Về hai tượng nhân gốm thời Mạc: Đặng Huyền Thông và Đặng Thiện Sỹ

Anh-tin-bai

 

Năm 2017, chúng tôi đã xuất bản cuốn sách: Đặng Huyền Thông - Tượng nhân gốm tài hoa thời Mạc . Đó là kết quả tập hợp sau 17 năm, cả trong và ngoài nước về các tác phẩm gốm của tượng nhân Đặng Huyền Thông. Minh văn trên chân đèn gốm men lam xám tạo tác năm 1580, hiện lưu giữ tại Bảo tàng Hải Dương cho biết tên thật của ông là Đặng Mậu Nghiệp, tự Huyền Thông, người xã Hùng Thắng, huyện Thanh Lâm (Nguyễn Đình Chiến 2017: 21). Ông là một trong những tượng nhân gốm nổi tiếng thời Mạc với dòng gốm men lam xám. Trong cuốn sách, chúng tôi đã giới thiệu 24 trường hợp đồ gốm có minh văn in đúc nổi hay khắc chìm trước khi phủ men, cho biết rõ về họ tên tác giả, niên đại tuyệt đối và nhiều thông tin khác như các ngôi chùa, quán được cúng tiến và họ tên các thiện nam tín nữ công đức. Đây là trường hợp rất hiếm gặp trên các sản phẩm gốm thời Mạc. Trên cơ sở so sánh loại hình đồ gốm, hoa văn và men, chúng tôi đã xác định được 19 tác phẩm khác của Đặng Huyền Thông tuy không có minh văn. Tổng số sưu tập gốm men lam xám của Đặng Huyền Thông đã được chúng tôi tập hợp nghiên cứu gồm 45 tác phẩm (Nguyễn Đình Chiến 2017: 173 - 179). Trong đó số lượng tập trung nhất là Bảo tàng Lịch sử quốc gia (8), Bảo tàng Hà Nội (4), Bảo tàng Hải Dương (4). Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam, Bảo tàng Nam Định và Bảo tàng Mỹ thuật Cung Đình Huế, mỗi nơi có một tác phẩm. Tại di tích hiện còn lưu giữ một lư hương ở chùa Đống Cao (Hải Dương), một chân đèn ở nhà truyền thống xã Liên Minh, huyện Vụ Bản (Nam Định) và một tầng tháp mô hình ở chùa Minh Phúc, huyện Vĩnh Bảo (Hải Phòng). Qua tài liệu gốm đã công bố trong nước, chúng tôi tập hợp được 13 tác phẩm thuộc các sưu tập tư nhân ở Hà Nội, Hải Phòng, Nam Định và TP. Hồ Chí Minh. Qua tài liệu nước ngoài, chúng tôi tập hợp được 8 tác phẩm thuộc các sưu tập bảo tàng và cá nhân từ các quốc gia Nhật Bản, Canada, Hoa Kỳ, Bỉ, Hàn Quốc, Pháp và CHLB Đức. Ngoài những tác phẩm gốm không có minh văn nhưng mang các đặc điểm khá tương đồng về men và hoa văn trên đồ gốm Đặng Huyền Thông, trong tập hợp nghiên cứu còn có 3 trường hợp đặc biệt khác, minh văn lại cho biết tác giả tạo tác là tượng nhân Đặng Thiện Sỹ. Với sự trùng hợp về kiểu dáng loại hình, các băng hoa văn cùng lớp men phủ lam xám và vàng nâu trên các tác phẩm gốm này, đặt ra vấn đề cần tìm hiểu về mối liên quan giữa hai tượng nhân gốm Đặng Huyền Thông và Đặng Thiện Sỹ.

Về trường hợp Đặng Thiện Sỹ, trong bài:”Đặng Huyền Thông nghệ nhân gốm mỹ thuật Phật giáo thời Mạc 1527-1592” đăng trong Tập văn Thành Đạo , tác giả Trần Đình Sơn đã có ý kiến rất đáng chú ý khi nghiên cứu chiếc hũ gốm men xám nhạt trong sưu tập Nguyễn Văn Dòng (TP. Hồ Chí Minh) ( Hình 1 ). Hũ có gờ miệng đứng, vai phình, thân thuôn, chân đế choãi. Trên vai chạm nổi các băng hoa văn: Răng cưa, nửa bông hoa trong tam giác, bông hoa mặt trời trên vạch đứng song song. Thân có băng bông hoa mặt trời có 2 dải tua trong ô chữ nhật và băng cánh sen tả thực, cánh to xen nhỏ. Chân đế có băng vạch đứng song song. Minh văn khắc chìm dưới men xung quanh thân hũ là bài kệ khắc 7 dòng chữ Hán, dọc theo thân hũ.

