Cấu trúc nền móng và mặt bằng Điện Kính Thiên thời Lê Trung hưng tại khu trung tâm Hoàng thành Thăng Long - Hà Nội qua các phát hiện khảo cổ học
T ừ năm 2011 - 2022, thực hiện khuyến nghị của UNESCO, Khảo Cổ học đã khai quật và đem lại nhiều hiểu biết mới về không gian điện Kính Thiên qua hệ thống di tích từ Đoan Môn đến nền điện Kính Thiên. Tuy nhiên, dấu tích của tòa chính điện Kính Thiên vẫn là câu hỏi lớn và chưa có lời giải đáp thỏa đáng. Đầu năm 2023, dưới sự chỉ đạo của UBND thành phố Hà Nội; Quyết định khai quật của Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch đã cho phép Trung tâm Bảo tồn Di sản Hoàng thành Thăng Long - Hà Nội phối hợp với Viện Khảo cổ học tiến hành khai quật thăm dò 150m 2 trên nền điện Kính Thiên. Kết quả khai quật cho đến thời điểm hiện nay đã phát lộ một phần dấu tích nền móng điện Kính Thiên thời Lê và thời Nguyễn.

 

 

Anh-tin-bai

 


Bài viết này dựa vào tư liệu lịch sử và những phát hiện mới về khảo cổ học trên nền điện Kính Thiên, bước đầu nhận diện cấu trúc nền móng và cấu trúc mặt bằng Chính điện Kính Thiên thời Lê Trung hưng (thế kỷ XII - XIII). Đây cũng bước đi rất quan trọng góp phần nhận diện tổng thể khu di sản với hạt nhân là chính điện Kính Thiên.

1. Sử liệu về quá trình xây dựng và phá hủy Chính điện Kính Thiên thời Lê

Ngày 12 tháng 12 năm 1427 quân Minh thua trận rút về nước, cuộc khởi nghĩa Lam Sơn do Lê Lợi lãnh đạo đã đi đến thắng lợi cuối cùng. Tháng 4 năm 1428 thủ lĩnh Lê Lợi cho dời điện tranh Bồ Đề (Gia Lâm) về thành Đông Kinh (Thăng Long). Ngày 15 tháng 4 chính thức lên ngôi hoàng đế, niên hiệu là Thuận Thiên, quốc hiệu Đại Việt, kinh đô là Đông Kinh (Thăng Long) ( Đại Việt sử ký toàn thư 1998: 293 ) chính thức sáng lập nhà Lê sơ, mở ra thời kỳ độc lập thịnh trị của nước Đại Việt. Đến tháng 12 năm 1428 , “vua (Lê Thái Tổ) làm điện Vạn Thọ, lại làm Tả, Hữu điện, điện Kính Thiên, điện Cần Chính” ( Đại Việt sử ký toàn thư 1998: 298), đây là những kiến trúc rất quan trọng, liên quan đến nơi thị triều, làm việc hàng ngày và nơi ở của hoàng gia. Giai đoạn vua Lê Thái Tông (1434 - 1442), điện Kính Thiên được đổi tên là điện Hội Anh 1 . Năm 1443, vua Lê Nhân Tông đổi tên điện Hội Anh là điện Tập Hiền 2 . Sau khi Lê Thánh Tông nối ngôi (8/6/1946), ông cho khôi phục lại tên điện Kính Thiên (năm 1463) 3 . Hai năm sau, ngày 16 tháng 3 năm 1465, ông cho phá bỏ điện cũ để dựng lại tòa điện mới và đến tháng 11 năm 1465 điện Kính Thiên làm xong. Riêng, lan can đá bao quanh nền điện phải đến tháng 8 năm 1467 mới hoàn thành ( Hình 1 ).

Picture 8

Hình 1. Vị trí điện Kính Thiên (số 8) và các kiến trúc khác trên bản đồ Hồng Đức, ký hiệu A2499

(Nguồn: Nhóm tác giả)

Từ năm 1527 đến năm 1592 là thời kỳ Nam - Bắc triều , nhà Mạc chiếm giữ một vùng rộng lớn từ khu vực Ninh Bình trở ra, đóng đô ở Thăng Long. Trong thời gian này, chính sử gần như không ghi chép gì về hoạt động của nhà Mạc ở điện Kính Thiên, chỉ có sự kiện Mạc Đăng Dung lên ngôi ở chính điện ( Đại Việt sử ký toàn thư 1998: 110 ) vào tháng 6 năm 1527. Ngoài ra, chỉ có Lê Quý Đôn chép trong Đại Việt Thông sử cho biết năm 1582 nhà Mạc dự định tiến hành đợt quy hoạch lớn ở Thăng Long, sẽ xây tòa chính điện nguy nga giữa trời ( Lê Quý Đôn 2007: 424 ).

Năm 1 593, nhà Mạc bị đánh bật khỏi Thăng Long, vua Lê Thế Tông từ Vạn Lại - Yên Trường ( Thanh Hóa ) trở về kinh đô Thăng Long, lên ngự tại điện Kính Thiên ( Đại Việt sử ký toàn thư 1998: 183) . Trong thời Lê Trung hưng chính sử chỉ chép 1 lần xây dựng lớn vào tháng 9 năm 1630 dưới đời vua Lê Thần Tông; “dựng 3 tòa cung điện và 16 gian hành lang” ( Đại Việt sử ký toàn thư 1998: 229 ) . Có thể nói, giai đoạn này vai trò của điện Kính Thiên được khôi phục nhưng tình hình chính trị ở Thăng Long có sự thay đổi, ngoài Hoàng thành của vua Lê còn có thêm Vương phủ của chúa Trịnh. Đặc biệt, từ giữa thế kỷ XVIII, quyền lực của chúa Trịnh được đẩy lên cao lấn át quyền hành vua Lê, vai trò của điện Kính Thiên cũng suy giảm và trở thành điện thờ Trời - Đất và phụ phối thờ Lê Thái Tổ, nghi lễ thị triều chuyển xuống cổng Kính Thiên hoặc ở điện Cần Chánh ( Phạm Đình Hổ, Nguyễn Án 1961: 25-26 ).

