Tư tưởng “khai dân trí” của Phan Châu Trinh và giá trị của tư tưởng này đối với giáo dục Việt Nam hiện nay
Phan Châu Trinh (1872 - 1926) là một trong những nhà tư tưởng cải cách tiêu biểu của Việt Nam đầu thế kỷ XX. Ông tên chữ là Tử Cán, hiệu Tây Hồ, biệt hiệu Hy Mã, sinh năm 1872 (Nhâm Thân, Tự Đức năm thứ 25) ở làng Tây Lộc, huyện Hà Đông, tỉnh Quảng Nam.
Đầu thế kỷ XX, xã hội Việt Nam lâm vào khủng hoảng toàn diện: chính trị mất chủ quyền, kinh tế lạc hậu, văn hóa - giáo dục trì trệ. Nền học vấn Nho học truyền thống suy thoái nhưng vẫn trói buộc tư duy xã hội trong khuôn mẫu tôn quân, trọng khoa cử, coi nhẹ khoa học - kỹ thuật, đại bộ phận nhân dân thiếu tri thức xã hội. Trong bối cảnh đó, Phan Châu Trinh không tiếp cận vấn đề dân tộc theo con đường bạo động hay cầu viện ngoại bang, mà đi từ gốc rễ xã hội: con người Việt Nam chưa có dân trí thì mọi cuộc cách mạng chính trị đều khó bền vững. Từ nhận thức ấy, ông đề xuất tư tưởng trung tâm: “Khai dân trí” - coi đây là điều kiện tiên quyết để cải biến xã hội. Bài viết nhằm tìm hiểu, phân tích tư tưởng “Khai dân trí” của Phan Châu Trinh trong giáo dục, tác động của tư tưởng này đối với xã hội Việt Nam đầu thế kỷ XX, giá trị và ý nghĩa của tư tưởng “Khai dân trí” đối với giáo dục Việt Nam hiện nay, đặc biệt trong lĩnh vực giáo dục đại học nhằm thúc đẩy tư duy sáng tạo và năng lực phản biện.
1. Bối cảnh hình thành tư tưởng “Khai dân trí”
Tư tưởng cải cách của Phan Châu Trinh được hình thành trong bối cảnh lịch sử có nhiều biến chuyển. Phong trào công nhân phát triển tại các nước tư bản chủ nghĩa khi chủ nghĩa tư bản chuyển dần sang chủ nghĩa đế quốc. Đỉnh cao là cuộc cách mạng dân chủ tư sản kiểu mới ở Nga năm 1905 đã làm rung chuyển nước Nga và thổi bùng lên ngọn lửa đấu trang cách mạng mang mầu sắc dân chủ tư sản ở các nước phương Đông, điển hình là cuộc vận động Duy Tân ở Trung Quốc [1], công cuộc Duy tân ở Nhật Bản và chiến thắng của Nhật đối với nước Nga Sa Hoàng [2].
Trong khi phong trào Duy tân đang rầm rộ ở Trung Quốc và Nhật Bản, nhờ duy tân mà trở lên hùng mạnh thì ở Việt Nam cũng là lúc phong trào vũ trang chống Pháp do các sĩ phu yêu nước lãnh đạo lần lượt bị đàn áp. Thực dân Pháp cơ bản đã bình định xong toàn cõi Việt Nam, bắt đầu xây dựng bộ máy chính quyền, tiến hành cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất. Chính lúc đó, những luồng gió mới mang tư tưởng duy tân ở Trung Quốc, Nhật Bản tràn vào Việt Nam qua các cuốn sách mang nội dung mới, kiến thức mới, tư tưởng mới của nền văn minh phương Tây được các nhà canh tân Trung Quốc và Nhật Bản soạn thảo để tuyên truyền trong phong trào cải cách gọi là “tân thư” [3] để phân biệt với những sách cũ Nho giáo. Cùng với tân thư là tân văn - là những tài liệu phiên dịch, lược dịch Hán văn từ các công trình mang nội dung tư tưởng dân chủ tư sản của các nhà tư tưởng phương Tây cùng các tài liệu về phong trào Duy tân ở Nhật, về cuộc chính biến ở Trung Quốc cũng như những sách báo được lưu truyền từ trong cuộc cải cách đó. Các sách báo mới này mang tinh thần dân chủ tư sản tiến bộ, nội dung rất phong phú, chứa đựng nhiều kiến thức mới so với nền Nho học [4].
