Về khái niệm văn hóa doanh nhân: thực tiễn và thách thức ở Việt Nam
Sự phát triển của đội ngũ doanh nhân không thể được đánh giá đơn thuần thông qua quy mô vốn, doanh thu, lợi nhuận hay tốc độ tăng trưởng của doanh nghiệp. Trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế, chất lượng của đội ngũ doanh nhân còn được phản ánh ở nền tảng văn hóa, hệ giá trị và chuẩn mực đạo đức mà họ theo đuổi trong quá trình tổ chức, quản trị và điều hành hoạt động sản xuất, kinh doanh. Một nền kinh tế muốn phát triển nhanh và bền vững không chỉ cần những doanh nhân giỏi về năng lực quản trị và nhạy bén với thị trường mà còn cần những chủ thể kinh doanh biết hài hòa giữa mục tiêu lợi nhuận với lợi ích của xã hội, giữa khát vọng làm giàu chính đáng với việc gìn giữ các giá trị đạo đức và bản sắc văn hóa dân tộc.
Anh-tin-bai
Nguồn: Hình minh họa tạo bởi công cụ Trí tuệ nhân tạo (AI)

Trong bối cảnh Việt Nam đang đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và chủ động hội nhập ngày càng sâu rộng vào nền kinh tế thế giới, đội ngũ doanh nhân ngày càng giữ vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia và hiện thực hóa mục tiêu phát triển. Sự lớn mạnh của khu vực doanh nghiệp không chỉ góp phần huy động và phân bổ hiệu quả các nguồn lực xã hội, tạo việc làm, mở rộng thị trường mà còn là lực lượng tiên phong trong đổi mới sáng tạo, ứng dụng khoa học - công nghệ và nâng cao giá trị gia tăng của nền kinh tế. Nhận thức rõ vị trí, vai trò đó, Nghị quyết Đại hội XIII và Đại hội XIV của Đảng Cộng sản Việt Nam đã xác định rõ phát triển kinh tế tư nhân trở thành một động lực quan trọng của nền kinh tế, nhấn mạnh vai trò nòng cốt của khu vực này cùng kinh tế nhà nước và kinh tế tập thể trong việc xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ, thúc đẩy đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia. Đại hội XIV nêu lên quan điểm là phải tiếp tục xây dựng đội ngũ doanh nhân Việt Nam lớn mạnh, có bản lĩnh, trí tuệ, đạo đức nghề nghiệp, văn hóa kinh doanh và tinh thần trách nhiệm cao đối với xã hội cũng như quốc gia, coi đây là lực lượng tiên phong góp phần thực hiện khát vọng phát triển đất nước hùng cường, thịnh vượng.

Những năm gần đây, khái niệm văn hóa doanh nhân đã trở thành một chủ đề nhận được sự quan tâm ngày càng lớn của giới nghiên cứu cũng như các nhà hoạch định chính sách và cộng đồng doanh nghiệp ở Việt Nam, đặc biệt kể từ khi công cuộc Đổi mới mở ra quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Nếu như trước đây, dưới ảnh hưởng của những quan niệm truyền thống, hoạt động kinh doanh chủ yếu được nhìn nhận dưới góc độ mưu cầu lợi ích kinh tế, thậm chí có lúc bị xem là đối lập với những giá trị nhân văn và các chuẩn mực hướng tới chân, thiện, mỹ, thì cùng với sự phát triển của nền kinh tế và quá trình hội nhập quốc tế, cách tiếp cận này đã từng bước thay đổi. Thực tiễn phát triển của nhiều quốc gia cho thấy tăng trưởng kinh tế nếu tách rời nền tảng văn hóa và đạo đức sẽ khó bảo đảm tính bền vững, đồng thời có thể kéo theo nhiều hệ lụy như suy thoái đạo đức kinh doanh, ô nhiễm môi trường, gia tăng bất bình đẳng xã hội, xung đột lợi ích và sự suy giảm niềm tin của cộng đồng đối với doanh nghiệp. Văn hóa ngày nay không chỉ được nhìn nhận như nền tảng tinh thần của xã hội mà còn là nguồn lực nội sinh, là động lực quan trọng thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, góp phần định hướng hành vi của các chủ thể kinh doanh và nâng cao chất lượng phát triển.

Khái niệm văn hóa kinh doanh và văn hóa doanh nhân

Văn hóa kinh doanh

Khái niệm văn hóa kinh doanh và văn hóa doanh nhân đã trải qua quá trình phát triển cả về phương diện lý luận lẫn thực tiễn, phản ánh sự thay đổi trong nhận thức về mối quan hệ giữa hoạt động kinh tế và các giá trị văn hóa. Trong một thời gian dài, dưới ảnh hưởng của những cách tiếp cận truyền thống, văn hóa và kinh doanh thường được xem là hai lĩnh vực tồn tại tương đối độc lập, thậm chí có những điểm đối lập về mục tiêu và bản chất. Kinh doanh chủ yếu được nhìn nhận như hoạt động nhằm tối đa hóa lợi nhuận và tích lũy của cải vật chất, trong khi văn hóa gắn với việc bồi đắp các giá trị tinh thần, các chuẩn mực đạo đức và những lý tưởng hướng đến chân, thiện, mỹ trong quan hệ giữa con người với con người, giữa con người với tự nhiên và với chính bản thân mình.