Năm 1786, để tỏ ý khôi phục quốc thống và ban bố ý nguyện “phù Lê diệt Trịnh” của anh em Tây Sơn Nguyễn Huệ đã đề nghị vua Lê Hiển Tông cho khôi phục lễ Đại triều tại điện Kính Thiên ( Ngô Cao Lãng 1875: 331 ). Năm 1789, sau khi đại phá quân Thanh, Nguyễn Huệ lên ngôi vua chọn Phú Xuân làm kinh đô, Thăng Long được gọi là Bắc thành giữ vai trò trung tâm của khu vực phía Bắc và cho đến năm 1802 cấu trúc khu vực Điện Kính Thiên của nhà Lê vẫn không thay đổi.

Năm 1802, vua Gia Long sáng lập triều Nguyễn, lấy Huế làm kinh đô, cùng năm đó, vua xa giá tới Bắc Thành, dừng lại ở Thăng Long lên ngự ở điện Kính Thiên (do nhà Lê xây dựng). Hai năm sau (1804), nhà Nguyễn cho làm thêm một tòa hậu điện ở sau điện Kính Thiên làm nơi trú chân khi vua đi tuần thú 4 . Đến năm 1816, vua Gia Long cho xây dựng lại điện Kính Thiên với quy mô nhỏ hơn vì “gỗ ở điện Kính Thiên Bắc thành mục nát không thể tu bổ được, chuẩn cho dỡ xuống để quy vào một nơi, rồi cứ nền điện ấy tìm sắm gỗ dựng làm nhà Phan Vọng, nhà chính 3 gian hợp thành 1 tòa để tiện ngày sóc vọng triều hội” ( Nội các triều Nguyễn 1993: 51 ) . Đến tháng 12 năm 1841, vua Thiệu Trị cho đổi tên điện Kính Thiên ở Hà Nội làm điện Long Thiên ( Quốc sử quán triều Nguyễn 2007: 276 ) . Khoảng năm 1886 - 1889, sau khi quân đội Viễn chinh Pháp chiếm thành Hà Nội, họ đã phá bỏ tòa điện Long Thiên để xây dựng tòa nhà Pháo binh, mở đường cho một giai đoạn phá hủy và xây dựng mới ở đây. Đây cũng được xem là mốc thời gian toàn bộ điện Long Thiên thời Nguyễn và nền móng điện Kính Thiên thời Lê chính thức trở thành phế tích.

Như vậy, kể từ khi xây dựng vào năm 1428 đến khi bị phá hủy năm 1816, chính điện Kính Thiên nhà Lê tồn tại trong thời gian rất dài 388 năm trải thời Lê sơ, Mạc, Lê Trung hưng và đời vua Nguyễn Gia Long, kiến trúc có một số lần được xây mới, tu sửa và đổi tên. Từ khi xây dựng, C hính điện Kính thiên và không gian Chính điện Kính Thiên là không gian chính trị và không gian nghi lễ quan trọng nhất của kinh thành Thăng Long. Tại đây, Hoàng đế cử hành các đại điển lễ của triều đình như: thiết triều, nghị bàn quốc gia đại sự, điện thí, tiếp đón sứ thần... Do đó, điện Kính Thiên là biểu trưng cao nhất của cho quyền lực quốc gia Đại Việt xuyên suốt 4 thế kỷ (XV-XVIII).

2. Nhận diện quy mô nền móng và cấu trúc mặt bằng điện Kính Thiên

2.1. Vị trí trung tâm của điện Kính Thiên thời Lê

Vị trí của điện Kính Thiên luôn là một vấn đề được quan tâm, vì đây không chỉ là vị trí của tòa chính điện mà còn là mạch đất thiêng của kinh thành Thăng Long. Theo các nhà địa văn hóa - lịch sử thế kỷ XVIII - XIX đa số đều có quan điểm thống nhất về vị trí địa phong thủy của chính điện Kính Thiên trong các tác phẩm; Bắc thành địa dư chí lục của Lê Chất (1818-1821) 5 ( Nguyễn Thúy Nga, Nguyễn Văn Nguyên 2007 ), sách Hoàng Việt địa dư chí (1833) 6 ( Nguyễn Thúy Nga và Nguyễn Văn Nguyên 2007: 513 ), Hà Nội địa dư năm Tự Đức của Dương Bá Cung (1852) 7 ( Nguyễn Thúy Nga và Nguyễn Văn Nguyên 2007: 52 ), Đại Nam nhất thống chí (1864-1875) 8 ( Quốc sử quán triều Nguyễn 2006 : 206 ), Đại Việt địa dư toàn biên (Phương Đình dư địa chí) của Nguyễn Văn Siêu (1882) 9 ( Nguyễn Văn Siêu, Phương Đình 2001: 165 ), Hà Nội sơn xuyên phong vực (soạn cuối năm 1887 - đầu năm 1888) 10 ( Nguyễn Thúy Nga và Nguyễn Văn Nguyên2007: 163 ). Đó là tòa điện được xây trên núi Long Đỗ (núi Nùng) là nơi huyệt điểm “tàng phong tụ khí” , nơi thông Thiên đạt Ðịa giữa các Hoàng đế Ðại Việt thời xưa với Thiên đế để tạo ra vạn vật giao hòa, Quốc thái dân an, Quốc gia trường thịnh, dân tộc vĩnh cửu. Đó cũng chính là lý do quan trọng nhất để lý giải vì sao qua nhiều triều đại, nhiều đời vua, vị trí của chính điện trung tâm của kinh thành Thăng Long không thay đổi.

Picture 3

Hình 2. Toàn cảnh khu vực điện Kính Thiên (Đoan Môn đến cửa Bắc) trong những năm 1888 - 1896

(Nguồn: Nhóm tác giả)

Trên hiện trạng di tích, vị trí Chính điện Kính Thiên hiện nay được dự đoán là phần nền móng cao hơn 2.14m, còn lại 2 bộ lan can đá thềm bậc cổ, bao quanh là bó nền gạch. Tuy nhiên, dấu tích này cũng vô cùng phức tạp được làm vào nhiều giai đoạn khác nhau; đoạn bó nền phía nam và một phần phía bắc có niên đại thời Nguyễn, các cạnh tây và đông đã bị phá hủy khi quân đội Pháp xây 2 nhà Tả - Hữu vào năm 1887 và 1888, chính giữa nền điện đúng vào vị trí của điện Long Thiên và cũng là điện Kính Thiên là tòa nhà Pháo binh xây vào năm 1888 - 1889 ( Hình 2 ).

