Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về phát triển kinh tế gắn với công bằng xã hội trong giai đoạn hiện nay
Phát triển kinh tế gắn với bảo đảm công bằng xã hội là nguyên tắc nhất quán, xuyên suốt quá trình lãnh đạo cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam. Từ nền tảng lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng luôn khẳng định tăng trưởng kinh tế đi đôi với công bằng xã hội là đặc trưng cơ bản của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Trong kỷ nguyên phát triển mới của đất nước, quan điểm này tiếp tục được Đảng kế thừa, phát triển với nội hàm sâu sắc hơn, gắn với yêu cầu phát triển nhanh, bền vững và bao trùm. Bài viết tập trung phân tích hai nội dung chính: Quan điểm của Đảng về phát triển kinh tế gắn với công bằng xã hội trong giai đoạn hiện nay và Nhận diện một số âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề này để xuyên tạc, chống phá sự nghiệp đổi mới của Việt Nam; từ đó, góp phần tích cực vào công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.
1. Đặt vấn đề
Trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn coi phát triển kinh tế (PTKT) gắn với bảo đảm công bằng xã hội (CBXH) là nội dung chiến lược, phản ánh bản chất và định hướng phát triển của chế độ xã hội chủ nghĩa (XHCN) ở Việt Nam. Hiện nay, khi Việt Nam bước vào kỷ nguyên vươn mình, để tranh thủ thời cơ và vượt qua các thách thức mới, quan điểm này tiếp tục được Đảng bổ sung, phát triển với nội hàm sâu sắc hơn, gắn với yêu cầu phát triển nhanh, bền vững, bao trùm và lấy con người làm trung tâm.
Tuy nhiên, khi toàn Đảng và toàn dân đang cố gắng tranh thủ thời cơ, tăng tốc, bứt phá để phát triển, thì các thế lực thù địch và các phần tử cơ hội lại lợi dụng những khó khăn, tồn tại trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội như tình trạng chênh lệch giàu nghèo giữa các vùng miền, các nhóm dân cư, các vấn đề liên quan đến an sinh xã hội, việc làm… để hạ thấp uy tín, phủ nhận những thành tựu trong tăng trưởng kinh tế và thực hiện CBXH của Đảng và Nhà nước, kích động tâm lý hoài nghi trong xã hội.
Xuất phát từ thực tiễn đó, bài viết tập trung phân tích quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về PTKT gắn với CBXH trong giai đoạn hiện nay; đồng thời nhận diện, phản bác một số âm mưu và thủ đoạn lợi dụng chống phá sự nghiệp đổi mới của Việt Nam, từ đó góp phần tích cực vào công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.
2. Những nội dung cơ bản trong quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về phát triển kinh tế gắn với công bằng xã hội trong giai đoạn hiện nay
2.1. Phát triển kinh tế và công bằng xã hội có mối quan hệ biện chứng
Quan điểm PTKT gắn với CBXH của Đảng Cộng sản Việt Nam được hình thành trên nền tảng lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Trên cơ sở kế thừa những lý luận nền tảng đó, Đảng Cộng sản Việt Nam từng bước hoàn thiện quan điểm PTKT gắn với thực hiện tiến bộ và CBXH phù hợp với yêu cầu của từng giai đoạn cách mạng; coi đây là yếu tố then chốt để làm cho dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Kể từ năm 1986, qua 9 kỳ đại hội, mối quan hệ giữa PTKT và CBXH luôn được Đảng xác định theo hướng biện chứng, gắn bó hữu cơ và hỗ trợ lẫn nhau. Đây chính là động lực tạo nên sự phát triển bền vững của đất nước và là nguyên tắc cốt lõi để kiên trì định hướng XHCN trong bối cảnh hiện nay.
Trước Đổi mới, có ý kiến cho rằng Việt Nam cần ưu tiên phát triển kinh tế, kinh tế đạt đến trình độ cao mới thực hiện được CBXH. Quan điểm này đi ngược lại lý luận Mác-xít và tư tưởng Hồ Chí Minh vì coi CBXH là kết quả của tăng trưởng kinh tế, thay vì là mục tiêu và động lực của quá trình phát triển. Kinh nghiệm quốc tế cho thấy, nếu tuyệt đối hóa PTKT mà xem nhẹ mục tiêu xã hội, sẽ làm bất bình đẳng gia tăng, xã hội bất ổn định. Tăng trưởng kinh tế và CBXH cần phải làm tiền đề cho nhau và nguyên tắc là phải thực hiện CBXH ngay trong từng bước phát triển kinh tế. Đây chính là yếu tố cốt lõi bảo đảm sự phát triển bền vững và bao trùm. Vì vậy, Đảng khẳng định “Trình độ phát triển kinh tế là điều kiện vật chất để thực hiện chính sách xã hội, nhưng những mục tiêu xã hội lại là mục đích của các hoạt động kinh tế ” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 1986) và CBXH là động lực, mục tiêu của PTKT. Quan điểm này được thể hiện ngay từ Đại hội đổi mới 1986 (Đại hội VI) cho đến nay.