Tuy nhiên, cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường hiện đại, nhận thức về mối quan hệ giữa văn hóa và kinh doanh đã có sự chuyển biến căn bản. Ngày nay, văn hóa không còn được xem là yếu tố tồn tại bên ngoài hoặc bổ trợ cho hoạt động kinh doanh, mà trở thành một bộ phận cấu thành của quá trình phát triển kinh tế. Một nền kinh tế muốn phát triển ổn định, hiệu quả không chỉ cần nguồn lực về vốn, công nghệ hay lao động mà còn cần một hệ giá trị văn hóa đủ mạnh để định hướng hành vi của các chủ thể kinh doanh. Chính nền tảng văn hóa tạo nên những chuẩn mực về đạo đức, trách nhiệm, sự minh bạch và tính liêm chính trong hoạt động sản xuất, kinh doanh, qua đó góp phần củng cố niềm tin của xã hội, nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp và bảo đảm sự phát triển hài hòa giữa lợi ích kinh tế với lợi ích cộng đồng.

Trên cơ sở đó, văn hóa kinh doanh có thể được hiểu là hệ thống các giá trị, chuẩn mực và nguyên tắc chi phối toàn bộ quá trình tổ chức, quản trị và thực hiện hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Khái niệm này thể hiện sự thống nhất giữa mục tiêu tạo ra lợi nhuận với việc tôn trọng các chuẩn mực đạo đức, tuân thủ pháp luật, bảo đảm chất lượng sản phẩm, bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng và thực hiện trách nhiệm đối với xã hội. Lợi nhuận vẫn là mục tiêu quan trọng của doanh nghiệp, song chỉ thực sự có ý nghĩa khi được tạo ra bằng những phương thức hợp pháp, chính đáng và phù hợp với các chuẩn mực văn hóa cũng như lợi ích lâu dài của xã hội.

Thực tiễn phát triển của nền kinh tế thế giới đã chứng minh rằng những doanh nghiệp chỉ theo đuổi lợi nhuận bằng mọi giá thường phải đối mặt với nhiều hệ quả tiêu cực như suy giảm uy tín, mất niềm tin của khách hàng, xung đột với cộng đồng và những rủi ro pháp lý nghiêm trọng. Các hành vi bóc lột sức lao động, gian lận thương mại, sản xuất hàng kém chất lượng, khai thác tài nguyên quá mức hoặc gây ô nhiễm môi trường tuy có thể mang lại lợi ích kinh tế trong ngắn hạn nhưng không tạo dựng được nền tảng cho sự phát triển lâu dài. Ngược lại, những doanh nghiệp biết đặt lợi ích của khách hàng và cộng đồng vào trung tâm của chiến lược phát triển thường có khả năng tạo dựng thương hiệu uy tín, duy trì lợi thế cạnh tranh và thích ứng tốt hơn trước những biến động của thị trường.

Một minh chứng tiêu biểu cho mối quan hệ giữa phát triển kinh tế và các giá trị văn hóa, môi trường là trường hợp thành phố Toyota (Toyota City) của Nhật Bản. Trong giai đoạn công nghiệp hóa mạnh mẽ sau Thế chiến II, sự phát triển nhanh chóng của ngành công nghiệp ô tô đã góp phần thúc đẩy đô thị hóa và tăng trưởng kinh tế, song cũng dẫn đến nhiều thách thức về môi trường như ô nhiễm công nghiệp và áp lực lên hệ sinh thái địa phương. Nhận thức được những tác động tiêu cực này, chính quyền thành phố cùng Tập đoàn Toyota đã triển khai nhiều chương trình phục hồi và bảo vệ môi trường, tiêu biểu như xây dựng “Rừng Toyota” (Toyota Forest), các hoạt động trồng cây xanh, bảo tồn đa dạng sinh học và chuyển đổi thành “Thành phố Mô hình Môi trường” của Nhật Bản. Nhờ đó, Toyota City từng bước xây dựng được mô hình phát triển hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế và bảo tồn tài nguyên thiên nhiên, thể hiện rõ giá trị văn hóa trách nhiệm với môi trường của doanh nghiệp và cộng đồng Nhật Bản (Ito và Kawazoe, 2019).

Quan điểm trên cũng được nhiều học giả quốc tế khẳng định. Paul Hawken (1993) cho rằng mục đích tối hậu của hoạt động kinh doanh không nên chỉ dừng lại ở việc tạo ra lợi nhuận mà còn phải góp phần nâng cao phúc lợi chung của nhân loại thông qua các hoạt động phục vụ xã hội, đổi mới sáng tạo và thực hành những giá trị đạo đức trong kinh doanh. Tương tự, Amartya Sen (1999) nhấn mạnh rằng phát triển thực sự của con người nằm ở việc mở rộng các khả năng cơ bản, trong đó các doanh nghiệp cần đóng vai trò quan trọng bằng cách tạo ra môi trường kinh tế không chỉ mang lại thu nhập mà còn thúc đẩy sự công bằng xã hội, tôn trọng đa dạng văn hóa và bảo vệ các giá trị truyền thống. Cách tiếp cận này phản ánh xu hướng phát triển hiện đại, theo đó doanh nghiệp không chỉ được đánh giá bằng kết quả tài chính mà còn bằng những đóng góp đối với con người, xã hội và môi trường.