Nghiên cứu về Chính điện Kính Thiên trước đây, tuyệt đại đa số các nhà nghiên cứu đã chỉ định vị trí của tòa điện chính là khu nền cao nhất trên trục trung tâm của thành cổ Hà Nội. Bởi vị trí này hội tụ đủ yếu tố phong thủy và hệ thống di tích di vật như; 2 bộ lan can đá cổ thời Lê ở phía nam và phía tây bắc. Trong đó, Lan can đá phía nam có 3 lối lên, lối lên ở chính giữa thẳng với cửa chính của Đoan Môn là dấu tích cũ của đường Ngự Đạo. Các cuộc khai quật từ năm 2011 - nay đã minh chứng một cách thuyết phục cho nhận định sáng suất đó. Tuy nhiên, dấu tích nền móng điện Kính Thiên thì vẫn là câu hỏi lớn?.

2.2. Dấu tích thềm bậc đá

Sách Đại Việt sử ký toàn thư cho biết: Ngày 16 tháng 3 năm 1465, vua Lê Thánh Tông cho phá bỏ cũ để dựng lại điện Kính Thiên mới, đến tháng 11 năm 1465 thì làm xong . Hai năm sau, n gày 15 tháng 8 (1467), dựng lan can bằng đá ở điện Kính Thiên ( Đại Việt sử ký toàn thư : 426 ).

Picture 9 Hình 3. Bộ lan can đá thềm bậc thời Lê Thánh Tông, tạo tác năm 1465-1467 (Bảo vật Quốc gia năm 2020)

(Nguồn: Nhóm tác giả)

Lan can thềm bậc phía trước nằm chính giữa nền kiến trúc cao 2.14m, tổng thể thềm bậc rộng 13,6m, chia làm 3 lối lên xuống, giữa rộng 4.3m (chính giữa lan can rồng là 4,8m), hai bên rộng 3.85m, có 11 bậc. Lối đi chính giữa giới hạn bởi 2 thành bậc chạm rồng, cạnh đáy dài 5,08m, dày 44cm, cao 2,7m, rồng dài 5,2m ở tư thế lượn từ trên xuống, đầu rồng ngẩng cao, trán dô, miệng ngậm ngọc, mũi cao, mắt tròn, mi mắt cong hình cánh cung vặn xoắn, hai nanh nhọn, râu gồm các chòm xoắn đầu, một số sợi dài trải đều về hai phía, tai thú, sừng dài có nhánh, bờm liền 1 khối tỉa nhiều rãnh nhỏ, lượn dọc chùm lên một đoạn vây, thân rồng tròn mập không có vảy, uốn 7 khúc hình sin, vây lưng tạo theo phong cách hình ngọn lửa trải đều, tại các điểm uốn khúc bờm vặn sang 1 bên theo chuyển động co lại của thân, ức và bụng tỉa các khoang song song đều đặn, 4 chân to chắc khỏe, ngón nhiều đốt 5 móng dài sắc nhọn, một chân trước đưa ra nắm râu, chân sau co lại đưa về phía sau, hai chân giữa chống song song. Tượng rồng trườn trên các cuộn sóng nước, ở các khúc uốn cao là các khối mây lớn 3 ngọn trải dài, tạo ra hình tượng biểu trưng cho quyền uy của hoàng đế, hết sức sống động và uy nghiêm (Hình 3) .

Lan can hai bên chạm long vân và hoa sen dây, nhỏ hơn lan can rồng về cả chiều dài và độ dày, kích thước cạnh đáy dài 4,64m, dày 36cm, cao 2,7m. Mặt ngoài tạo 2 mảng chạm lớn, trên chạm theo đồ án long mây chạy chéo từ đỉnh xuống theo tư thế của lan can rồng. Các cụm mây xoắn hình khánh nối tiếp nhau, cụm to cụm nhỏ chồng lớp xen giữa là các đao lửa mũi nhọn uốn cong mềm mại, cụm mây lớn có bố cục 3 nhánh, cụm nhỏ chỉ có 1 nhánh duy nhất .

Căn cứ vào tạo hình, họa tiết trang trí và nghiên cứu so sánh lan can thềm bậc có niên đại thời Lê Sơ, nhiều khả năng được tạo tác vào năm 1465 - 1467 đời vua Lê Thánh Tông. Như vậy, lan can đá thềm bậc điện Kính Thiên là di vật gốc gắn liền với công trình điện Kính Thiên thời Lê Sơ cũng là chính điện quan trọng nhất trong hệ thống cung điện trong hoàng cung Thăng Long thời Lê sơ 11 . Do vậy, lan can thềm bậc đá có ý nghĩa quan trọng là di vật gốc giúp cho việc xác định chính xác chiều cao của nền điện Kính Thiên là 2.7m, con số này tương đối khớp với độ dày của nền đất đắp thời Lê mà khảo cổ học phát hiện tại hố H3 năm 2023 trên nền điện Kính Thiên.

2.3. Nhận diện mặt bằng điện Kính Thiên qua các phát hiện khảo cổ học

Picture 13

Hình 4. Dấu tích Ngự Đạo thời Lê phát hiện từ Đoan Môn

đến nhà Cục Tác Chiến

(Nguồn: Nhóm tác giả)

2.3.1. Qua dấu tích Ngự Đạo ( Hình 4)

Ngự Đạo là một thành tố kiến trúc rất quan trọng của một đô thành cổ. Trên trục này, các hoàng đế xây dựng những kiến trúc quan trọng nhất của vương triều. Thực tế từ các kinh đô cổ trung đại ở Đông Á và Đông Nam Á luôn có một trục chính giữa để phân chia các không gian trước - sau và hai bên. Ngoài ra, trục Trung tâm còn được thiết kế là con đường lớn kết nối các không gian, trong đó không gian trung tâm Ngự đạo đi qua các cửa chính và trùng khớp vào các gian giữa của các chính điện vì thế nên trục Trung tâm còn được gọi là trục Hoàng đạo hay Ngự đạo.