Năm 2011, Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH nêu rõ XHCN mà nhân dân ta hướng tới và xây dựng là xã hội “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”, trong đó “con người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện”. Cương lĩnh khẳng định: “Chính sách xã hội đúng đắn, công bằng vì con người là động lực mạnh mẽ phát huy mọi năng lực sáng tạo của nhân dân trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” và yêu cầu “kết hợp chặt chẽ, hợp lý phát triển kinh tế với phát triển văn hóa, xã hội, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước và từng chính sách” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2011).
Trên cơ sở đó, Đại hội XII tiếp tục đặt ra yêu cầu phát triển nhanh, bền vững và “giải quyết hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế với phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, bảo vệ môi trường” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2016); yêu cầu Nhà nước sử dụng thể chế, các nguồn lực, công cụ điều tiết, chính sách phân phối và phân phối lại để phát triển văn hóa, thực hiện dân chủ, tiến bộ và công bằng xã hội; bảo đảm an sinh xã hội, từng bước nâng cao phúc lợi xã hội, chăm lo cải thiện đời sống mọi mặt của nhân dân, thu hẹp khoảng cách giàu – nghèo…
Đại hội XIII tiếp tục cụ thể hóa yêu cầu này: thực hiện tiến bộ và CBXH ngay trong từng bước và từng chính sách phát triển; tăng trưởng kinh tế đi đôi với phát triển văn hóa, y tế, giáo dục, bảo vệ môi trường... giải quyết tốt các vấn đề xã hội vì mục tiêu phát triển con người. Đặc biệt, Đại hội XIII đã nhấn mạnh việc thực hiện các mục tiêu PTKT gắn với CBXH phải “phù hợp với nhu cầu, lợi ích của các tầng lớp dân cư, nhóm xã hội”, “bảo đảm bình đẳng về cơ hội phát triển, nhất là với lao động khu vực phi chính thức” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2021), “thu hẹp khoảng cách giàu - nghèo giữa các vùng, miền, dân tộc” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2021).
Bước vào kỷ nguyên mới, năm 2026, Đại hội XIV tiếp tục yêu cầu phải kiên trì mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”; khẳng định gắn tăng trưởng kinh tế với bảo đảm tiến bộ và CBXH thông qua việc ưu tiên nguồn lực cho an sinh xã hội và phát triển con người; xây dựng hệ thống an sinh xã hội đa tầng, hiện đại, bao phủ toàn dân; nâng cao phúc lợi xã hội, an ninh con người; bảo đảm mọi người dân được tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản có chất lượng; quan tâm các nhóm yếu thế, khu vực phi chính thức và thực hiện nhất quán nguyên tắc “không để ai bị bỏ lại phía sau" (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026a).
Đại hội XIV còn gắn kết PTKT và thực hiện CBXH với các vấn đề mới của thời đại như bảo vệ tài nguyên, môi trường, chủ động thích ứng với biến đổi khí hậu, quá trình già hoá dân số, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh. Trong đó, già hóa dân số, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh… là những biến số mới chưa từng xuất hiện trong các văn kiện Đại hội từ XI-XIII.
Các kỳ Đại hội VI, XI, XII, XIII, Đảng chủ yếu nêu nguyên tắc: “tăng trưởng kinh tế đi đôi với tiến bộ, CBXH”, “không hy sinh CBXH để chạy theo tăng trưởng kinh tế”... thì đến Đại hội XIV, Đảng đã thể hiện quyết tâm tạo dựng nền tảng vật chất mạnh mẽ hơn bao giờ hết cho mục tiêu PTKT và CBXH khi đưa ra mục tiêu tăng trưởng “hai con số”, lượng hóa các chỉ tiêu xã hội (năm 2030 cơ bản không còn hộ nghèo, khám sức khoẻ miễn phí ít nhất mỗi năm một lần cho người dân…).
Như vậy, trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, tăng trưởng kinh tế và CBXH là hai mục tiêu gắn bó hữu cơ, cùng hướng tới mục tiêu phát triển nhanh, bền vững, lấy con người làm trung tâm và hiện thực hóa khát vọng xây dựng Việt Nam trở thành nước phát triển, thu nhập cao vào năm 2045.