Trong thực tiễn quản trị doanh nghiệp, văn hóa kinh doanh được cụ thể hóa thông qua hệ thống giá trị cốt lõi, triết lý kinh doanh và các chuẩn mực ứng xử với khách hàng, người lao động, đối tác cũng như cộng đồng. Nhiều tập đoàn lớn trên thế giới đã xây dựng bản sắc doanh nghiệp dựa trên những triết lý phát triển mang tính nhân văn và hướng tới khách hàng. Chẳng hạn, IBM từ lâu đã lấy phương châm “IBM means service” (IBM có nghĩa là phục vụ) làm cốt lõi văn hóa doanh nghiệp, nhấn mạnh tinh thần lấy khách hàng làm trung tâm, cam kết cung cấp dịch vụ tốt nhất và sự hoàn thiện liên tục trong mọi hoạt động (Watson, 1963/2003). Tương tự, General Motors (GM) trong những thập niên cuối thế kỷ XX, đặc biệt sau những thách thức về chất lượng sản phẩm và mất thị phần vào tay các đối thủ Nhật Bản, đã từng bước điều chỉnh chiến lược, chuyển mạnh trọng tâm sang cải thiện chất lượng sản phẩm và dịch vụ nhằm nâng cao sự hài lòng của khách hàng, dù mục tiêu lợi nhuận vẫn luôn là một phần quan trọng trong hoạt động kinh doanh (Helper và Henderson, 2014).

Văn hóa doanh nhân

Nếu văn hóa kinh doanh phản ánh hệ giá trị và các chuẩn mực điều chỉnh hoạt động của doanh nghiệp thì văn hóa doanh nhân lại tập trung vào chủ thể trực tiếp tạo lập, duy trì và lan tỏa những giá trị đó. Văn hóa doanh nhân là sự kết tinh của tri thức, năng lực, bản lĩnh, phẩm chất đạo đức, phong cách lãnh đạo và trách nhiệm xã hội của người làm kinh doanh. Đây là những yếu tố quyết định phương thức quản trị doanh nghiệp, định hướng chiến lược phát triển cũng như cách thức doanh nhân ứng xử với người lao động, đối tác, khách hàng và cộng đồng.

Trong cấu trúc của văn hóa doanh nhân, trí tuệ và đạo đức là hai thành tố có ý nghĩa nền tảng. Trí tuệ không chỉ thể hiện ở năng lực nắm bắt xu hướng phát triển của khoa học và công nghệ, khả năng phân tích thị trường, huy động và sử dụng hiệu quả các nguồn lực mà còn thể hiện ở tư duy đổi mới sáng tạo, năng lực dự báo và khả năng thích ứng trước những biến động của môi trường kinh doanh. Trong khi đó, đạo đức là yếu tố bảo đảm cho việc sử dụng những năng lực ấy đúng mục đích và phù hợp với lợi ích chung của xã hội. Một doanh nhân có năng lực nhưng thiếu trung thực, thiếu tinh thần thượng tôn pháp luật khó có thể tạo dựng được uy tín và phát triển doanh nghiệp một cách bền vững. Ngược lại, sự kết hợp hài hòa giữa tài năng và đạo đức sẽ tạo nên nền tảng cho những quyết định quản trị đúng đắn, góp phần xây dựng văn hóa doanh nghiệp lành mạnh và nâng cao giá trị thương hiệu.

Theo quan điểm của Hồ Sĩ Quý (2005), doanh nhân là "thuyền trưởng" của doanh nghiệp, người gánh vác trách nhiệm trước sự tồn tại và phát triển của tổ chức, đồng thời phải đối mặt với những rủi ro của thị trường và những yêu cầu ngày càng cao từ xã hội (tr. 13-14). Cách nhìn này cho thấy văn hóa doanh nhân không phải là một khái niệm mang tính hình thức hay chỉ dành cho một nhóm người thành đạt, mà chính là biểu hiện của nhân cách người làm kinh doanh trong nền kinh tế hiện đại. Đó là nhân cách của người biết làm giàu bằng năng lực, trí tuệ và sự sáng tạo, đồng thời biết sử dụng thành quả kinh doanh để đóng góp cho doanh nghiệp, cho cộng đồng và cho sự phát triển của đất nước. Vì vậy, xét về bản chất, văn hóa doanh nhân là một bộ phận của văn hóa con người, phản ánh trình độ phát triển của cả cá nhân doanh nhân và môi trường kinh doanh mà họ đang hoạt động.

Lê Hồng Lý (2005) cũng cho rằng doanh nhân là chủ thể chấp nhận rủi ro, tổ chức và điều hành hoạt động sản xuất, kinh doanh nhằm tạo ra lợi nhuận đồng thời kiến tạo những giá trị kinh tế và xã hội. Đối với Việt Nam, nơi nền kinh tế thị trường mới được hình thành và phát triển trong vài thập niên gần đây, việc xây dựng đội ngũ doanh nhân có bản lĩnh, năng lực và văn hóa càng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Những hạn chế về truyền thống kinh doanh, cùng với một số định kiến xã hội đối với hoạt động thương mại trong lịch sử, đòi hỏi quá trình xây dựng văn hóa doanh nhân phải được thực hiện một cách đồng bộ, từ việc hoàn thiện thể chế, nâng cao chất lượng đào tạo đến bồi dưỡng đạo đức nghề nghiệp và trách nhiệm xã hội của đội ngũ doanh nhân.