Thành Thăng Long là một kinh thành cổ điển hình Phương Đông do đó Trục Trung tâm cũng chính là Trục Ngự Đạo. Trục này bắt đầu từ cửa chính Nam (cửa Thừa Thiên - Chu Tước - Tam Môn) qua khu Triều Đường (khu vực các Bộ, Tự, Khoa) đến cửa Đoan Môn, rồi lại qua sân Đan Trì, đến điện Kính Thiên sau đó tiếp tục đến khu Hậu điện và cửa Bắc Thần. Tại khu di sản Thăng Long - Hà Nội, kết quả khai quật khảo cổ học ở khu vực trung tâm đã xác định được dấu tích Ngự Đạo từ cửa Đoan Môn thẳng đến nền điện Kính Thiên, dựa vào dấu tích còn lại của nền gạch sân Đan Trì kích thước Ngự Đạo rộng 6.8m, chỉ còn lại móng gia cố, vật liệu lát đường đã bị bóc đi hoàn toàn. Hiện trạng móng gia cố cho thấy 2 bên sườn còn để lại rãnh rộng 45cm là dấu tích của kè đá, lòng đường rộng 6m, chia làm 3 lối đi chính giữa rộng 3.8m, hai bên rộng 1.1m. Đáng chú ý, Ngự Đạo thời Lê Trung hưng và Lê sơ chồng xếp lên nhau và có kích thước tương tự nhau.

Có thể nói, việc phát lộ đầy đủ cấu trúc của Ngự Đạo có thể xác định gian chính giữa của các kiến trúc chính điện nằm trên trục chính tâm trong đó có điện Kính Thiên, dựa vào cách xác định này gian giữa điện Kính Thiên nhiều khả năng rộng 6.8m.

2.3.2. Mặt bằng điện Kính Thiên qua các phát hiện khảo cổ học năm 2011 và năm 2023 trên nền điện Kính Thiên

Picture 1 Hình 5. Sơ đồ vị trí các hố thăm dò quanh nền điện Kính Thiên năm 2011

(Nguồn: Nhóm tác giả)

Năm 2011, Trung tâm Bảo tồn di sản Thăng Long - Hà Nội và Viện Khảo Cổ học đã tiến hành khai quật 4 hố thăm dò quanh khu vực nền điện Kính Thiên. Hố H1 và H2 mở ở vị trí lan can đá thềm bậc phía trước nền điện Kính Thiên. Trong khi đó vị trí hố H3 có diện tích 32m 2 (8m x 4m) sát với bậc thềm rồng phía sau nền điện và hố H4 có diện tích 20m2 (5m x 4m) phía đông bắc đối diện với hố H3 ( Hình 5 ).

Tại hố H3 và H4 xuất lộ dấu tích móng đầm gia cố kiến trúc thời Lê có kết cấu vật liệu và kỹ thuật tương tự nhau, cụ thể; hố H3 ở độ sâu 1m so với mặt bằng hiện tại đã phát lộ 3 dấu tích móng đầm (ký hiệu 11.ĐKT.MĐ04, 11.ĐKT.MĐ05, 11.ĐKT.MĐ06) có tính chất là móng kép, trong đó móng đầm số 04 (11.ĐKT.MĐ04) nằm ngay dưới cạnh tây của lan can đá, phát lộ tương đối rõ ràng kích thước dài bắc - nam là 4 m, rộng đông - tây là 2.3m, cạnh bắc vẫn còn tiếp tục ăn sâu vào vách. Kỹ thuật đầm móng rất kỹ, chỉ với độ sâu 63cm (chưa cắt đến đáy móng) đã có 11 lớp đầm khác nhau cứ một lớp vật liệu gạch ngói đỏ thì lại có 1 lớp đầm bằng đất sét. Các móng 11.ĐKT.MĐ05, 11.ĐKT.MĐ06 cũng có tính chất tương tự nhưng chưa xuất lộ hoàn toàn. Nhận định bước đầu của đoàn khai quật cho thấy đây là kết cấu đầm gia cố móng kiến trúc, có 4 móng đầm chạy theo chiều Bắc - Nam với khoảng cách chính giữa là 5.2m, khoảng cách 2 bên là 3.1m. Tuy nhiên, cũng không loại trừ khả năng là móng đầm gia cố thềm rồng giống như móng đầm của thềm rồng trước điện Kính Thiên ( Nguyễn Văn Mạnh và nnk: 34 - 47 ).

Hố H4 cũng xuất lộ 2 dấu tích móng nhưng chưa xuất lộ hoàn toàn, các móng này có kỹ thuật đầm gia cố giống nhau, móng thứ nhất nằm sát vách bắc, dài 3m, rộng 1,6m còn móng số 2 rộng Bắc - Nam là 2.3m. Nhận định của đoàn khai quật cho thấy: các móng ở hố H3 và H4 dù ở cách xa nhau 44m theo chiều Đông - Tây nhưng có tính tương đồng rất cao về kỹ thuật đầm móng và cao độ xuất lộ (các móng ở hố H3 xuất lộ ở độ cao +9.23m, còn móng ở hố H4 có cao độ + 9.16m so với mực nước biển). Vì vậy, các móng đầm này có thể được xây dựng cùng một giai đoạn dưới triều Lê Trung hưng ( Hình 6 ).

Đó là những nhận thức rất quan trọng và xác đáng trong bối cảnh diện tích khai quật rất nhỏ hẹp cũng như các dữ liệu khảo cổ học xung quanh khu vực điện Kính Thiên là vô cùng hạn chế ở thời điểm năm 2011 12 .

