt Nam đã phát triển hơn trước, song vẫn tồn tại và nảy sinh nhiều bất cập: Chi phí y tế cao so với thu nhập trung bình của người dân, vì thế người nghèo có nhu cầu khám chữa bệnh chưa tiếp cận được các dịch vụ y tế tốt nhất. Một bộ phận không nhỏ dân cư giàu có, khá giả hiện nay có xu hướng ra nước ngoài chữa bệnh. Trong giáo dục, cũng xuất hiện tình trạng tương tự. Nhiều con em nông dân, con nhà nghèo, nhất là ở các vùng miền núi, vùng dân tộc thiểu số thiếu thốn điều kiện học tập, không có cơ hội tiếp cận giáo dục chất lượng cao. Vì thế, họ rất khó kiếm được việc làm với thu nhập khá hơn. Trong khi đó, tại các thành phố lớn, con em trong các gia đình khá giả có điều kiện được hưởng nền giáo dục chất lượng cao, thậm chí được hưởng nền giáo dục hiện đại ở các nước tiên tiến…

Là một nước đang phát triển, tại Việt Nam, quá trình đô thị hóa đã và đang diễn ra nhanh chóng, tuy nhiên vấn đề nhà ở vẫn chưa được giải quyết thỏa đáng. Dù Nhà nước đã có rất nhiều cố gắng, nhưng giá nhà ở (đặc biệt là ở các thành phố lớn) vẫn rất cao so với thu nhập của đa số người dân. Chính sách tín dụng đối với bất động sản tuy đã thực hiện được tương đối tốt trong thời gian qua nhưng vẫn còn nhiều điểm nghẽn. Chính sách xây dựng nhà ở xã hội, nhà cho người có thu nhập thấp là hướng đi đúng của Đảng, Nhà nước, nhằm giải quyết vấn đề nhà ở cho người dân có thu nhập thấp, nhưng việc thực thi chính sách này cũng đang gặp phải nhiều bất cập.

Bên cạnh những vấn đề đã nêu trên, đáng lo ngại và bức xúc nhất hiện nay là nạn tham nhũng, được cho là một trong những nguyên nhân gây ra sự phân hóa giàu nghèo sâu sắc ở Việt Nam. Tham nhũng có nhiều nguyên nhân, nhưng một trong những nguyên nhân cơ bản là quyền lực không được kiểm soát và vẫn chưa xóa bỏ được cơ chế xin cho. Cơ chế xin cho còn tồn tại thì vẫn còn kiểu phân phối bằng quyền lực [Xem: 8, tr.39], và đây là hình thức tham nhũng tệ hại nhất bởi nó liên quan đến lợi ích nhóm. Trên thực tế, tham nhũng xuất hiện ở tất cả các khâu của quá trình phân phối và phân phối lại, nó làm cho quá trình phân phối bị méo mó, gây ra những bất công xã hội. Việt Nam đã có luật phòng, chống tham nhũng. Đảng và Nhà nước Việt Nam đã và đang rất tích cực chống loại giặc nội xâm này. Tuy nhiên, việc ngăn chặn và đẩy lùi tệ nạn này vẫn đang vấp phải không ít khó khăn.

Ở Việt Nam hiện nay, nguyên tắc phân phối chủ yếu vẫn dựa trên nguyên tắc phân phối mà C.Mác đã đề cập trong tác phẩm “Phê phán cương lĩnh Gôta” - tức chủ yếu vẫn dựa trên kết quả (chất, lượng) của lao động. Đồng thời, vì nền kinh tế của Việt Nam hiện nay là nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, nên ngoài nguyên tắc phân phối dựa vào lao động, chính sách phân phối còn cần phải dựa vào các cơ sở khác như sự đóng góp vốn và các nguồn lực khác, vào hiệu quả của sản xuất kinh doanh… Song song với thực hiện các nguyên tắc phân phối đó, Đảng và Nhà nước ta chủ trương đẩy mạnh việc xóa đói giảm nghèo bền vững bằng các chính sách phù hợp nhằm xây dựng một xã hội ngày càng công bằng hơn.

Tài liệu tham khảo

[1]    Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.

[2]    Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.

[3]    Đảng Cộng sản Việt Nam (2016), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Văn phòng Trung ương Đảng, Hà Nội.

[4]    Bùi Thị Hoàn (2013), Phân hóa giàu nghèo ở Việt Nam: Thực trạng và giải pháp, Tạp chí Khoa học xã hội Việt Nam, số 6 (67).

[5]    C.Mác và Ph.Ăngghen (1995), Toàn tập, t.19, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.

[6] V.I.Lênin (1976), Toàn tập, t.33, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva.

[7] Nguyễn Gia Thơ (2011), Vấn đề công bằng và bình đẳng trong lịch sử triết học và triết học phương Tây hiện đại, Tạp chí Khoa học xã hội Tp. Hồ Chí Minh, số 4.

[8]    Nguyễn Gia Thơ (2017), Tham nhũng ở Việt Nam: Thực trạng và một số giải pháp, Tạp chí Nội chính, số 47, tháng 8.



(*) Nguồn: Năm 1863, tháng 5, Latxan được bầu là chủ tịch Liên đoàn công nhân Đức - Từ điển Bách khoa Triết học Liên Xô, Mátxcơva, 1983, tr.301. Tuy nhiên có tài liệu nói về Đảng này theo tên: Đảng xã hội chủ nghĩa Đức (vì Latxan tự coi là người xã hội chủ nghĩa). Có tài liệu dùng cụm từ: Đảng công nhân Đức”.

Nguyễn Gia Thơ, Viện Triết học
Nguồn bài viết: Trang Thông tin điện tử Viện Triết học
Tin xem nhiều
Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tất cả: 1