Những Tân văn, Tân thư [5] trên đã du nhập vào Việt Nam một cách thuận lợi [6] chủ yếu theo đường biển qua các cảng như Hải Phòng, Đà Nẵng… đã ảnh hưởng mạnh mẽ đến thái độ, tư tưởng của sĩ phu Việt Nam vào đầu thế kỷ XX [7] trong đó có Phan Châu Trinh, ông đã có sự thay đổi lớn trong nhận thức, tư tưởng. Huỳnh Thúc Kháng trong Phan Tây Hồ Tiên sinh lịch sử đã cho biết rằng “sách mới, báo mới xuất hiện đã tràn qua nước ta, mà ảnh hưởng nhất là sách của Khang Hữu Vi cùng Lương Khải Siêu vì sách ấy nói dân quyền, tự do, phát minh được chân tướng văn minh Âu Tây nhiều. Tiên sinh (Phan Châu Trinh) thường qua lại với ông Thân Trọng Huề, Đào Nguyên Phổ mượn sách ấy xem, trong lòng ham thích quên ăn quên ngủ, từ đó trong tư tưởng đổi hẳn ra một cách mới mẻ” [8]. Ông cho rằng nếu dùng vũ lực chỉ mang lại thất bại, làm hao tổn xương máu của dân ta, còn cầu viện nước ngoài là sai lầm, phương châm của ông là “bất bạo động, bạo động tắc tử (không bạo động, bạo động là chết), bất vọng ngoại, vọng ngoại giả ngu (Không nhờ người, nhờ người là ngu)”. Ông chủ trương đưa cuộc đấu tranh dân chủ đi trước một bước tức là chống chế độ phong kiến quân chủ, đề xướng tư tưởng dân chủ tư sản, thực hiện cải cách văn hoá xã hội, phát triển kinh tế, thực hiện dân quyền.
Để cứu nước, theo Phan Châu Trinh, phương châm cần thực hiện trước mắt là ba mục tiêu “đổi mới” đó là “Chấn dân khí, Khai dân trí, Hậu dân sinh”, tức là:
- Chấn dân khí: Trước hết phải thức tỉnh lòng yêu nước và nhuệ khí đấu tranh trong đồng bào đang bị vùi dập đến cùng cực dưới chế độ thực dân phong kiến. Trước tiên phải thức tỉnh và bồi dưỡng chí khí trong trí thức nhân sĩ bị mộng khoa cử và bả vinh hoa làm cho mê muội để họ đứng ra tổ chức và lãnh đạo.
- Khai dân trí: Mở mang trí tuệ cho dân, bồi dưỡng nhân tài cho đất nước bằng cách tổ chức các trường học dạy theo lối mới, chú trọng kiến thức khoa học kỹ thuật, vận động bỏ lối học nhồi sọ chỉ nhằm khoa cử, bài trừ hủ tục, chống mê tín, dị đoan, xây dựng nền học vấn và văn hóa tiến bộ, xây dựng con người toàn diện thích ứng với cuộc sống văn minh.
- Hậu dân sinh: Làm cho đời sống của dân ngày càng được no đủ và phát triển kinh tế đất nước bằng những biện pháp và tổ chức phát triển kinh tế theo hướng tự lực tự cường như vận động dùng hàng nội hoá, phục hồi và phát triển các ngành nghề trong nước, chung vốn khẩn hoang lập vườn, làm xưởng sản xuất, lập hội buôn… [9].
Theo Phan Châu Trinh, phải làm sao cho đất nước mạnh lên mới đủ sức đánh Pháp bằng cách cải cách, khôi phục quốc gia, độc lập dân tộc, chủ trương vận động duy tân. Theo cụ, không có cách nào khác hơn là “ỷ Pháp cầu tiến bộ”, dựa vào Pháp để canh tân đất nước, làm cho đất nước mạnh lên để đủ sức đánh lại Pháp.