Chữ Hán:

 

有 鄧 善 士

住 雄 勝 

尊 重 佛 子

供 黍 壽 唐

十 方 証 果

近 佛 久 長

Phiên âm:

Kệ viết

Hữu Đặng Thiện Sỹ

Trú Hùng Thắng hương

Tôn trọng Phật tử

Cung thử thọ Đường

Thập phương chứng quả

Cận Phật cửu trường.

Dịch nghĩa:

Kệ viết

Có Đặng Thiện Sỹ

Ở làng Hùng Thắng

Kính trọng Đức Phật

Xin dâng thọ Đường

Chứng giám mười phương

Gần Phật mãi trường.

Từ việc nghiên cứu nội dung bài kệ khắc trên chiếc hũ, tác giả Trần Đình Sơn cho rằng “vật phẩm này do truyền nhân (con cháu, học trò) của Đặng Huyền Thông chế tạo để dâng tặng ông” (Trần Đình Sơn 2003: 80).

Trong phần đầu chương ba của cuốn sách: Đặng Huyền Thông - Tượng nhân gốm tài hoa thời Mạc , chúng tôi đã nêu: “Về trường hợp Đặng Thiện Sỹ qua tài liệu hiện biết, xét theo phong cách tạo tác đồ gốm cũng như men phủ cùng thông tin về quê quán xã Hùng Thắng, huyện Thanh Lâm, có thể hiểu rằng Đặng Thiện Sỹ có mối quan hệ mật thiết với Đặng Huyền Thông. Tuy nhiên không loại trừ khả năng Đặng Thiện Sỹ là một tên khác của chính Đặng Huyền Thông vào niên hiệu cuối cùng của Mạc Mậu Hợp” (Nguyễn Đình Chiến 2017: 124).

Sách xuất bản của chúng tôi, kể đến nay đã 7 năm trôi qua, vấn đề này vẫn luôn được quan tâm suy nghĩ. Cho tới gần đây, trên tạp san điện tử Nghệ thuật xưa đã giới thiệu phần dưới một chiếc chân đèn gốm lam xám và vàng nâu, hiện lưu giữ tại bảo tàng Guimet, Paris. Nhìn kiểu dáng, các băng hoa văn nổi: Rồng uốn trong khung chữ nhật, viên long, băng răng cưa, băng cánh sen, băng vạch thẳng song song… cùng lớp men lam xám nhạt và vàng nâu, đủ tiêu chí xác nhận là một tác phẩm gốm của Đặng Huyền Thông ( Hình 2a ). Song điều đặc biệt hơn, trên vai chân đèn này, ngay dưới băng hoa văn răng cưa và nhũ đinh, có một hàng minh văn gồm 21 chữ Hán, mỗi chữ khắc chìm dưới men trong một ô chữ nhật (Hình 2b ). Nội dung như sau:

Chữ Hán:

青 林 縣,           寧 二 年 四    日.

Phiên âm:

Thanh Lâm huyện, Hùng Thắng xã, Đặng Huyền Thông tạo, chính thời Hồng Ninh nhị niên, tứ nguyệt, thập ngũ nhật.

Dịch nghĩa :

Đặng Huyền Thông, xã Hùng Thắng, huyện Thanh Lâm tạo tác đúng vào ngày 15 (ngày Rằm) tháng 4, niên hiệu Hồng Ninh 2 (1592).