Có thể thấy, văn hóa kinh doanh và văn hóa doanh nhân tuy là hai khái niệm có nội hàm và đối tượng phản ánh khác nhau, song giữa chúng tồn tại mối quan hệ thống nhất và gắn kết chặt chẽ. Nếu văn hóa kinh doanh xác lập hệ thống giá trị, các nguyên tắc và chuẩn mực điều chỉnh hoạt động của doanh nghiệp thì văn hóa doanh nhân chính là sự hiện thân của những giá trị ấy thông qua phẩm chất, năng lực và hành vi của người lãnh đạo doanh nghiệp. Nói cách khác, văn hóa kinh doanh tạo nên khuôn khổ định hướng cho hoạt động sản xuất, kinh doanh, còn văn hóa doanh nhân giữ vai trò quyết định trong việc hiện thực hóa, gìn giữ và không ngừng bồi đắp các chuẩn mực đó trong thực tiễn. Sự thống nhất giữa văn hóa kinh doanh và văn hóa doanh nhân là cơ sở để hình thành môi trường kinh doanh lành mạnh, nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp, củng cố niềm tin của xã hội và tạo nền tảng cho sự phát triển ổn định, bền vững của nền kinh tế trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế.

Đặc trưng của văn hóa doanh nhân

Văn hóa doanh nhân không được hình thành từ những phẩm chất riêng lẻ mà là sự thống nhất của một hệ giá trị định hướng nhận thức, chi phối hành vi và quyết định phương thức ứng xử của doanh nhân trong toàn bộ quá trình tổ chức, quản trị và điều hành doanh nghiệp. Hệ giá trị đó được bồi đắp thông qua hoạt động kinh doanh, được kiểm chứng trong thực tiễn và trở thành cơ sở để doanh nhân xây dựng uy tín cá nhân cũng như tạo lập vị thế của doanh nghiệp trên thị trường. Trong điều kiện nền kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế, văn hóa doanh nhân không chỉ phản ánh phẩm chất của người lãnh đạo mà còn quyết định chất lượng quản trị, sức cạnh tranh và khả năng phát triển dài hạn của doanh nghiệp. Trên cơ sở đó, văn hóa doanh nhân được biểu hiện qua một số đặc trưng cơ bản sau đây.

Trước hết, trung thực và chữ tín là những giá trị cốt lõi, giữ vai trò nền tảng trong toàn bộ hoạt động kinh doanh. Trung thực không chỉ là yêu cầu về đạo đức mà còn là nguyên tắc bảo đảm sự minh bạch trong quan hệ với Nhà nước, đối tác, khách hàng và người lao động. Một doanh nhân có văn hóa phải tuân thủ pháp luật, tôn trọng các cam kết đã xác lập, cung cấp thông tin trung thực, bảo đảm chất lượng sản phẩm và dịch vụ, đồng thời kiên quyết loại bỏ những hành vi gian lận thương mại, trốn thuế, sản xuất hàng giả hoặc cạnh tranh không lành mạnh. Trong nền kinh tế thị trường, chữ tín là tài sản vô hình có giá trị đặc biệt, được hình thành từ sự nhất quán giữa lời nói và hành động, giữa cam kết và kết quả thực hiện. Uy tín của doanh nhân và doanh nghiệp không thể được xây dựng trong thời gian ngắn nhưng có thể bị đánh mất chỉ bởi một hành vi thiếu trung thực. Thực tiễn phát triển của doanh nghiệp ở Việt Nam cho thấy những doanh nghiệp duy trì được uy tín về chất lượng, dịch vụ và trách nhiệm đối với khách hàng thường có khả năng tạo dựng thương hiệu vững chắc và phát triển ổn định; ngược lại, các hành vi gian lận thương mại hoặc vi phạm quyền lợi người tiêu dùng đều dẫn đến sự suy giảm niềm tin của thị trường, gây tổn hại nghiêm trọng đến hình ảnh doanh nghiệp và kéo theo những hệ quả pháp lý, kinh tế có thể thấy rõ dần qua thời gian.

Gắn liền với trung thực và chữ tín là yêu cầu về  đạo đức kinh doanh và trách nhiệm xã hội. Trong bối cảnh phát triển hiện nay, doanh nhân không còn được đánh giá chỉ bằng quy mô doanh nghiệp hay mức lợi nhuận đạt được mà còn bởi những giá trị xã hội do hoạt động kinh doanh tạo ra. Đạo đức của doanh nhân được thể hiện thông qua việc tôn trọng quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động, bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng, thực hiện đầy đủ nghĩa vụ đối với Nhà nước, sử dụng tiết kiệm và hiệu quả các nguồn tài nguyên, đồng thời chủ động tham gia giải quyết những vấn đề chung của cộng đồng. Trách nhiệm xã hội vì vậy không phải là hoạt động mang tính tự phát hoặc hình thức mà là một bộ phận hữu cơ trong chiến lược phát triển của doanh nghiệp. Như lập luận của Hồ Sĩ Quý (2005), doanh nhân là người biết làm giàu cho bản thân đồng thời góp phần làm giàu cho doanh nghiệp và đất nước đã phản ánh rõ yêu cầu thống nhất giữa lợi ích cá nhân với lợi ích xã hội. Khi trách nhiệm xã hội trở thành một giá trị nội tại trong hoạt động quản trị, doanh nghiệp có thể nâng cao uy tín và thương hiệu, tạo dựng được sự đồng thuận, niềm tin và sự ủng hộ của cộng đồng, qua đó củng cố nền tảng cho sự phát triển lâu dài.

