Sinh hoạt khoa học “An toàn, sức khỏe và quyền tiếp cận của các nhóm xã hội: Một số vấn đề thực tiễn”
Sáng ngày 28/08/2026, tại trụ sở 27 Trần Xuân Soạn, Viện Nghiên cứu Con người, Gia đình và Giới, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam tổ chức sinh hoạt khoa học với chủ đề “An toàn, sức khỏe và quyền tiếp cận của các nhóm xã hội: Một số vấn đề thực tiễn”. TS.Trần Thị Hồng, Phó Viện trưởng, chủ trì buổi sinh hoạt với sự tham gia của các chuyên gia, nhà khoa học của Viện.  

Phát biểu khai mạc, TS. Trần Thị Hồng, Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Con người, Gia đình và Giới, cho biết đây là hoạt động sinh hoạt khoa học thường kỳ của Viện, nhằm tạo diễn đàn trao đổi học thuật, chia sẻ kết quả nghiên cứu và tăng cường kết nối giữa các nhà khoa học, chuyên gia và nhóm nghiên cứu. Hoạt động cũng là dịp để các chủ nhiệm nhiệm vụ trình bày kết quả nghiên cứu bước đầu, tiếp nhận ý kiến trao đổi, góp ý để hoàn thiện nội dung; qua đó nâng cao chất lượng, hiệu quả, lan tỏa kết quả nghiên cứu của Viện và gợi mở những hướng nghiên cứu tiếp theo.

Picture 1

TS. Trần Thị Hồng, chủ trì Toạ đàm

Sau lời phát biểu của TS. Trần Thị Hồng, TS. Nguyễn Thị Lê đã trình bày tham luận “Nuôi con bằng sữa mẹ của người Mông ở Lai Châu hiện nay: Thực trạng và các yếu tố ảnh hưởng”. Theo diễn giả, nuôi con bằng sữa mẹ vẫn là thực hành phổ biến trong cộng đồng người Mông tại Lai Châu. Có khoảng 49,23% bà mẹ nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu.Trẻ được cho bú sớm sau sinh, không ghi nhận tập tục loại bỏ sữa non. Tuy nhiên, việc cho trẻ ăn bổ sung từ sớm, cai sữa sớm (trong khoảng 12-24 tháng) vẫn khá phổ biến… Điều này do tác động đan xen của nhiều yếu tố, trong đó điều kiện lao động, sinh kế và kinh tế gia đình là những yếu tố nổi bật. Công việc của người mẹ có thể gây khó khăn cho việc duy trì nuôi con bằng sữa mẹ, nhưng mức độ ảnh hưởng còn phụ thuộc vào điều kiện làm việc và khả năng mang con theo. Điều kiện kinh tế của gia đình ảnh hưởng đến khả năng sử dụng sữa ngoài và thực phẩm bổ sung. Bên cạnh đó, nhận thức, kinh nghiệm của người mẹ và các thế hệ trong gia đình cũng tác động đáng kể đến lựa chọn phương pháp nuôi con. Sự hỗ trợ của người chồng và cán bộ y tế có vai trò tích cực, trong khi hoạt động truyền thông còn gặp hạn chế về nguồn lực và rào cản ngôn ngữ. Từ đó, nghiên cứu nhấn mạnh nuôi con bằng sữa mẹ là kết quả của sự tương tác giữa nhiều yếu tố cá nhân, gia đình, cộng đồng và thể chế, không thể chỉ lý giải bằng yếu tố “phong tục”.

Picture 3

TS. Nguyễn Thị Lê trình bày tham luận tại Tọa đàm

Tiếp nối chương trình, TS. Trần Quý Long trình bày tham luận “Thái độ với bắt nạt trực tuyến của học sinh trung học phổ thông ở Hà Nội”. Tham luận tập trung phân tích thực trạng thái độ của học sinh đối với hiện tượng bắt nạt trên môi trường mạng trong mối liên hệ với các đặc điểm cá nhân học sinh và những yếu tố có liên quan. Kết quả nghiên cứu cho thấy, nhìn chung, học sinh THPT có thái độ không đồng tình với các hành vi bắt nạt trực tuyến. Tuy nhiên, thái độ có sự khác biệt theo giới tính, khối lớp, khu vực cư trú, cũng như trình độ học vấn và nghề nghiệp của cha mẹ. Học sinh nữ, học sinh khối lớp cao hơn (11, 12) và học sinh khu vực thành thị có xu hướng thể hiện thái độ tích cực hơn; tương tự, học sinh có cha mẹ trình độ học vấn cao hơn hoặc làm cán bộ, viên chức cũng cho thấy thái độ tích cực rõ rệt hơn so với các nhóm còn lại. Tham luận nhấn mạnh rằng thái độ tích cực của học sinh không đồng nghĩa với việc hành vi bắt nạt trực tuyến sẽ không xảy ra trong thực tế, đồng thời chỉ ra vai trò của gia đình, nhà trường và điều kiện tiếp cận, giáo dục kỹ năng số đối với sự hình thành thái độ của học sinh, từ đó đề xuất các giải pháp phòng ngừa, ứng phó với bắt nạt trực tuyến phù hợp với từng nhóm đối tượng.