ới thông tin này đã làm thay đổi suy nghĩ của chúng tôi khi cho rằng các tác phẩm gốm cuối cùng có ghi niên đại của Đặng Huyền Thông chỉ được biết vào năm thứ 3 niên hiệu Hưng Trị (1590) như phần dưới chân gốm lam xám cúng dường vào quán Đế Thích (Nguyễn Đình Chiến 2017: 104 - 106). Cũng với thông tin này đã cho phép chúng tôi nhận ra khoảng thời gian tạo tác gốm của Đặng Huyền Thông là 1580 - 1592. Trong khi đó, tượng nhân Đặng Thiện Sỹ lại thấy lưu danh trên 2 chiếc chân đèn tạo tác vào năm 1592 và chiếc hũ gốm men xám nhạt đã dẫn trên đây. Đó là những tài liệu rất cần nghiên cứu so sánh. Về 2 chiếc chân đèn gốm men lam xám, tuy lưu giữ ở 2 nơi khác xa nhau nhưng lạ thay, đều cùng do tượng nhân Đặng Thiện Sỹ tạo tác vào ngày 15 (ngày Rằm) tháng 6, niên hiệu Hồng Ninh 2 (1592).

Chiếc chân đèn thứ nhất, hiện lưu giữ tại Bảo tàng Nghệ thuật và lịch sử Brussels (Bỉ) được tạo dáng 2 phần theo kiểu dáng quen thuộc của Đặng Huyền Thông. Phần trên gồm 3 đoạn, đoạn 1 có 4 dải quai nhỏ chạm nổi hình rồng “đuổi”, xen giữa ô chữ  Phật . Đoạn 2, 3 đối xứng nhau với các loại hoa văn: Rồng uốn trong ô tròn, băng cánh sen tả thực, vạch đứng song song. Hai quai là tượng rồng kiểu “yên ngựa”. Phần dưới có các băng hoa văn: Bông hoa mặt trời trên vạch đứng song song, vòng tròn có chấm giữa, cánh sen tả thực, 5 hình “viên long” thân mập trổ thủng trong ô tròn, cánh sen đứng có hình mặt trời đính dải lá uốn đối xứng, phía dưới là 2 dải lá uốn chữ V, nửa bông hoa trong tam giác, hoa mặt trời trong ô chữ nhật cắt góc. Minh văn chữ Hán khắc xen giữa 5 hình “viên long” kiểu chữ chân phương trước khi phủ men. Lớp men phủ trên 2 phần, men lam xám xen kẽ men vàng nâu trên chữ  Phật, 2 quai rồng, băng cánh sen, các hình “viên long” và các đai nổi ( Hình 3 ). Trong bài minh văn, các chữ 号 hiệu đều theo kiểu giản thể. Các chữ số dùng theo kiểu chữ đơn .Toàn văn bài minh 17 dòng như sau:

Chữ Hán:

1 上 2 洪 府 3 錦 江 縣 土 榖 社 信 主 阮 氏 嗔 4 号 慕 道 寄 焉 父 阮 一 郎 字 正 直 5 母 阮 氏 号 慈 德 6 阮 氏 萬 号 慈 安 刘 氏 己 7 阮 氏 柳 号 求 福 刘 氏 頓 8 阮 氏 銳 号 慈 好 9 裴 光 礼 字 玄 清 阮 進 字 得 福 10 黎 益 壮 字 積 善 黃 文 福 11 連 下 社 12 杜 德 明 字 真 福 13 裴 千 14 黃 文 利 字 度 心15 洪 寧 二 年 六 月十 五 日 16 青 林 縣 雄 勝 社 鄧 善 17 士法 号 性 空 造

Phiên âm:

Thượng Hồng phủ, Cẩm Giàng huyện, Thổ Cốc xã, tín chủ Nguyễn Thị Sân hiệu Mộ Đạo kí yên phụ Nguyễn Nhất Lang tự Chính Trực, mẫu Nguyễn Thị hiệu Từ Đức. Nguyễn Thị Vạn hiệu Từ An, Lưu Thị Kỷ, Nguyễn Thị Liễu hiệu Cầu Phúc, Lưu Thị Đốn, Nguyễn Thị Nhuệ hiệu Từ Hảo. Bùi Quang Lễ tự Huyền Thanh, Nguyễn Tiến tự Đắc Phúc, Lê Ích Tráng tự Tích Thiện, Hoàng Văn Phúc. Liên Hạ xã, Đỗ Đức Minh tự Chân Phúc, Bùi Thiên, Hoàng Văn Lợi tự Độ Tâm. Hồng Ninh nhị niên lục nguyệt thập ngũ nhật, Thanh Lâm huyện Hùng Thắng xã Đặng Thiện Sỹ, pháp hiệu Tính Không tạo.