2.2. Phát triển kinh tế gắn với công bằng xã hội là yêu cầu xuyên suốt của mô hình phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới
Tăng trưởng kinh tế và tiến bộ, CBXH không phải là nội dung mới hay nhu cầu phát triển của riêng Việt Nam. Đây là khát vọng của tất cả các quốc gia trong mọi thời đại. Tuy nhiên, đối với Việt Nam, trong kỷ nguyên mới, vận hội và những thách thức mới đặt ra yêu cầu phải phát triển nhanh và bền vững, thì gắn tăng trưởng kinh tế với thực hiện CBXH càng cần được chú trọng hơn bao giờ hết, trở thành nội dung xuyên suốt, kết nối tất cả các yếu tố trong mô hình và chiến lược phát triển đất nước.
Trong công trình “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam”, cố Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhận định rằng gắn tăng trưởng kinh tế đi đôi với thực hiện tiến bộ và CBXH là đặc trưng cơ bản của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN. Mối quan hệ gắn bó hữu cơ này cần được thể hiện “ ngay trong từng bước, từng chính sách và trong suốt quá trình phát triển” và “không chờ đến khi kinh tế đạt tới trình độ phát triển cao rồi mới thực hiện tiến bộ và CBXH”, không hy sinh tiến bộ và CBXH để “chạy theo tăng trưởng kinh tế đơn thuần” (Nguyễn Phú Trọng, 2022, tr.27).
Trong Đại hội tổng kết 20 năm Đổi mới 1986-2006 (Đại hội X), Đảng ta cũng khẳng định tiến bộ và CBXH cần được thể hiện “ngay trong từng bước và từng chính sách phát triển”; phải gắn tăng trưởng kinh tế với phát triển văn hóa, y tế, giáo dục...; giải quyết tốt các vấn đề xã hội vì mục tiêu phát triển con người và “thực hiện chế độ phân phối chủ yếu theo kết quả lao động, hiệu quả kinh tế, đồng thời theo mức đóng góp vốn cùng các nguồn lực khác và thông qua phúc lợi xã hội” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2006).
Năm 2021, tại Đại hội XIII, Đảng ta đã nâng tầm quan điểm này thành một nguyên lý: “Gắn kết giữa tăng trưởng kinh tế với thực hiện tiến bộ và CBXH; phát huy nhân tố con người, lấy nhân dân làm trung tâm; phát huy vai trò của văn hóa - nền tảng tinh thần của xã hội, là mục tiêu, động lực của sự phát triển” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2021). Đây là bước tiến trong nhận thức, tư duy và hành động của Đảng khi đặt con người vào vị trí vừa là chủ thể, vừa là thước đo của mọi thành tựu kinh tế nói riêng và các chiến lược, chính sách phát triển đất nước nói chung.
Năm 2026, sau 40 năm Đổi mới (1986 - 2026), Đại hội XIV của Đảng tiếp tục yêu cầu việc PTKT phải gắn với phát triển con người, “chăm lo đời sống Nhân dân”, bảo đảm tiến bộ và CBXH; phải đầu tư mạnh cho giáo dục, y tế, văn hóa và an sinh; phải “tự chủ chiến lược, đổi mới mô hình phát triển, lấy phát triển để ổn định, ổn định để thúc đẩy phát triển nhanh, bền vững đất nước, nâng cao đời sống và hạnh phúc của nhân dân, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026a)... Nghĩa là, trong chiến lược phát triển đất nước giai đoạn hiện nay, Đảng không chỉ hướng tới gia tăng quy mô nền kinh tế mà còn bảo đảm mọi người dân đều được thụ hưởng thành quả phát triển. Đảng đặt PTKT trong mối quan hệ gắn bó hữu cơ với xây dựng xã hội kỷ cương, trật tự, an toàn, lành mạnh, hài hòa, văn minh, phát triển, nghĩa là tăng trưởng phải gắn với các yếu tố bền vững và nhân văn. Đảng tuyệt đối không chấp nhận một nền kinh tế lớn mạnh mà người dân không được thụ hưởng thành quả một cách công bằng. Phương châm “Đoàn kết - Dân chủ - Kỷ cương - Đột phá - Phát triển” của Đại hội XIV thể hiện tầm nhìn chiến lược cho giai đoạn phát triển toàn diện mới, trong đó tăng trưởng kinh tế gắn với tiến bộ, CBXH, phát triển văn hóa - con người, bảo vệ môi trường được coi là một chỉnh thể tư tưởng thống nhất.
Như vậy, trong suốt 40 năm Đổi mới, gắn PTKT với bảo đảm CBXH không đơn thuần là sự điều chỉnh sách lược của Đảng, mà là sợi chỉ đỏ xuyên suốt và ngày càng được làm sâu sắc trong mô hình phát triển mới của đất nước khi đặt hạnh phúc của Nhân dân là đích đến tối thượng của các chiến lược phát triển.