Có thể nói, quá trình mở rộng giao lưu với thế giới bên ngoài, đặc biệt là sự du nhập của tư tưởng dân chủ, tự do và khoa học phương Tây thông qua sách báo, dịch thuật và các phong trào cải cách ở Đông Á, đã tác động mạnh mẽ đến tư duy của Phan Châu Trinh. Khác với nhiều sĩ phu đương thời tiếp cận văn minh phương Tây chủ yếu ở khía cạnh kỹ thuật quân sự, Phan Châu Trinh quan tâm sâu sắc đến các giá trị nền tảng của xã hội hiện đại như pháp quyền, quyền công dân, bình đẳng. Từ sự tiếp xúc này, ông dần hình thành quan niệm rằng sự lạc hậu của Việt Nam không thể được khắc phục chỉ bằng việc thay đổi hình thức cai trị, mà đòi hỏi một quá trình cải biến căn bản về tư duy, văn hóa và con người. Điều này giải thích vì sao Phan Châu Trinh đặc biệt nhấn mạnh vai trò của giáo dục phổ thông, báo chí và diễn thuyết công cộng như những công cụ để truyền bá tư tưởng mới và nâng cao trình độ nhận thức xã hội.
2. Nội dung cốt lõi trong tư tưởng “Khai dân trí” của Phan Châu Trinh
* “Khai dân trí” như nền tảng cải biến xã hội Việt Nam đầu thế kỷ XX
Trong tư tưởng cải cách của Phan Châu Trinh, “khai dân trí” được xác lập như điểm khởi đầu mang tính quyết định cho mọi nỗ lực canh tân xã hội Việt Nam vào đầu thế kỷ XX. Khác với nhiều khuynh hướng cứu nước đương thời đặt trọng tâm vào bạo lực cách mạng hoặc ngoại viện, Phan Châu Trinh tiếp cận vấn đề từ chiều sâu xã hội, cho rằng căn nguyên của tình trạng mất nước và tụt hậu nằm ở sự trì trệ về nhận thức của đại bộ phận dân chúng. Theo ông, một xã hội mà người dân không có tri thức thì không thể hình thành nội lực để tự cải tạo và phát triển.
Phan Châu Trinh nhìn nhận dân trí thấp không chỉ là hệ quả của ách thống trị thực dân, mà còn là sản phẩm của cấu trúc xã hội phong kiến kéo dài, trong đó tri thức bị độc quyền bởi tầng lớp quan lại và sĩ phu Nho học. Ông chỉ ra rằng chế độ giáo dục cũ đã tạo nên một khoảng cách lớn giữa nhà nước và nhân dân, khiến người dân quen với tâm lý phục tùng, phó mặc vận mệnh cá nhân và quốc gia cho giới cầm quyền. Trong bối cảnh đó, việc nâng cao dân trí không đơn thuần là mở mang kiến thức, mà là phá vỡ cơ chế xã hội tái sản sinh sự lệ thuộc và thụ động [10].
Từ góc nhìn ấy, Phan Châu Trinh coi “khai dân trí” là điều kiện tiên quyết để hình thành ý thức xã hội mới, trong đó con người biết tự đặt mình vào vị trí chủ thể của đời sống xã hội. Ông cho rằng khi người dân được học hành đúng nghĩa, họ sẽ nhận thức được quyền lợi chính đáng của mình, hiểu được mối quan hệ giữa cá nhân và quốc gia, từ đó không còn cam chịu trước bất công. Chính sự chuyển biến trong nhận thức ấy mới là nền tảng bền vững cho mọi cải cách về chính trị, kinh tế và văn hóa, thay vì những thay đổi áp đặt từ bên trên.