Picture 2

Hình 6. Dấu tích móng đầm kiến trúc tại hố H3 và H4 ở mặt bắc nền điện Kính Thiên, năm 2011

(Nguồn: Nhóm tác giả)

Các hố đào đầu năm 2023, được mở trên nền điện Kính Thiên, ở vị trí xung quanh nhà Pháo binh ( Hình 7 ). Cho đến thời điểm hiện nay, tại vị trí các hố khai quật thăm dò, đã xuất lộ dấu vết kiến trúc thời Nguyễn (thế kỷ XIX - XX), thời Lê Trung hưng (thế kỷ XVII - XVIII) và thời Lê sơ (thế kỷ XV - XVI). Về cơ bản, cuộc khai quật đã cung cấp cho chúng ta thông tin 2 vấn đề quan trọng nhất là: Nền kiến trúc và móng gia cố chân cột của dấu tích chính điện Kính thiên thời Lê. Trong đó dấu tích chính điện Kính Thiên thời Lê Trung hưng, thế kỷ XVII - XVIII là rõ ràng hơn.

Picture 10

Hình 7. Vị trí các hố khai quật tại nền điện Kính Thiên năm 2023 (Nguồn: Nhóm tác giả)

Dấu tích kiến trúc thời Lê Trung hưng xuất lộ ở độ sâu -0,35m so với mặt bằng hiện tại trước khi mở hố, trong phạm vi H3, H4, H5, H6. Đã nhận diện được móng nền và hệ thống các móng cột kiến trúc. Do hạn chế về diện tích khai quật nên chưa thể làm phát lộ toàn bộ số lượng móng cột kiến trúc. Tuy nhiên, trên mặt bằng tổng thể, các vị trí khai quật thăm dò đều rơi đúng vào điểm khóa hồi của kiến trúc nên bước đầu có thể xác định được quy mô kiến trúc theo chiều ngang (Đông - Tây) và chiều sâu (Bắc - Nam), mặt khác các móng cột tại hố H3 ngoài bước gian khóa hồi còn xác định được kích thước gian liên hồi. Đặc biệt, các móng cột ở hố H3 và H4 trên nền điện năm nay cũng có khoảng cách và đồng phương vị (đồng trục) với các các móng đã phát lộ ở hố TS03 và TS04 khai quật năm 2011.

- Móng nền : Là lớp tôn nền từ thời Lê sơ, sau đó thời Lê Trung hưng sử dụng lại và đắp thêm. Tại vị trí thám sát sâu nhất ở hố H3 từ mặt nền hiện đại xuống -3.6m tương ứng với cao độ +12.0m đến +8.60m so với mực nước biển, ở độ sâu này nền kiến trúc vẫn còn tiếp tục ăn sâu xuống lòng đất. So sánh với mặt nền sân gạch của dấu tích sân Đan Trì thời Lê Trung hưng ở trước thềm rồng cao độ là +8.67m, dưới nền sân gạch vồ là nền đất sét vàng và lớp cát đen mỏng là nền sân của thời Lê Sơ, dao động thấp hơn nền sân thời Lê Trung hưng là 50 - 60cm (+8.00m đến +8.05m so với mực nước biển). Như vậy, có thể nói toàn bộ nền điện Kính Thiên thời Lê Sơ là lớp đất đắp tôn nền không phải đất gốc, sau đó thời Lê Trung hưng có đắp thêm ( Hình 8 ).

Picture 3 Hình 8. Hiện trạng phát lộ các dấu tích móng cột ở 4 vị trí thám sát khai quật trên nền điện Kính Thiên, năm 2023 (Nguồn: Nhóm tác giả)

- Móng cột : có 2 loại móng gia cố chân cột là móng đơn kích thước (2,3-2,4 x 2.3-2,4)m và móng kép (2,3 - 2,4 x 4,8 - 5)m, quy luật phân bố chỉ là tương đối, các gian cột hiên có 2 móng liền nhau thường được làm móng kép, móng của cột chính là móng đơn. Kỹ thuật đầm móng cột thời Lê Trung hưng có sự đồng nhất trong quá trình gia cố khi sử dụng các lớp sét nâu đầm xen kẽ lớp vật liệu gạch ngói vụn, mức độ đầm nén chặt các lớp vật liệu vỡ nhỏ tạo bột gạch. Tổng thể cả năm 2011 và năm 2012 đã làm rõ được 17 móng, gồm 7 móng kép và 10 móng đơn (năm 2011 có 3 móng kép và 2 móng đơn; năm 2023 có 8 móng đơn và 4 móng kép), có nghĩa là 24 vị trí chân cột được làm rõ.

Để xác định mặt bằng của điện Kính Thiên, chúng ta căn cứ vào vị trí của 24 vị trí chân cột đó, cụ thể như sau:

+ Xác định các khoảng vì của tòa điện (chiều Bắc - Nam)

Picture 7 Hình 9. Dấu tích móng cột thời Lê Trung hưng ở hố 11ĐKT.TS03 (năm 2011) và 23ĐKT.H3 (năm 2023)

(Nguồn: Nhóm tác giả)

Phân gian c hiều sâu của tòa điện hay còn gọi là các khoảng vì (chiều Bắc - Nam, được ký hiệu từ trục A - F) được xác định qua dấu tích móng cột ở hố H 4, H6 (năm 2023) và hố TS3 (năm 2011). Trong đó trục móng số 2 xuất lộ đăng đối gồm 2 móng kép và 2 móng đơn. Từ trục này, chúng ta có xác định được 6 vị trí chân cột theo chiều bắc – nam, tương ứng với 6 trục móng được ký hiệu trục A, B, C, D, E, F. Sáu trục móng này tạo thành 5 khoảng cách bước cột là: 3,4m - 5,35m - 6,8m - 5,35m - 3,4m ( Hình 9 ).

Như vậy, mặt bằng tổng thể có thể thấy chiều sâu tòa nhà gồm có 6 cột chia làm 5 bước cột rất cân đối; 2 đầu chân cột vì nóc rộng 6,8m, vì nách rộng 5,35m và hiên rộng 3,4m. Đáng chú ý nhất vì nóc có khoảng cách là 6.8m bằng chính chiều rộng của đường Ngự Đạo.