2.3. Phát triển kinh tế và thực hiện công bằng xã hội phải lấy con người, hạnh phúc của Nhân dân làm trung tâm
Một trong những điểm mới của Đại hội XIV (năm 2026) là sự nhấn mạnh hơn vào mục tiêu nâng cao chất lượng cuộc sống và hạnh phúc của Nhân dân. Nghị quyết Đại hội xác định mọi chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước phải xuất phát từ nhu cầu, nguyện vọng, quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của Nhân dân; lấy hạnh phúc và sự hài lòng của Nhân dân làm thước đo và mục tiêu phấn đấu. Nếu trước đây CBXH thường được nhìn nhận chủ yếu ở góc độ phân phối thành quả tăng trưởng, thì từ Đại hội XIII, đặc biệt là Đại hội XIV, đã được mở rộng sang việc bảo đảm quyền tiếp cận bình đẳng đối với các nguồn lực, cơ hội phát triển và nâng cao chất lượng sống của người dân. PTKT phải đồng thời bảo đảm quyền con người, quyền công dân; tạo cơ hội để mọi người dân tiếp cận giáo dục, y tế, việc làm, nhà ở, thông tin, khoa học công nghệ và các dịch vụ xã hội cơ bản.
Một điểm nhấn quan trọng của Đại hội XIV là việc lần đầu tiên đưa chỉ số hạnh phúc vào hệ thống chỉ tiêu quốc gia, với mục tiêu phấn đấu Việt Nam thuộc nhóm 40 quốc gia có chỉ số hạnh phúc cao nhất thế giới vào năm 2030 (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026c). Đây là bước ngoặt trong tư duy phát triển của Đảng: từ đo lường đơn thuần bằng GDP sang đo lường bằng phúc lợi và hạnh phúc của người dân. Cùng với mục tiêu tăng trưởng GDP bình quân trên 10%/năm giai đoạn 2026 - 2030, chỉ tiêu xã hội này thể hiện rõ quan điểm phát triển vì con người - PTKT phải đồng thời nâng cao phúc lợi xã hội và chất lượng cuộc sống nhân dân.
2.4. Phát triển nhanh, bền vững gắn với quản lý phát triển xã hội hiện đại, bao trùm và bền vững
Trong kỷ nguyên mới, nhận thức của Đảng về mối quan hệ giữa PTKT và CBXH đã có bước tiến về chất: từ chỗ coi CBXH chủ yếu là bài toán phân phối thành quả tăng trưởng, Đại hội XIV nâng tầm thành nhiệm vụ xây dựng một mô hình quản lý phát triển xã hội hiện đại, toàn diện, bao trùm và bền vững. Theo đó, CBXH không chỉ được thể hiện trong phân phối thành quả tăng trưởng mà còn trong việc tạo lập môi trường phát triển bình đẳng, xây dựng cơ cấu xã hội hợp lý và bảo đảm cơ hội phát triển cho mọi nhóm dân cư. Cụ thể, trong định hướng phát triển đất nước giai đoạn 2026 - 2030, văn kiện Đại hội XIV đã đặt ra yêu cầu phải “Quản lý phát triển xã hội bền vững; bảo đảm tiến bộ, công bằng xã hội, chăm lo đời sống Nhân dân”; “hoàn thiện mô hình, cơ chế, chính sách quản lý phát triển xã hội hiện đại, toàn diện, bao trùm, bền vững”; “phát triển kinh tế gắn với bảo đảm tiến bộ, công bằng xã hội, bảo vệ tài nguyên, môi trường, chủ động thích ứng với biến đổi khí hậu” và “xây dựng cơ cấu xã hội hợp lý trên cơ sở hệ thống giá trị, chuẩn mực xã hội” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026c).
Đặc biệt, trong Chương trình hành động, Đại hội XIV còn thể hiện quyết tâ m chuyển hóa quan điểm thành hành động, hiện thực hóa các nội dung nói trên khi yêu cầu “ Thiết lập các thể chế, chính sách nhằm bảo đảm công bằng trong tiếp cận cơ hội phát triển cho các nhóm yếu thế; tăng cường kết nối chặt chẽ, hiệu quả giữa chính sách kinh tế và chính sách xã hội ” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026b).
Như vậy, bước vào năm 2026, các mục tiêu bao trùm và bền vững được Đảng ra đặt mạnh mẽ hơn bao giờ hết. Điều đó đồng thời cho thấy Đảng và Nhà nước Việt Nam không hy sinh tiến bộ, CBXH, hạnh phúc của người dân để chạy theo tăng trưởng kinh tế đơn thuần. Nói cách khác, phát triển bền vững không chỉ được đánh giá bằng tốc độ tăng trưởng hay quy mô GDP, mà còn bằng mức độ cải thiện môi trường sống, sức khỏe cộng đồng và sự công bằng trong thụ hưởng các thành quả phát triển. Đây là nội dung mới của CBXH trong kỷ nguyên vươn mình.