Dịch nghĩa:

Xã Thổ Cốc, huyện Cẩm Giàng, phủ Thượng Hồng, tín chủ Nguyễn Thị Sân hiệu là Mộ Đạo gửi giỗ cho cha là Nguyễn Nhất Lang tự Chính Trực, mẹ là Nguyễn Thị hiệu Từ Đức. Nguyễn Thị Vạn hiệu Từ An, Lưu Thị Kỷ, Nguyễn Thị Liễu hiệu Cầu Phúc, Lưu Thị Đốn, Nguyễn Thị Nhuệ hiệu Từ Hảo. Bùi Quang Lễ tự Huyền Thanh, Nguyễn Tiến tự Đắc Phúc, Lê Ích Tráng tự Tích Thiện, Hoàng Văn Phúc. Xã Liên Hạ, Đỗ Đức Minh tự Chân Phúc, Bùi Thiên, Hoàng Văn Lợi tự Độ Tâm.

Đặng Thiện Sỹ, pháp hiệu Tỉnh Không, xã Hùng Thắng, huyện Thanh Lâm tạo tác ngày 15 (ngày Rằm) tháng 6, niên hiệu Hồng Ninh 2 (1592). (Nguyễn Đình Chiến 2017: 104 - 106).

Chiếc chân đèn thứ hai trong Sưu tập Thành (Hải Dương), dù chỉ còn phần dưới với cấu tạo cổ nhỏ, vai phình, thân dưới eo, chân đế choãi gồm các băng hoa văn: Bông hoa mặt trời trên vạch đứng song song, vòng tròn có chấm giữa, cánh sen tả thực, cánh sen đứng có hình mặt trời đính dải lá uốn đối xứng, phía dưới là 2 dải lá uốn chữ V, nửa bông hoa trong tam giác, hoa mặt trời trong ô chữ nhật cắt góc, vạch đứng song song. Trên phần dưới chân đèn này cũng có 5 hình “viên long” thân mập trổ thủng trong ô tròn giống như chân đèn thứ nhất. Lớp men phủ cũng là men lam xám và vàng nâu ( Hình 4 ). (Nguyễn Đình Chiến 2007a: 155 - 163). Minh văn chữ Hán khắc xen giữa 5 ô rồng tròn nổi trên chân đèn gồm 15 dòng trước khi phủ men. Các chữ số trong minh văn dùng theo kiểu chữ đơn.

Chữ Hán:

                                                         10             11            12    13      月十   14            15 

Phiên âm :

Thượng Hồng phủ, Đường Hào huyện, Thổ Cốc xã, tín chủ Phủ sỹ Lưu Diễm tự Huyền Thông. Nguyễn Ức tự Khuyến Phúc, Vũ Điệp, Văn Xuyên bá Nguyễn Hùng tự Phúc Lâm, Nguyễn Duy Giáo, Đỗ Vĩnh, Phạm Thí. Nguyễn Chỉ tự Phúc Quang, Nguyễn Sùng tự Phúc Xuyên, Đàm Ẩm, Gia Hòa bá Vũ Thành. Hoàng Văn Đức tự Đạo Thanh, Hoàng Văn Chấn tự Phúc Sinh, Hoàng Văn Khang tự Phúc Trường, Nguyễn Sắc tự Phúc Thắng, Đỗ Đình Nhân.

Hồng Ninh nhị niên, lục nguyệt, thập ngũ nhật, Thanh Lâm huyện, Hùng Thắng xã, Thiện sỹ Đặng Tính Không tạo .

Dịch nghĩa :

Xã Thổ Cốc, huyện Đường Hào, phủ Thượng Hồng, tín chủ [là] Phủ Sỹ Lưu Đàm tự Huyền Thông [cùng các thiện nam]. Nguyễn Ức tự Khuyến Phúc, Vũ Điệp, Văn Xuyên bá Nguyễn Hùng tự Phúc Lâm, Nguyễn Duy Giáo, Đỗ Vĩnh, Phạm Thí. Nguyễn Chỉ tự Phúc Quang, Nguyễn Sùng tự Phúc Xuyên, Đàm Ẩm, Gia Hòa bá Vũ Thành. Hoàng Văn Đức tự Đạo Thanh, Hoàng Văn Chấn tự Phúc Sinh, Hoàng Văn Khang tự Phúc Trường, Nguyễn Sắc tự Phúc Thắng, Đỗ Đình Nhân.