Từ đó, định hướng phát triển bền vững trở thành một đặc trưng quan trọng của văn hóa doanh nhân trong nền kinh tế hiện đại. Hoạt động kinh doanh không thể chỉ hướng đến lợi ích trước mắt mà phải tính đến những tác động lâu dài đối với môi trường tự nhiên, đời sống xã hội và lợi ích của các thế hệ tương lai. Điều này đòi hỏi doanh nhân phải biết hài hòa giữa mục tiêu tăng trưởng kinh tế với yêu cầu bảo vệ môi trường, sử dụng hợp lý tài nguyên, nâng cao chất lượng cuộc sống của người lao động và đóng góp tích cực cho sự phát triển của xã hội. Chính cách tiếp cận này tạo nên sự khác biệt giữa một mô hình kinh doanh theo đuổi lợi nhuận ngắn hạn với một mô hình phát triển dài hạn hơn. Trong điều kiện cạnh tranh toàn cầu ngày càng gay gắt, phát triển bền vững không chỉ là trách nhiệm mà còn là lợi thế cạnh tranh, góp phần nâng cao năng lực thích ứng và sức chống chịu của doanh nghiệp trước những biến động của thị trường.

Một đặc trưng quan trọng khác của văn hóa doanh nhân là trình độ trí tuệ, năng lực đổi mới sáng tạo và khả năng thích ứng trước sự thay đổi của môi trường kinh doanh. Sự phát triển mạnh mẽ của khoa học, công nghệ và chuyển đổi số đang làm thay đổi sâu sắc phương thức sản xuất, quản trị và cạnh tranh của doanh nghiệp. Trong bối cảnh đó, doanh nhân phải không ngừng nâng cao năng lực chuyên môn, khả năng phân tích và dự báo thị trường, quản trị hiệu quả các nguồn lực, đồng thời chủ động tiếp cận những thành tựu mới của khoa học và công nghệ để nâng cao năng suất, chất lượng và giá trị gia tăng của sản phẩm.

Bên cạnh năng lực quản trị và tư duy đổi mới, sự tôn trọng giá trị con người cũng là một giá trị không thể thiếu trong cấu trúc của văn hóa doanh nhân. Con người vừa là chủ thể sáng tạo, vừa là mục tiêu của sự phát triển doanh nghiệp. Vì vậy, doanh nhân có văn hóa luôn coi người lao động là nguồn lực quan trọng nhất, tạo điều kiện để họ phát huy năng lực, khuyến khích sáng tạo, bảo đảm môi trường làm việc an toàn, công bằng và nhân văn. Việc xây dựng mối quan hệ dựa trên sự tôn trọng, đối thoại và chia sẻ góp phần nâng cao hiệu quả quản trị, tạo nên sự gắn kết giữa người lao động với doanh nghiệp. Đồng thời, việc duy trì những giá trị văn hóa trong tổ chức thông qua các hoạt động ghi nhận thành tích, tôn vinh những đóng góp của người lao động hay xây dựng môi trường làm việc đoàn kết cũng góp phần hình thành bản sắc doanh nghiệp, tăng cường tính ổn định của nguồn nhân lực và nâng cao hiệu quả hoạt động trong dài hạn.

Thực tiễn và thách thức ở Việt Nam

Quá trình đổi mới và phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đã tạo điều kiện cho đội ngũ doanh nhân Việt Nam từng bước hình thành, phát triển cả về số lượng lẫn chất lượng, đồng thời đặt nền móng cho sự hình thành hệ giá trị văn hóa doanh nhân trong bối cảnh hội nhập quốc tế. Sau bốn thập niên đổi mới, doanh nhân đã trở thành một lực lượng kinh tế - xã hội quan trọng, giữ vai trò trực tiếp trong việc huy động các nguồn lực đầu tư, thúc đẩy sản xuất, mở rộng thị trường, tạo việc làm và nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế. Tuy nhiên, cùng với những thành tựu đã đạt được, quá trình xây dựng văn hóa doanh nhân ở Việt Nam vẫn đang đứng trước nhiều yêu cầu mới và bộc lộ không ít hạn chế cần tiếp tục khắc phục để đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong giai đoạn mới.