2.5. Khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là động lực mới để phát triển kinh tế, thực hiện công bằng xã hội
Đại hội XIV xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là động lực chính, tạo nền tảng phát triển lực lượng sản xuất mới, hiện đại. Quan điểm này kế thừa và phát triển Nghị quyết số 57-NQ/TW (tháng 12/2024), trong đó khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số được xác định là đột phá quan trọng hàng đầu, động lực chủ yếu để phát triển nhanh lực lượng sản xuất hiện đại, hoàn thiện quan hệ sản xuất và đổi mới quản trị quốc gia. Điều này cho thấy Đảng không chỉ xem đây là động lực tăng trưởng kinh tế mà còn là công cụ quan trọng để bảo đảm tiến bộ và CBXH.
Từ góc độ xã hội, khoa học công nghệ và chuyển đổi số là công cụ thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và là phương thức mở rộng cơ hội phát triển cho người dân. Điểm mới có tính đột phá về tư tưởng là chuyển đổi số được gắn kết trực tiếp với mục tiêu CBXH, không phải như một hệ quả gián tiếp, mà như một cơ chế chủ động. Tức là thúc đẩy chuyển đổi số nhằm rút ngắn khoảng cách giữa khu vực đô thị và nông thôn, đặc biệt tại vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, tạo điều kiện để người dân tiếp cận bình đẳng với giáo dục, y tế, dịch vụ công… và các nguồn lực phát triển. Do đó, thu hẹp khoảng cách số, tăng khả năng tiếp cận công nghệ của các nhóm xã hội nói trên, đã trở thành nội dung quan trọng của CBXH trong bối cảnh hiện nay. Đây chính là điểm mới về nội dung PTKT gắn với CBXH trong kỷ nguyên vươn mình so với các giai đoạn trước.
Tóm lại, nhìn lại hành trình lãnh đạo sự nghiệp Đổi mới của đất nước trong bốn thập kỷ (1986 - 2026), có thể thấy, quan điểm PTKT gắn với bảo đảm CBXH đã trở thành nguyên tắc chỉ đạo bất di, bất dịch, nhất quán và xuyên suốt của Đảng Cộng sản Việt Nam. Dù bối cảnh trong nước và quốc tế có nhiều thay đổi, song tăng trưởng kinh tế và CBXH luôn được Đảng xác định là hai mặt thống nhất của sự phát triển. Qua mỗi chặng đường, tư tưởng đó được làm giàu thêm về nội hàm và nâng cao hơn về tầm nhìn. Quan điểm này là minh chứng rõ ràng nhất để khẳng định rằng, ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, sự phát triển không chỉ vì kinh tế mà còn vì con người, đặt con người làm trung tâm của mọi quyết sách. Những quan điểm này là cơ sở, định hướng cho quá trình hoạch định và triển khai các chính sách phát triển theo hướng tăng trưởng nhanh, bền vững, bao trùm và nhân văn khi bảo đảm mọi người dân đều có cơ hội tham gia và thụ hưởng thành quả phát triển, qua đó góp phần hiện thực hóa mục tiêu xây dựng đất nước phồn vinh, hạnh phúc trong kỷ nguyên phát triển mới của dân tộc.
3. Nhận diện và phản bác một số luận điệu sai trái về mối quan hệ giữa phát triển kinh tế và công bằng xã hội ở Việt Nam
Hiện nay, các thế lực thù địch và những phần tử cơ hội chính trị thường xuyên lợi dụng những vấn đề còn tồn tại trong xã hội để xuyên tạc quan điểm của Đảng. Một thủ đoạn thường thấy trong suốt mấy chục năm qua là lợi dụng những khoảng cách tất yếu, khách quan, những tồn tại và hạn chế trong phát trình phát triển để xuyên tạc rằng: nhằm thích ứng với hội nhập và phát triển, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã đánh đổi CBXH, hy sinh quyền lợi của người dân lấy tăng trưởng. Từ đó, để hạ thấp uy tín của Đảng và Nhà nước, kích động tâm lý bất mãn ở một bộ phận người dân, âm mưu chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc và phá hoạt sự nghiệp đổi mới của đất nước ta.
Đặc biệt, trong kỷ nguyên số, khi Việt Nam đứng trước vận hội và áp lực phải vươn mình, xác lập mục tiêu tăng trưởng hai con số và đặt ra tầm nhìn phát triển toàn diện đến năm 2045, các thế lực phản động đã đẩy mạnh hoạt động xuyên tạc theo hướng mới tinh vi hơn. Vẫn “rượu cũ”, nhưng các thế lực này, đã sử dụng “bình mới” là vỏ bọc học thuật; lấy mục tiêu phát triển con người để ngụy trang cho các âm mưu chống phá của mình. Những luận điệu này cần được tỉnh táo nhận diện, phân tích và phản bác trên cơ sở lý luận và thực tiễn.