+ Xác định các bước gian của tòa điện (chiều Đông - Tây)

Cũng từ vị trí ở hố H 4 (năm 2023) và hố TS3 (năm 2011) có 6 móng cột đơn và 3 móng cột kép ( Hình 9, 10 ) đã xác định được 3 trục móng, ký hiệu số 1, 2 và 3. Trong đó, trục số 1 - 2 có khoảng cách gần nhau là 3.4m chính là gian khóa hồi phía tây của tòa điện, khoảng cách từ trục số 2-3 là gian liền hồi rộng 5.53m. Đối diện về phía đông cách hố H3 là 44m, hai hố H4, H5 (năm 2023) và hố thám sát TS04 (năm 2011) cũng xuất lộ 7 móng phân làm 2 trục móng, ký hiệu trục số 9 và 10, khoảng cách giữa 2 trục móng này là 3.4m tương ứng với khóa hồi phía Tây. Vì vậy, xác định được khóa hồi phía đông của điện Kính Thiên.

Picture 6 Hình 10. Giả định phân gian mặt bằng điện Kính Thiên thời Lê Trung hưng, thế kỷ XVII - XVIII

(Nguồn: Nhóm tác giả)

Như thế, dựa vào các móng cột đã phát lộ từ năm 2011 và 2023 đã xác định được 2 gian đầu hồi của điện Kính Thiên là 3,4m và 1 gian liền hồi là 5,53m. Các khoảng cách còn lại đều nằm vào đúng vị trí của tòa nhà Pháp binh nên chưa thể xác định được bằng dấu tích khảo cổ học. Tuy nhiên, có thể dựa vào dấu tích Ngự Đạo để xác định gian chính giữa của tòa điện, từ đó sẽ xác định được các gian còn lại một cách tương đối. Như đã trình bày ở phần trên, dấu tích Ngự Đạo đã xuất lộ từ Đoan Môn đến nhà Cục Tác Chiến, kéo thẳng lên phạm vi mặt bằng điện Kính Thiên hiện nay, chúng ta sẽ có được gian chính giữa rộng 6,8m, khi đó khoảng cách còn lại từ gian giữa đến gian liền hồi ở phía tây là 13,46m, khoảng cách này được chia làm 2 gian với kích thước 65,23m, thỏa mãn điều kiện các gian bên phải nhỏ hơn gian chính. Mặt khác, lấy đối xứng sang nửa phía đông các kích thước này cũng khớp với dấu tích móng cột đã xuất lộ.

Như vậy, phân gian mặt bằng điện Kính Thiên có thể được xác định một cách tương đối dựa vào các móng cột và dấu tích Ngự Đạo, cụ thể như sau: điện Kính Thiên có diện tích bề mặt khoảng 1,485m 2 (54,37 x 27,3)m theo chiều ngang theo hướng Đông - Tây gồm 10 hàng cột tạo thành 09 gian; kích thước 3,4m - 5,58m - 6,523m - 6,523m - 6,8m - 6,523m - 6,523m - 5,58m - 3,4m. Chiều sâu (Bắc - Nam) tòa điện có 06 hàng cột chia làm 05 bước cột, kích thước các bước cột là 3,4m - 5,35m - 6,8m - 5,35m - 3,4m ( Hình 10 ).

Để có thêm căn cứ so sánh, chúng tôi lập bảng phân gian chính điện của các triều đại ở Việt Nam và trường hợp có tính đồng đại với chính điện Kính Thiên là điện Lam Kinh (Thanh Hóa). Từ đó theo dõi yếu tố truyền thống trong việc xây dựng các chính điện thiết triều của các triều đại Lý, Trần, Hồ, Lê sơ, Lê Trung hưng và Nguyễn như sau:

Bảng kê phân gian chính điện các triều đại ở Việt Nam

STT

Tên gọi

chính điện

Triều đại

Số gian

Kinh đô

Diện tích (m 2 )

Ghi chú

1

Càn Nguyên

?

Thăng Long

?

Chưa xác định

2

Thiên An

9

Thăng Long

?

Chính điện Thiên An xây dựng năm 1029, được thời Trần kế thừa và tu sửa năm 1237

3

Thiên An

Trần

9

Thăng Long

?

Ghi chép đồng đại Nguyên sử (1285)

4

Hoàng Nguyên

Hồ

9

Thanh Hóa

1.200

Xác định qua khai quật khảo cổ

5

Điện Kính Thiên

Lê Trung hưng

9

Thăng Long

1.485

Xác định qua khai quật khảo cổ

6

Điện Lam Kinh

Lê sơ

Lê Trung hưng

9

Thanh Hóa

( khu lăng mộ nhà Lê)

1.530

Xác định qua khai quật khảo cổ

7

Thái Hòa

Nguyễn

9

Huế

1.360

Kiến trúc vẫn còn hiện hữu

Như vậy, kể từ khi Lý Thái Tổ dời đô từ Hoa Lư về Thăng Long, xây dựng chính điện Càn Nguyên, sau đó là điện Thiên An, trải qua thời Trần, Hồ, Lê sơ, Mạc, Lê Trung hưng và Nguyễn chính điện thiết triều của các vương triều đều có 9 gian. Hơn nữa, tư liệu đồng đại với chính điện Kính Thiên là chính điện Lam Kinh (điện Quang Đức, Diễn Khánh) cũng có 9 gian. Từ những phân tích kể trên, có thể thấy chính điện thiết triều của các vương triều ở Việt Nam đều có 9 gian duy trì như một đặc trưng truyền thống. Vì vậy, chúng tôi cho rằng khả năng cao chính điện Kính Thiên thời Lê cũng có 9 gian tiếp nối truyền thống của chính điện Thiên An thời Lý - Trần và chính điện nhà Hồ (điện Hoàng Nguyên?) trước đó.

4. Tạm kết

Chính điện Kính Thiên là kiến trúc trung tâm của Cấm thành Thăng Long, nơi đặt ngự tọa của Hoàng đế, biểu trưng cao nhất của quyền lực quốc gia Đại Việt thời Lê. Nghiên cứu tổng thể chính điện Kính Thiên và không gian chính điện Kính Thiên hướng tới việc tái hiện không gian điện Kính Thiên là công việc hết sức cấp thiết có ý nghĩa khoa học và giá trị lịch sử văn hóa sâu sắc không chỉ đối với Thăng Long - Hà Nội, Việt Nam mà còn với tầm vóc thế giới.