Sự phát triển mạnh mẽ của khu vực kinh tế tư nhân trong những năm gần đây là minh chứng rõ nét cho vai trò ngày càng quan trọng của đội ngũ doanh nhân Việt Nam. Khu vực kinh tế tư nhân hiện có khoảng hơn 940 nghìn doanh nghiệp và hơn 5 triệu hộ kinh doanh đang hoạt động, đóng góp khoảng 50% GDP, hơn 30% tổng thu ngân sách nhà nước và sử dụng khoảng 82% tổng số lao động vào tăng trưởng kinh tế, tạo việc làm, là lực lượng quan trọng thúc đẩy đổi mới sáng tạo, nâng cao năng suất lao động, gia tăng năng lực cạnh tranh quốc gia, góp phần xoá đói, giảm nghèo, ổn định đời sống xã hội (Bộ Chính trị, 2025). Cùng với sự gia tăng nhanh chóng về số lượng doanh nghiệp, nhiều doanh nhân Việt Nam đã từng bước khẳng định năng lực quản trị, xây dựng được những tập đoàn có quy mô lớn, tiềm lực mạnh, từng bước tham gia sâu vào chuỗi giá trị khu vực và toàn cầu. Việc chú trọng đầu tư vào khoa học, công nghệ, chuyển đổi số, đổi mới sáng tạo và thực hiện trách nhiệm xã hội đã cho thấy sự thay đổi rõ nét trong tư duy phát triển của một bộ phận doanh nhân Việt Nam, chuyển dịch từ mục tiêu tăng trưởng đơn thuần sang hướng phát triển bền vững và tạo lập giá trị lâu dài.

Sự chuyển biến đó cũng được phản ánh trong nhận thức và phương thức tổ chức hoạt động kinh doanh. Nếu như ở giai đoạn đầu của quá trình chuyển đổi nền kinh tế, một số hoạt động kinh doanh còn chịu ảnh hưởng của tư duy ngắn hạn, chú trọng lợi nhuận trước mắt, thì hiện nay ngày càng nhiều doanh nghiệp lựa chọn chiến lược phát triển dựa trên chất lượng sản phẩm, đổi mới công nghệ, xây dựng thương hiệu và nâng cao uy tín trên thị trường. Nhiều doanh nhân không chỉ quan tâm đến hiệu quả sản xuất, kinh doanh mà còn tích cực tham gia các hoạt động an sinh xã hội, hỗ trợ cộng đồng, khuyến học, bảo vệ môi trường và ứng phó với thiên tai, dịch bệnh.

Bên cạnh sự nỗ lực chủ động của cộng đồng doanh nhân, việc xây dựng văn hóa doanh nhân ở Việt Nam còn nhận được sự quan tâm đặc biệt từ Đảng, Nhà nước và các tổ chức đại diện cho cộng đồng doanh nghiệp. Chủ trương xây dựng đội ngũ doanh nhân có bản lĩnh, trí tuệ, đạo đức nghề nghiệp và văn hóa kinh doanh đã được khẳng định xuyên suốt trong nhiều nghị quyết, văn kiện quan trọng của Đảng. Tiêu biểu là Nghị quyết số 09-NQ/TW (năm 2011) của Bộ Chính trị về xây dựng và phát huy vai trò của đội ngũ doanh nhân Việt Nam trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế; tiếp đó là các định hướng được phát triển mạnh mẽ trong Văn kiện Đại hội XIII và Đại hội XIV của Đảng. Đặc biệt, Nghị quyết số 68-NQ/TW (năm 2025) của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân đã đưa ra những quan điểm mới, đột phá, coi kinh tế tư nhân là động lực quan trọng nhất và nhấn mạnh vai trò tiên phong của đội ngũ doanh nhân trong đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số. Song song với đó, nhiều chương trình, chính sách hỗ trợ khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và hội nhập kinh tế quốc tế đã được triển khai mạnh mẽ, góp phần nâng cao năng lực quản trị, mở rộng tầm nhìn chiến lược và từng bước đưa đội ngũ doanh nhân Việt Nam tiếp cận các chuẩn mực quản trị hiện đại của khu vực và thế giới. Tiêu biểu như Chương trình quốc gia hỗ trợ doanh nghiệp chuyển đổi số đến năm 2025 (Quyết định 749/QĐ-TTg), Quỹ Đổi mới sáng tạo Quốc gia (NATIF), Chương trình hỗ trợ khởi nghiệp quốc gia (Startup Nation), cùng các đề án hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa (SMEs) theo Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa 2017 (sửa đổi, bổ sung). Đặc biệt, việc tham gia các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới như CPTPP, EVFTA, RCEP đã tạo điều kiện cho doanh nhân Việt Nam tiếp cận thị trường quốc tế, nâng cao tiêu chuẩn quản trị theo thông lệ toàn cầu. Nhiều doanh nghiệp đã áp dụng các mô hình quản trị tiên tiến như ISO 9001, Lean Management, hoặc tham gia các chương trình đào tạo của VCCI, các viện nghiên cứu và đối tác quốc tế (World Bank, ADB, USAID...), góp phần thay đổi rõ nét tư duy và năng lực của đội ngũ doanh nhân.