Đặng Thiện Sỹ, pháp hiệu Tính Không, xã Hùng Thắng, huyện Thanh Lâm tạo tác ngày 15 (ngày Rằm) tháng 6, niên hiệu Hồng Ninh 2 (1592) (Nguyễn Đình Chiến 2017: 129 - 132).

Qua các tài liệu dẫn như trên đã cho thấy, có một sự tương đồng về thời gian tạo tác 2 chiếc chân đèn của Đặng Thiện Sỹ và 1 chiếc chân đèn của Đặng Huyền Thông. Điều hiển nhiên là họ và tên của Đặng Huyền Thông vẫn còn xuất hiện vào năm 1592. Đó chính là điều chúng tôi lưu ý, thời gian tạo tác 3 chiếc chân đèn của 2 tượng nhân gốm Đặng Huyền Thông và Đặng Thiện Sỹ, đều vào ngày 15 (ngày Rằm) tháng 4 và tháng 6, niên hiệu Hồng Ninh 2 (1592), chỉ cách nhau đúng 2 tháng!

Với tài liệu so sánh về các tiêu chí kiểu dáng, hoa văn và men, chúng tôi cho rằng chính là Đặng Huyền Thông đã chuyển đổi họ tên thành Đặng Thiện Sỹ với pháp hiệu Tính Không vào năm cuối cùng của niên hiệu Hồng Ninh. Để kiểm chứng cho kết luận này, chúng tôi đã sử dụng phương pháp so sánh tự dạng của một số chữ trùng nhau trong các minh văn chữ Hán khắc trên những đồ gốm của Đặng Huyền Thông và Đặng Thiện Sỹ, như sau:

- “ Hồng Ninh nhị niên, lục nguyệt, thập ngũ nhật/ Thanh Lâm huyện Hùng Thắng xã Đặng Thiện/ Sỹ pháp hiệu Tính Không tạo ” ( Nguyễn Đình Chiến 2017: 128). Trích minh văn trên chân đèn tại Bảo tàng Nghệ thuật và lịch sử Brussels (Bỉ) ( Hình 5 ) .

- “ Hồng Ninh nhị niên, lục nguyệt, thập ngũ nhật/ Thanh Lâm huyện Hùng Thắng xã Đặng Thiện Sỹ pháp hiệu Tính Không/ tạo ” ( Nguyễn Đình Chiến 2017: 131) . Trích minh văn trên chân đèn trong Sưu tập Thành (Hải Dương) ( Hình 6 ).

- “ Hưng Trị nhị niên, nhị nguyệt Thanh Lâm huyện/ Hùng Thắng xã, Đặng Huyền Thông/ tạo ” ( Nguyễn Đình Chiến 2017: 77) . Trích minh văn trên chân đèn trong Sưu tập Bảo tàng Lịch sử Quốc gia ( Hình 7 ).

- “ Thanh Lâm huyện Hùng Thắng xã/ Đặng Huyền Thông tạo ” ( Nguyễn Đình Chiến 2017: 79) . Trích minh văn trên chân đèn trong Sưu tập Bảo tàng Lịch sử Quốc gia ( Hình 8 ).

- “ Thanh Lâm huyện Hùng Thắng xã/ Đặng Huyền Thông tạo ” ( Nguyễn Đình Chiến 2017: 87) . Trích minh văn trên chân đèn trong Sưu tập Tạ Ngọc Liễn (Hà Nội) ( Hình 9 ).

- “ Hưng Trị nhị niên, ngũ nguyệt, Thanh Lâm huyện/ Hùng Thắng xã, Đặng Huyền Thông/ tạo ” ( Nguyễn Đình Chiến 2017: 89). Trích minh văn trong Sưu tập Thành (Hải Dương) ( Hình 10 ).