Luận điệu: Việt Nam không thể phát triển nhanh mà không làm tăng bất bình đẳng. Đây là luận điệu nền tảng cho toàn bộ âm mưu của các thế lực thù địch. Các thế lực này luôn rêu rao rằng kinh tế thị trường và định hướng XHCN là hai mục tiêu mâu thuẫn; tăng trưởng kinh tế tất yếu dẫn đến bất bình đẳng, không thể có CBXH thực sự; rằng CBXH chỉ là khẩu hiệu mị dân... Họ dùng những quan điểm phi khoa học để nhận định không có học thuyết kinh tế nào trên thế giới công nhận mô hình kinh tế thị trường định hướng XHCN của Việt Nam; đồng thời ca ngợi thể chế chính trị ở phương Tây, cho rằng chỉ có chủ nghĩa tư bản mới có CBXH thực sự.
Phải thấy rõ rằng Đảng Cộng sản Việt Nam luôn kiên định với con đường đi lên CNXH, nhưng rất tôn trọng các mô hình phát triển khác nhau của các quốc gia. Đảng xác định, dù theo mô hình phát triển nào, trong bối cảnh biến đổi toàn cầu hiện nay, ở bất cứ quốc gia nào cũng có thể tồn tại và tiềm ẩn những nguy cơ bất bình đẳng xã hội. Quan trọng nhất là phải nỗ lực vượt qua thách thức, kiên định, nhất quán thực hiện tiến bộ và CBXH ngay trong từng bước, từng chính sách phát triển nói chung và PTKT nói riêng.
Về chỉ đạo, chương trình hành động thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV quán triệt sâu sắc phương châm: “phát triển để ổn định, ổn định để thúc đẩy phát triển và không ngừng nâng cao đời sống nhân dân; bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia, dân tộc; lấy sự hài lòng, tín nhiệm của người dân, doanh nghiệp và hiệu quả công việc làm tiêu chí đánh giá”, “bảo đảm công bằng trong tiếp cận cơ hội phát triển cho các nhóm yếu thế; tăng cường kết nối chặt chẽ, hiệu quả giữa chính sách kinh tế và chính sách xã hội” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026b), không hy sinh tiến bộ, công bằng xã hội, an sinh xã hội để chạy theo tăng trưởng kinh tế đơn thuần.
Trong bài phát biểu tại Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV ( 03/2026), Tổng Bí thư Tô Lâm cũng đã tiếp tục khẳng định yêu cầu đổi mới vì sự phát triển của đất nước và hạnh phúc của nhân dân. Tổng Bí thư nhấn mạnh: Việt Nam không chấp nhận tăng trưởng thấp và tăng trưởng kinh tế cao phải đảm bảo phục vụ lợi ích, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân và công bằng xã hội (Tổng Bí thư Tô Lâm, 2026) .
Về kết quả, Báo cáo chính trị của Đại hội XIV cho thấy tăng trưởng kinh tế của nước ta giai đoạn 2021 - 2025 đạt bình quân khoảng 6,2%/năm, thuộc nhóm nước tăng trưởng cao của khu vực và thế giới. Trong quá trình phát triển kinh tế đó, với quyết tâm “không ai bị bỏ lại phía sau” của Đảng và Nhà nước, Chỉ số phát triển con người (HDI) của Việt Nam được cải thiện rõ rệt, tăng 14 bậc, đạt 0,766 điểm, thuộc nhóm nước phát triển con người cao; Chỉ số hạnh phúc năm 2025 xếp thứ 46/143 quốc gia, tăng 33 bậc so với năm 2021; tỉ lệ hộ nghèo đa chiều giảm từ 4,2% năm 2022 xuống còn 1,3% năm 2025; có đề án đầu tư xây dựng ít nhất 1 triệu căn hộ nhà ở xã hội; thành lập Quỹ nhà ở quốc gia; đến tháng 09/2025, hoàn thành xóa nhà tạm, nhà dột nát trên phạm vi cả nước; số người được hưởng trợ giúp xã hội thường xuyên được mở rộng, đạt hơn 3,5 triệu người năm 2025, trong đó 55% là người cao tuổi; tỉ lệ bao phủ bảo hiểm y tế lên đến 95,2% năm 2025; tuổi thọ trung bình tính từ lúc sinh là 74,8 năm; số năm sống khoẻ khoảng 67 năm… (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026b). Những con số thống kê trên là những con số biết nói và cũng chính là lời đáp thẳng thừng, đanh thép nhất của Đảng trước những luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch.