Picture 4

TS. Trần Quý Long trình bày tham luận tại Toạ đàm

Cuối cùng, từ góc độ quyền con người, ThS. Phạm Thị Huyền trình bày “Báo cáo một số kết quả nghiên cứu quyền tiếp cận công nghệ số của người cao tuổi tại xã Nguyễn Du, tỉnh Hưng Yên: thực trạng và những vấn đề đặt ra”. Diễn giả cho biết, nghiên cứu tiếp cận vấn đề theo khung quyền con người với 4 tiêu chí: tính sẵn có, khả năng tiếp cận, khả năng chấp nhận và chất lượng dịch vụ. Kết quả cho thấy, hạ tầng, thiết bị và chính sách hỗ trợ chuyển đổi số tại địa phương đã tương đối đầy đủ (tính sẵn có tốt), nhưng khả năng tiếp cận thực tế của người cao tuổi còn hạn chế do thiếu thiết bị cá nhân, thu nhập thấp và phụ thuộc nhiều vào con cháu. Người cao tuổi vẫn chủ yếu tiếp cận thông tin qua kênh truyền thống, mức độ sử dụng dịch vụ số thấp, tâm lý lo ngại lừa đảo, mất an toàn thông tin còn phổ biến và các dịch vụ số chưa thực sự thân thiện với người cao tuổi. Thực tế trên cho thấy, bên cạnh những điều kiện về hạ tầng và chính sách, việc bảo đảm quyền tiếp cận công nghệ số của người cao tuổi vẫn còn không ít trở ngại. Đây cũng là những vấn đề cần được tiếp tục nghiên cứu để đề xuất các giải pháp phù hợp với người cao tuổi ở khu vực nông thôn trong thời gian tới.

Picture 6

ThS. Phạm Thị Huyền trình bày tham luận tại Toạ đàm

Phần thảo luận diễn ra sôi nổi với nhiều ý kiến trao đổi. Các đại biểu đánh giá cao kết quả nghiên cứu bước đầu và sự chuẩn bị nghiêm túc, công phu của các diễn giả. Nội dung trao đổi tập trung vào phương pháp luận, phương pháp nghiên cứu, cách lựa chọn và xử lý dữ liệu; yêu cầu bảo mật thông tin người tham gia; tăng thêm các phân tích về bối cảnh kinh tế - xã hội, văn hóa và các yếu tố tác động đến vấn đề nghiên cứu… Các đại biểu cũng nhấn mạnh sự cần thiết bảo đảm tính thống nhất giữa mục tiêu, khung lý thuyết, phương pháp và kết quả nghiên cứu; làm rõ cơ sở của các tiêu chí, thang đo, nhận định và khuyến nghị. Các ý kiến thống nhất rằng những kết quả bước đầu là cơ sở quan trọng để các chủ nhiệm tiếp tục phân tích, lý giải dữ liệu, bám sát mục tiêu nhiệm vụ, qua đó hoàn thiện báo cáo và nâng cao tính thực tiễn của các khuyến nghị.

Picture 2

Toàn cảnh Toạ đàm

Kết luận Tọa đàm, TS. Trần Thị Hồng ghi nhận kết quả nghiên cứu của các diễn giả là các chủ nhiệm nhiệm vụ và những ý kiến trao đổi trách nhiệm, thẳng thắn của các đại biểu. Phó Viện trưởng nhấn mạnh, đây là những ý kiến gợi mở để các chủ nhiệm tiếp tục rà soát, phân tích sâu hơn dữ liệu và hoàn thiện báo cáo. Tọa đàm cũng mở đầu cho chuỗi sinh hoạt khoa học kết quả nghiên cứu của các nhiệm vụ khoa học cấp cơ sở của Viện, tạo không gian trao đổi, phản biện và đồng hành cùng các nhóm nghiên cứu. TS. Trần Thị Hồng mong muốn các chủ nhiệm và các viên chức làm công tác nghiên cứu tiếp tục giữ tinh thần chủ động, tích cực, qua đó nâng cao chất lượng và giá trị thực tiễn của các nghiên cứu.

BTP
Nguồn bài viết: Viện Nghiên cứu Con người, Gia đình và Giới
Tin xem nhiều
Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tất cả: 1