Các cuộc khai quật từ 2011 - 2022 tại khu vực điện Kính Thiên theo khuyến nghị UNESCO đã xác định rõ ràng và cụ thể hơn về quy mô của khu Đại triều; ngoài cùng là bức tường rất kiên cố rộng 1,7m, bên trong bức tường là hệ thống hành lang, cổng kết nối khu vực đông, tây, trong hành lang là sân Đan Trì rộng gần 12.000m 2 , giữa Đan Trì là đường Ngự Đạo từ cổng Đoan Môn dẫn đến thềm bậc điện Kính Thiên dài 136.7m, rộng 6.9m. Chính điện Kính Thiên nằm ở chính giữa cực bắc của sân Đan Trì, trên nền đất cao 2,7m so với mặt sân Đan Trì.

Năm 2023, cuộc khai quật trên nền điện tại vị trí xung quanh nhà Pháo binh đã phát lộ một phần dấu tích điện Kính Thiên thời Lê. Từ dấu tích này cùng với 5 móng cột đã phát lộ trong cuộc khai quật năm 2011, đã cho chúng ta nhận thức bước đầu về mặt bằng điện Kính Thiên thời Lê Trung hưng, thế kỷ XVII - XVIII; điện có 9 gian (theo chiều Đông - Tây), chiều sâu 5 khoảng cách bước cột với tổng diện tích 1.485m 2 . Những phát hiện trên có ý nghĩa rất quan trọng, gây ngạc nhiên lớn với các nhà quản lí, chuyên gia trong nước và quốc tế vì dưới nền điện Kính Thiên vẫn còn bảo lưu rất tốt các dấu tích kiến trúc của nhiều thời kỳ lịch sử. Trong đó dấu tích điện Kính Thiên thời Lê Trung hưng lần đầu tiên dự đoán được bước đầu về quy mô và kết cấu . Đây là cơ sở khoa học trong việc nghiên cứu chính điện Kính Thiên, cũng như thúc đẩy việc tìm kiếm giải pháp tích cực có thể làm phát lộ toàn bộ dấu tích điện Kính Thiên dưới nền nhà Pháo Binh hiện nay . Đây cũng là tư liệu quan trọng có tính xác thực cao để Trung tâm Bảo tồn Di sản Thăng Long - Hà Nội diễn giải di sản cũng như thuyết phục UNESCO về các kế hoạch nghiên cứu tổng thể và tái hiện về Chính điện Kính Thiên và không gian Chính điện Kính Thiên thời Lê trong tương lai.

Tuy nhiên, vẫn có giả thiết là nền điện Kính Thiên có thể hình chữ Công ( ), hoặc cần nghiên cứu làm rõ nền điện Kính Thiên thời Lê Sơ có kết cấu như thế nào?. Do đó, cần có thời gian và mặt bằng để tiếp tục nghiên cứu như Thông cáo Hà Nội năm 2022 đã khuyến nghị.

Chú thích:

1. Trong bài viết “Điện Kính Thiên dưới triều Hậu Lê” (Tạp chí Xưa và Nay , số 359, tr.26 -33). Đỗ Thùy Lan đã đưa ra quan điểm; từ 1428 - 1465 các vua đầu triều Lê Sơ (Lê Thái Tổ, Lê Thái Tông, Lê Nhân Tông, Lê Nghi Dân và 5 năm đầu của Lê Thánh Tông) đã không thiết triều ở điện Kính Thiên mà thay vào đó là điện Hội Anh. Vì thế, Đỗ Thùy Lan cho rằng vị thế của điện Kính Thiên bị suy yếu. Tuy nhiên, rất có thể điện Hội Anh là tên gọi đã được đổi từ điện Kính Thiên, mặt khác tên Hội Anh chỉ xuất hiện trong sử liệu dưới thời vua Lê Thái Tông (từ 1434 - 1442). Xét trên phương diện này, thì điện Hội Anh cũng chính là điện Kính Thiên nên không thể suy luận vai trò của điện Kính Thiên bị suy giảm.

2. Phạm Lê Huy đã chỉ ra: Ngày 16 tháng 3 năm 1443, vua Lê Nhân Tông ban chữ húy ngự danh; tên vua là “Cơ” và tên húy của hoàng thái hậu là “Anh”. Theo quy tắc chữ húy ngự danh thì điện Hội Anh phải được đổi tên. Tuy nhiên, chính sử không chép về việc đổi tên điện Hội Anh, chỉ có “Văn bia đề danh tiến sĩ khoa Mậu Thìn niên hiệu Thái Hòa năm thứ 6 (1448)” dựng vào năm 1484 ở Văn Miếu cho biết điện Hội Anh được đổi tên thành điện Tập Hiền.

3. Bia Văn Miếu “Văn bia đề danh tiến sĩ khoa Quý Mùi niên hiệu Quang Thuận năm thứ 4 (1463)” cho biết ngày 22 tháng 2 năm 1463, Vua ngự điện Kính Thiên, cho gọi loa xướng tên người thi đỗ.

4. QUỐC SỬ QUÁN TRIỀU NGUYỄN 2002. Đại Nam thực lục. Nxb. Giáo dục, tập 1: 595. Sự kiện này sách Khâm định Đại Nam hội điển sử lệ cho biết rõ hơn: “cho Bắc thành dựng làm một tòa hành cung 5 gian 2 chái ở sau điện Kính Thiên đề phòng khi vua đi tuần chơi trú chân”.

5. Bắc thành địa dư chí lục của Lê Chất (1818-1821) viết “ Núi Nùng ở giữa thành, tương truyền trong núi có một cái hố thông hơi gọi là Rốn Rồng, nhà Lý đóng đô, xây chính điện ở đó. Đời Lê xây điện Kính Thiên, nay dựng làm hoàng cung tiền điện” .