Luận điệu: Mục tiêu tăng trưởng hai con số mà Đại hội XIV đề ra là duy ý và nếu đạt được thì cũng chỉ làm giàu cho tầng lớp trên, không mang lại công bằng cho người dân. Các thế lực này ngụy biện rằng, khi Việt Nam đang bước vào thời kỳ suy thoái kinh tế, vướng vào bẫy thu nhập trung bình, nợ công… thì mục tiêu tăng trưởng 10% mà Đại hội XIV đặt ra là sự chủ quan; đồng thời, họ còn lợi dụng những chênh lệch về trình độ phát triển kinh tế, những hạn chế trong tiếp cận công nghệ… của một bộ phận người dân, nhất là các nhóm yếu thế, để xuyên tạc rằng Đảng và Nhà nước chỉ ưu tiêu phát triển kinh tế vì lợi ích của tầng lớp trên.
Đảng ta luôn kiên định mục tiêu xây dựng XHCN và xác định “nhân dân là trung tâm, là chủ thể” , khẳng định Nhà nước Việt Nam là nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam; trong suốt quá trình thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ phát triển đất nước phải đảm bảo phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”,… Tất cả các nội dung trên được thể hiện công khai trong các văn kiện Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước, các chiến lược và chính sách phát triển kinh tế, xã hội quốc gia. Theo đó, mọi người dân đều có cơ hội được hưởng thành quả của PTKT và tăng trưởng kinh tế không chỉ là làm giàu cho một thành phần hay giai tầng xã hội nào, mà tất cả vì lợi ích của nhân dân.
Về luận điệu “bẫy thu nhập trung bình”, theo các chuyên gia kinh tế “bẫy thu nhập trung bình” thường dành cho những quốc gia đứng yên về công nghệ và cải cách thể chế. Trong khi đó, ở Việt Nam, sau khi Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia được ban hành, khu vực kinh tế số ngày càng thể hiện rõ vai trò dẫn dắt tăng trưởng, với tỷ trọng giá trị tăng thêm liên tục tăng trong giai đoạn 2021 - 2025, đạt 14,02% GDP vào năm 2025. Các tổ chức quốc tế như OECD, WB, IMF, UN… đều chung nhận định đánh giá Việt Nam hiện là “điểm sáng hiếm hoi” tăng trưởng nhờ sự chuyển dịch chuỗi cung ứng công nghệ cao (Trần Văn Nam, 2026). Đây là nền tảng để hướng tới mục tiêu kinh tế số chiếm 30% GDP trong nhiệm kỳ Đại hội XIV - một mục tiêu đòi hỏi bước đột phá về chất, không chỉ về lượng.
Về luận điệu “Việt Nam đang bước vào thời kỳ suy thoái” mà đặt ra mục tiêu tăng trưởng hai con số là duy ý chí. Trước hết, phải khẳng định, mục tiêu tăng trưởng hai con số (10% từ năm 2026 - 2030) phản ánh sự táo bạo và quyết tâm đưa đất nước tiến nhanh trong kỷ nguyên mới của Đảng. Hơn bao giờ hết, đây là thời điểm để Việt Nam bứt phá, tạo sức bật phát triển từ nội lực nhằm hiện thực hóa khát vọng vươn lên, cần phải nhanh chóng hành động kịp thời và đúng hướng. Bên cạnh đó, cũng phải thấy rằng, đây cũng không phải là mục tiêu duy ý chí mà dựa trên cơ sở thực thực tiễn và tiềm năng phát triển của Việt Nam. Năm 2022, Tổng Thư ký Liên hợp quốc đã đánh giá: “kinh tế Việt Nam là một trong những nền kinh tế tăng trưởng nhanh nhất thế giới”, “Việt Nam đã đạt được và trong một số trường hợp, đã vượt qua hầu hết các Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ”, “bất chấp những cơn gió ngược toàn cầu, Việt Nam hoàn toàn cam kết thực hiện Chương trình nghị sự 2030 vì sự phát triển bền vững” (Guterres, 2022). Đến năm 2025, trong khi bức tranh kinh tế toàn cầu đang có nhiều biến động, Việt Nam vẫn đạt mức tăng trưởng là 8,02%/năm, thuộc nhóm nước tăng trưởng cao của khu vực và thế giới. Đây chính là cơ sở thực tiễn quan trọng để xây dựng mục tiêu tăng trưởng kinh tế trong 5 năm đầu của kỷ nguyên vươn mình.