- Từ các minh văn này, c húng tôi so sánh các chữ Hán khắc chìm dưới men trong các minh văn trùng nhau như nhị niên, nguyệt, thập ngũ, Thanh Lâm huyện, Hùng Thắng xã, Đặng và đặc biệt là chữ tạo , với các nét trùng khớp nhau, càng khẳng định các dòng minh văn này phản ánh dấu ấn tay bút khắc chữ tài hoa trên các tác phẩm gốm của tượng nhân Đặng Huyền Thông.

Anh-tin-bai
Anh-tin-bai

Anh-tin-bai

Hình 3. Chân đèn 2 phần gốm men lam xám, Bảo tàng Hoàng gia của Nghệ thuật và Lịch sử Brussels (Bỉ), (Nguồn: Miriam Lambrecht);

Hình 4. Phần dưới chân đèn gốm men lam xám, (Nguồn: Sưu tập Thành (Hải Dương);

Hình 5. Trích minh văn trên chân đèn 2 phần gốm men lam xám, Bảo tàng Hoàng gia của Nghệ thuật và Lịch sử Brussels (Bỉ), (Nguồn: Miriam Lambrecht);

Hình 6. Trích minh văn trên phần dưới chân đèn gốm men lam xám, (Nguồn: Sưu tập Thành (Hải Dương);

Hình 7, 8. Trích minh văn trên phần dưới chân đèn gốm men lam xám, Sưu tập Bảo tàng Lịch sử Quốc gia, (Nguồn: Nguyễn Đình Chiến);

Hình 9. Trích minh văn trên chân đèn 2 phần gốm men lam xám, (Nguồn: Sưu tập Tạ Ngọc Liễn);

Hình 10. Trích minh văn trên chân đèn 2 phần gốm men lam xám, (Nguồn: Sưu tập Thành (Hải Dương).

 TÀI LIỆU DẪN

NGUYỄN ĐÌNH CHIẾN 2007a. Chân đèn gốm lam xám của nghệ nhân Đặng Thiện Sỹ năm 1592. Trong Thông báo khoa học Bảo tàng Lịch sử Việt Nam: 155 - 163.

NGUYỄN ĐÌNH CHIẾN 2017. Đặng Huyền Thông tượng nhân gốm tài hoa thời Mạc. Nxb.Thanh niên, Hà Nội.

NGHỆ THUẬT XƯA.COM. 19 May 2017.

TRẦN ĐÌNH SƠN 2003. Đặng Huyền Thông nghệ nhân gốm mỹ thuật Phật giáo thời Mạc, 1527-1592. Trong Tập văn Thành Đạo, số 55: 78 - 80.

TWO CERAMIC ARTISANS IN THE MẠC DYNASTY:

ĐẶNG HUYỀN THÔNG AND ĐẶNG THIỆN SỸ

NGUYỄN ĐÌNH CHIẾN

Đặng Huyền Thông, real name is Đặng Mậu Nghiệp, with the pen name Huyền Thông, was from Hùng Thắng commune, Thanh Lâm district, and made porcelaine from 1580 to 1592. He was one of the famous ceramic artisans of the Mạc dynasty with a blue-gray glaze combined with a yellow-brown one. In the book: Đặng Huyền Thông - Talented ceramic artisan of the Mạc dynasty published in 2017, we introduced 26/45 porcelains with inscriptions stating that the maker were Đặng Huyền Thông and Đặng Thiện Sỹ. Comparing the coincidence in type, decorative motif, blue-gray and yellow-brown glaze on the two lampstands of the Đặng Thiện Sỹ and one of the Đặng Huyền Thông, both made on the 15th (full moon day) of April and June, in the second year of Hồng Ninh (1592), we believe that it was Đặng Huyền Thông who changed his name to Đặng Thiện Sỹ with the dharma name Tính Không. Comparing the shapes of some Chinese characters engraved under the glaze in the overlapping inscriptions on the lampstand such as nhị niên, nguyệt, thập ngũ, Thanh Lâm huyện, Hùng Thắng xã, Đặng and especially the word tạo, with the overlapping strokes, further reflects the mark of the talented handwriting of Đặng Huyền Thông.

Nguyễn Đình Chiến/Tạp chí Khảo cổ học, số 6/2024
Nguồn bài viết: Trang Thông tin điện tử Viện Khảo cổ học
Tin xem nhiều
Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tất cả: 1