6. Hoàng Việt địa dư chí 1833 viết “Núi Nùng ở chính giữa thành, triều Lý định đô lấy núi này làm chính điện, đến triều Lê gọi là điện Kính Thiên, nay dựng hoàng cung ở trước điện, xưa truyền giữa núi có một cái lỗ, là mạch thông khí của núi cho nên gọi là Long Đỗ”.

7. Hà Nội địa dư năm Tự Đức của Dương Bá Cung (1852) viết “Thời Lê Sơ vẫn giữ theo như thế, ở giữa dựng điện Kính Thiên, lấy làm nơi thị triều, tương truyền đó là Núi Nùng, Giữa mái có một hố sâu, là nơi thông khí núi sông, gọi là Rốn Rồng. Tẩm điện của triều Lý chính đặt tại nơi này”.

8. Đại Nam nhất thống chí (1864-1875) viết “Núi Nùng ở trong tỉnh thành, có tên nữa là Long Đỗ, Lý Thái Tổ đóng kinh đô, dựng chính điện ở trên núi. Đời Lê gọi là điện Kính Thiên, bản triều đặt làm hành cung, vẫn gọi theo tên cũ, năm thứ 3 Thiệu Trị gọi là điện Long Thiên”.

9. “Nền điện Kính Thiên ở chỗ đất bằng có gò đất nổi lên cao bằng vuông vắn, sách địa lý nói rằng Núi Nùng ở chính giữa tức là nơi này”.

10. Hà Nội sơn xuyên phong vực (soạn cuối năm 1887 - đầu năm 1888) viết “Núi ở chính giữa Thành nội, xưa tương truyền rằng trong núi có hang, đó là nơi thông khí nên gọi là Rốn Rồng, triều Lý dựng đô, xây Chính điện ở núi này, nhà Lê làm điện Kính Thiên, nay làm điện Long Thiên”.

11. Đánh giá của PGS.TS Tống Trung Tín về Bảo vật quốc gia Thành bậc rồng thềm điện Kính Thiên đăng trên https://thanhnien.vn ngày 19/02/2021, tác giả Trinh Nguyễn.

12. Tính đến thời điểm năm 2011, khu vực điện Kính Thiên trên trục Trung tâm thành cổ đã có 2 đợt khai quật vào năm 1999 với diện tích 339m 2 (2 hố Đoan Môn là 133m 2 và 1 hố Hậu Lâu diện tích 206m 2 ) và năm 2008 là 50m 2 . Tổng diện tích 389m2/47.623m 2 chiếm 0.0081% tổng diện tích từ Đoan Môn đến Hậu Lâu.

TÀI LIỆU DẪN

NGUYỄN THÚY NGA VÀ NGUYỄ N VĂN NGUYÊN 2007. Địa chí Thăng Long Hà Nội trong thư tịch Hán Nôm . Nxb . Thế giớ i.

NGUYỄN VĂN SIÊU 2001. Phương Đình dư địa chí. Nxb. Văn hóa Thông tin.

ĐẠI VIỆT SỬ KÝ TOÀN THƯ 1998. Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội.

VIỆN SỬ HỌC 2007. Lê Quý Đôn Đại Việt Thông sử . Nxb. Văn hóa thông tin.

NGÔ CAO LÃNG 1875. Lịch triều tạp kỷ , tập 2. Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội.

NGUYỄN VĂN MẠNH, HÀ VĂN CẨN, NGUYỄN HUY HẠNH, NGUYỄN KỲ NAM, PHỪNG VĂN QUỲNH, NGUYỄN VĂN CHUYÊN 2012. Kết quả thám sát và khai quật thăm dò khu vực điện Kính Thiên năm 2011, Trong Khảo cổ học , số 4: 34 - 47.

NỘI CÁC TRIỀU NGUYỄN 1993. Khâm định Đại Nam hội điển sử lệ , tập 13. Nxb. Thuân Hóa Huế.

PHẠM ĐÌNH HỔ, NGUYỄN ÁN 1961. Tang thương ngẫu lục. Cơ sở xuất bản Đại Nam .

QUỐC SỬ QUÁN TRIỀU NGUYỄN 2006. Đại Nam nhất thống chí , tập 3. Nxb . Thuận Hóa.

FOUNDATION AND PLAN STRUCTURE OF LÊ TRUNG HƯNG -PERIOD KÍNH THIÊN PALACE IN THE CENTRAL AREA OF THĂNG LONG - HÀ NỘI IMPERIAL CITADEL FROM ARCHAEOLOGICAL DISCOVERIES

TỐNG TRUNG TÍN, NGUYỄN THANH QUANG AND ĐỖ ĐỨC TUỆ

This article is based on historical data and archaeological discoveries from 2011 to 2023 in the central area of Thăng Long Imperial Citadel, from which we initially identify the foundation and plan structure of the Kính Thiên main palace from the Lê period.

According to the bibliographic d ata , from its construction in 1428 until its destruction in 1816, the Kính Thiên main palace existed in the early Lê, Mạc, Lê Trung hưng periods and the dynast y of the K ing Nguyễn Gia Long. It was newly built, re constructed and renamed several times . Since its construction, the Kính Thiên main palace and its area were always the most important political and ceremonial space of the Thăng Long Imperial C itadel in all 4 centuries ( the fifteenth - eighteenth centuries ).

The archaeological results from 2011 to 2023 demonstrate that the area of the Kính Thiên main palace includes a very solid outer wall that is 1.7m wide, inside which there is a system of corridors, the gate of Đan Trì yard, Ngự Đạo (King’s) road. The Kính Thiên main palace from the Lê Trung hưng period, the seventeenth - eighteenth centuries, consists of 9 compartments with a total area of 1,485m 2 .

This serves as a scientific basis for the research on the Kính Thiên main palace , and promotes the search for positive solutions for finding the whole remain of the Kính Thiên Main Palace; At the same time, it is an important step that contributes to the overall identification of the heritage site with the the Kính Thiên Main Palace as a core.

Nguồn bài viết: Trang Thông tin điện tử Viện Khảo cổ học
Tin xem nhiều
Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tất cả: 1