Luận điệu: CBXH là bình quân chủ nghĩa, kìm hãm tăng trưởng. Đây là một trong những luận điệu có vỏ bọc học thuật rõ ràng nhất, thường được các thế lực thù địch và phần tử cơ hội sử dụng trong các phân tích kinh tế để tăng sức thuyết phục. Bằng cách đánh tráo khái niệm, các thế lực này đã lừa gạt người dân rằng CBXH là ai cũng được thụ hưởng như nhau mà không tính đến mức độ, thái độ tham gia quá trình lao động. Như vậy là triệt tiêu động lực của sự phát triển.
Cần phải thấy rằng, trong bối cảnh trên toàn cầu xuất hiện nhiều mô hình phát triển có xu hướng thiên về tăng trưởng kinh tế, quan điểm PTKT gắn với CBXH để bảo đảm sự phát triển toàn diện và bền vững vẫn đang là lựa chọn phổ biến ở nhiều quốc gia. Kinh nghiệm từ một số quốc gia Bắc Âu như Na Uy, Thụy Điển, Phần Lan… cho thấy CBXH không phải là nguyên nhân kìm hãm tăng trưởng. Các quốc gia này là những nước có hệ số GINI - một trong các thước đo quan trọng nhất để đánh giá tiến bộ và CBXH trong phạm vi một quốc gia hoặc vùng, tỉnh - rất thấp trong khi GDP đầu người trong khoảng vài thập niên gần đây luôn ở mức cao. Điều đó có nghĩa là CBXH không kìm hãm tăng trưởng. Chính sự bất bình đẳng xã hội mới kìm hãm tăng trưởng kinh tế.
Ở Việt Nam, Đảng ta xác định PTKT gắn với CBXH là nguyên tắc để đảm bảo tăng trưởng nhanh, bền vững và giữ cho Việt Nam không đi chệch khỏi định hướng XHCN. Dù vậy, trong tất cả các văn kiện chỉ đạo và quá trình lãnh đạo thực hiện, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn rõ ràng và nhất quán là bình quân chủ nghĩa là trái với CNXH; CBXH không phải là “cào bằng” mà là bảo đảm sự công bằng giữa cống hiến và hưởng thụ, tạo động lực cho sáng tạo và đổi mới; phải thể hiện ở cả khâu phân phối hợp lý tư liệu sản xuất lẫn ở khâu phân phối kết quả sản xuất, ở việc tạo điều kiện cho mọi người đều có cơ hội phát triển và phát huy tốt năng lực của mình... Việc thực hiện đường lối đổi mới, xóa bỏ cơ chế bao cấp với nhiều yếu tố mang tính bình quân chủ nghĩa cũng là khẳng định của Đảng cho vấn đề này.
Nhìn chung, trong kỷ nguyên mới, Việt Nam có nhiều cơ hội để bứt phá, nhưng cũng có không ít thách thức. Một trong những thách thức ấy đến từ những thế lực thù địch, các phần tử phản động và chống phá. Thế nhưng, sự nhất quán trong tư tưởng và hành động của Đảng Cộng sản Việt Nam, sự đồng lòng của người dân, kết quả thực tiễn và đánh giá của các nước, các cơ quan, tổ chức quốc tế và khu vực đã là bằng chứng rõ ràng nhất để phản bác những âm mưu, thủ đoạn trên. Những thành tựu trong PTKT gắn với đảm bảo CBXH, một mặt đã chứng minh đường lối đổi mới đúng đắn của Đảng, mặt khác là “minh chứng mạnh mẽ cho sự kiên cường và làm việc chăm chỉ của người dân Việt Nam - và đối với các chính sách đặt con người vào trung tâm của sự phát triển” (Guterres, 2022). Những kinh nghiệm và thành tựu này sẽ đặt nền móng cho Đảng, Nhà nước và nhân dân ta vững tâm, vững bước tiếp tục thực hiện các nhiệm vụ trong giai đoạn tiếp theo mà Đại hội XIV đã mở ra.
4. Kết luận
Gắn tăng trưởng kinh tế với thực hiện CBXH là chủ trương nhất quán, xuyên suốt của Đảng Cộng sản Việt Nam kể từ Đại hội VI (1986) đến Đại hội XIV (2026). Quan điểm này vừa là sự kế thừa tư tưởng Mác - Lênin và Hồ Chí Minh, vừa là kết quả của quá trình đúc kết thực tiễn sinh động của công cuộc đổi mới và hội nhập quốc tế của Việt Nam. Những quan điểm này không chỉ thể hiện bản chất nhân văn của chế độ XHCN mà còn phản ánh khát vọng phát triển của toàn dân tộc: xây dựng một Việt Nam hùng cường, hưng thịnh, hạnh phúc - nơi mọi người dân đều được thụ hưởng thành quả phát triển và không ai bị bỏ lại phía sau trong hành trình vươn mình của dân tộc.
TÀI LIỆU THAM KHẢO