Đáng chú ý, nhiều tổ chức xã hội - nghề nghiệp và hiệp hội doanh nghiệp đã triển khai các chương trình tôn vinh doanh nghiệp, doanh nhân tiêu biểu, xây dựng bộ tiêu chí về văn hóa kinh doanh và khuyến khích thực hiện trách nhiệm xã hội. Tiêu biểu là Giải thưởng Sao Vàng Đất Việt do Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh tổ chức, Giải thưởng Chất lượng Quốc gia do Bộ Khoa học và Công nghệ trao tặng, Giải thưởng Doanh nhân Việt Nam tiêu biểu của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI), cùng Chương trình Doanh nghiệp Vì Cộng đồng và Bộ tiêu chí Văn hóa kinh doanh Việt Nam do VCCI phối hợp với các bộ, ngành xây dựng và triển khai. Những hoạt động này góp phần lan tỏa các giá trị tích cực, tôn vinh những tấm gương doanh nhân có đạo đức, trách nhiệm, từng bước hình thành môi trường kinh doanh đề cao tính liêm chính, tinh thần thượng tôn pháp luật và văn hóa cạnh tranh lành mạnh.

Mặc dù vậy, quá trình xây dựng văn hóa doanh nhân ở Việt Nam vẫn đang đối mặt với nhiều khó khăn và thách thức. Một trong những trở ngại có tính lịch sử là những định kiến xã hội đối với hoạt động kinh doanh và tầng lớp doanh nhân. Trong nhiều giai đoạn của lịch sử, dưới ảnh hưởng của tư tưởng Nho giáo và điều kiện phát triển kinh tế - xã hội, hoạt động thương mại chưa được nhìn nhận đúng với vai trò vốn có. Những quan niệm xem trọng nông nghiệp, coi nhẹ thương nghiệp, cùng với dấu ấn của cơ chế kế hoạch hóa tập trung trong một thời gian dài, đã tạo nên những định kiến nhất định đối với hoạt động làm giàu và đối với đội ngũ doanh nhân. Mặc dù nhận thức xã hội đã có nhiều thay đổi sau công cuộc đổi mới, nhưng những ảnh hưởng từ lịch sử vẫn chưa hoàn toàn được khắc phục, làm cho hình ảnh doanh nhân trong một số trường hợp chưa được đánh giá khách quan và đầy đủ.

Một vấn đề khác là chất lượng văn hóa doanh nhân giữa các doanh nghiệp chưa đồng đều. Bên cạnh nhiều doanh nhân kinh doanh chân chính, tuân thủ pháp luật và có trách nhiệm với xã hội, vẫn còn một bộ phận đặt lợi ích kinh tế lên trên các chuẩn mực đạo đức và quy định pháp luật. Các hiện tượng như gian lận thương mại, sản xuất hàng giả, xâm phạm quyền lợi người tiêu dùng, trốn thuế, gây ô nhiễm môi trường hoặc cạnh tranh không lành mạnh vẫn xuất hiện ở nhiều lĩnh vực, ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường kinh doanh cũng như uy tín của cộng đồng doanh nhân Việt Nam. Những biểu hiện này cho thấy việc xây dựng văn hóa doanh nhân một mặt phụ thuộc vào ý thức tự giác của mỗi doanh nhân, mặt khác còn chịu tác động từ chất lượng của môi trường thể chế và hiệu lực thực thi pháp luật.

Bên cạnh đó, năng lực quản trị và khả năng hội nhập của một bộ phận doanh nhân, đặc biệt trong khu vực doanh nghiệp nhỏ và vừa, vẫn còn nhiều hạn chế. Trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, chuyển đổi số và hội nhập kinh tế quốc tế diễn ra ngày càng sâu rộng, yêu cầu đối với doanh nhân không chỉ dừng lại ở kinh nghiệm quản lý mà còn đòi hỏi năng lực đổi mới sáng tạo, khả năng ứng dụng công nghệ, tư duy quản trị hiện đại, trình độ ngoại ngữ và khả năng thích ứng với các tiêu chuẩn quốc tế. Sự thiếu hụt về những năng lực này làm giảm khả năng cạnh tranh của nhiều doanh nghiệp Việt Nam, đặc biệt khi tham gia vào chuỗi cung ứng toàn cầu và các thị trường có yêu cầu cao về chất lượng sản phẩm, quản trị và phát triển theo hướng bền vững.

Sự khác biệt về điều kiện phát triển giữa các vùng, các địa phương và quy mô doanh nghiệp cũng tạo ra sự không đồng đều trong quá trình hình thành văn hóa doanh nhân. Trong khi nhiều doanh nghiệp lớn tại các trung tâm kinh tế đã từng bước tiếp cận các chuẩn mực quản trị quốc tế và xây dựng được bản sắc văn hóa doanh nghiệp rõ nét thì không ít doanh nghiệp nhỏ ở địa phương vẫn gặp khó khăn về nguồn lực, trình độ quản trị và khả năng tiếp cận thông tin. Điều này dẫn đến sự khác biệt đáng kể về nhận thức, phương thức quản trị cũng như việc thực hành các giá trị văn hóa trong hoạt động kinh doanh.

Những hạn chế nêu trên là kết quả của sự tác động tổng hợp từ nhiều yếu tố, bao gồm điều kiện lịch sử, truyền thống văn hóa, trình độ phát triển của nền kinh tế thị trường, chất lượng thể chế, môi trường kinh doanh và năng lực của chính đội ngũ doanh nhân. Vì vậy, việc xây dựng văn hóa doanh nhân cần được đặt trong một chiến lược phát triển tổng thể với sự tham gia của nhiều chủ thể. Nhà nước cần tiếp tục hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường, xây dựng môi trường kinh doanh minh bạch, bình đẳng, nâng cao hiệu lực thực thi pháp luật và kiên quyết phòng, chống tham nhũng, tiêu cực. Các tổ chức xã hội - nghề nghiệp cần tăng cường vai trò định hướng, bồi dưỡng đạo đức nghề nghiệp và lan tỏa những giá trị tích cực trong cộng đồng doanh nghiệp. Về phía doanh nhân, việc không ngừng rèn luyện phẩm chất đạo đức, nâng cao năng lực quản trị, chủ động đổi mới sáng tạo và thực hiện trách nhiệm xã hội cần được xem là yêu cầu tất yếu của quá trình phát triển.

*

*       *

Văn hóa doanh nhân là một bộ phận quan trọng của nền văn hóa kinh doanh, đồng thời là yếu tố có ý nghĩa quyết định đối với chất lượng phát triển của đội ngũ doanh nhân và sự phát triển của doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường. Xét về bản chất, văn hóa doanh nhân không chỉ phản ánh phẩm chất, năng lực và nhân cách của người làm kinh doanh mà còn thể hiện hệ giá trị định hướng toàn bộ quá trình tổ chức, quản trị và điều hành doanh nghiệp. Sự thống nhất giữa mục tiêu phát triển kinh tế với các chuẩn mực đạo đức, trách nhiệm xã hội và yêu cầu phát triển bền vững đã làm nên nội hàm của văn hóa doanh nhân trong bối cảnh phát triển hiện đại. Những giá trị như trung thực, chữ tín, tinh thần đổi mới sáng tạo, trách nhiệm xã hội, sự tôn trọng giá trị con người và ý thức thượng tôn pháp luật là những chuẩn mực đạo đức cần có của doanh nhân, cũng là nền tảng tạo dựng uy tín, nâng cao năng lực cạnh tranh và bảo đảm sự phát triển lâu dài của doanh nghiệp.

Thực tiễn phát triển của Việt Nam trong hơn ba thập niên đổi mới cho thấy đội ngũ doanh nhân đã có bước trưởng thành đáng kể, trở thành lực lượng quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế, thúc đẩy đổi mới sáng tạo, tạo việc làm và mở rộng hội nhập quốc tế. Cùng với sự lớn mạnh của khu vực kinh tế tư nhân, nhận thức về vai trò của văn hóa doanh nhân cũng từng bước được nâng cao, thể hiện qua sự quan tâm của Đảng, Nhà nước, các tổ chức đại diện cộng đồng doanh nghiệp và bản thân đội ngũ doanh nhân đối với việc xây dựng đạo đức kinh doanh, nâng cao trách nhiệm xã hội và hình thành môi trường kinh doanh minh bạch, lành mạnh. Tuy nhiên, quá trình này vẫn chịu sự tác động của nhiều yếu tố lịch sử, văn hóa, thể chế và trình độ phát triển của nền kinh tế. Những biểu hiện như tư duy kinh doanh ngắn hạn, vi phạm đạo đức kinh doanh, năng lực quản trị còn hạn chế hoặc sự chênh lệch về trình độ phát triển giữa các nhóm doanh nghiệp cho thấy việc xây dựng văn hóa doanh nhân vẫn là một quá trình lâu dài, đòi hỏi sự kiên trì và những giải pháp đồng bộ./.

CHÚ THÍCH

(1) Xem A Business and Its Beliefs, https://www.ibm.com/history/business-belief

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Bộ Chính trị (2025), Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 4/5/2025 về phát triển kinh tế tư nhân trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

Đảng Cộng sản Việt Nam, (2021), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxn. Chính trị Quốc gia Sự thật, Hà Nội.

Đảng Cộng sản Việt Nam (2026), Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV.

Hawken, P. (1993), The Ecology of Commerce: A Declaration of Sustainability, Harper Business.

Helper, S. & Henderson, R. (2014), “Management Practices, Relational Contracts, and the Decline of General Motors”, Journal of Economic Perspectives, Vol. 28 (1), pp. 49-72.

Hồ Sĩ Quý (2005), “Văn hóa doanh nhân: Từ đời sống thực tế đến khái niệm học thuật”, Tạp chí Văn hóa dân gian, Số 6 (102).

Ito, Hiroshi & Kawazoe, Nobuo (2019), “Assessing and promoting eco-policies in Toyota City, Japan”, Journal of Asian Public Policy, Vol. 2 (1), pp. 35-52.

Lê Hồng Lý (2005), “Bàn về việc xác lập những tiêu chí của văn hóa doanh nhân”, Số 4 (100).

Sen, A. (1999), Development as Freedom, New York: Alfred A. Knopf.

Võ Quang Trọng (2005), “Bàn về văn hóa kinh doanh và văn hóa doanh nhân”, Tạp chí Văn hóa dân gian, Số 4 (100).

Watson, T. J. (1963/2003), A Business and Its Beliefs: The Ideas That Helped Build IBM, McGraw-Hill.

 

Nguồn bài viết: Chi đoàn Viện Nghiên cứu Văn hóa
Tin xem nhiều
Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tất cả: 1