Đặc biệt, Phan Châu Trinh nhấn mạnh rằng việc cải biến xã hội Việt Nam không thể trông chờ vào một tầng lớp tinh hoa nhỏ hẹp, mà phải bắt đầu từ mặt bằng dân trí của toàn xã hội. Theo ông, nếu quần chúng nhân dân vẫn mù mờ về tri thức và quyền lợi, thì dù có thay đổi thể chế hay nhân sự cầm quyền, xã hội vẫn dễ dàng rơi vào vòng xoáy chuyên chế mới. Do đó, “khai dân trí” vừa mang ý nghĩa giáo dục, vừa là một chiến lược xã hội lâu dài nhằm tạo dựng nền tảng cho sự tự chủ.
Như vậy, trong tư tưởng Phan Châu Trinh, “khai dân trí” không phải là mục tiêu phụ trợ, mà là trục trung tâm của toàn bộ chương trình cải cách xã hội. Từ việc nâng cao nhận thức cá nhân đến việc tái cấu trúc quan hệ xã hội, dân trí được xem là yếu tố quyết định khả năng tự cường và tiến hóa của dân tộc Việt Nam trong bối cảnh lịch sử đầy biến động đầu thế kỷ XX.
Khác với cách tiếp cận cải cách mang tính kỹ thuật hay chính trị thuần túy, Phan Châu Trinh tiếp cận vấn đề từ chiều sâu văn hóa, con người, coi sự lạc hậu về nhận thức và tư duy là căn nguyên trực tiếp dẫn tới sự suy yếu của quốc gia. Từ lập trường đó, ông xác lập quan niệm: chỉ thông qua giáo dục mới có thể tạo ra sự chuyển biến căn bản và lâu dài trong đời sống xã hội Việt Nam đầu thế kỷ XX [11].
* Phê phán nền giáo dục Nho học và yêu cầu giải phóng tư duy con người
Một nội dung quan trọng trong tư tưởng “khai dân trí” của Phan Châu Trinh là sự phê phán triệt để nền giáo dục Nho học truyền thống. Ông cho rằng lối học cử nghiệp kéo dài hàng thế kỷ đã làm thui chột tư duy sáng tạo, biến việc học thành công cụ tuyển lựa quan lại phục vụ chế độ quân chủ, thay vì phục vụ sự phát triển của con người và xã hội. Theo Phan Châu Trinh, học trò chỉ biết “tầm chương trích cú”, xa rời thực tế đời sống, không có hiểu biết về khoa học, kinh tế hay tổ chức xã hội hiện đại. Theo ông, nền giáo dục khoa cử truyền thống “cái học khoa cử làm hại nước ta đã lâu, ngày nay đã thành đồ bỏ, mà sĩ phu nước ta còn chui đầu vào trong như kiến, giấc mộng say mê này, không cho một gậy ngang đầu không thể nào thức dậy được” [12]. Mô hình giáo dục này không còn khả năng đào tạo đội ngũ trí thức có năng lực giải quyết các vấn đề mới nảy sinh trong bối cảnh tiếp xúc và va chạm với văn minh phương Tây, ông lên án “Bởi từ ba bốn trăm năm trước trở về đây, bọn học trò trong nước mắc ham quyền tước, ham bả vinh hoa của các triều vưa mà sinh ra giả dối nịnh hót, chỉ biết có vua mà chẳng biết có dân. Bọn ấy muốn giữ túi tham mình được đầy mãi, địa vị mình được vững mãi, bèn kiếm cách thiết pháp luật, phá tan tành đoàn thể của quốc dân” [13].
Phan Châu Trinh phê phán nền giáo dục khoa cử phong kiến không chỉ vì nội dung lạc hậu, mà sâu xa hơn vì tính chất phản tiến bộ và phản cải cách của nó. Theo ông, mô hình giáo dục này được thiết kế nhằm duy trì trật tự quân chủ chuyên chế, đào tạo ra những con người phục tùng quyền lực hơn là những cá nhân có năng lực tư duy độc lập. Việc học tập bị thu hẹp trong khuôn khổ kinh điển Nho giáo, đề cao lối học thuộc lòng, chương cú, coi nhẹ tri thức thực nghiệm và các vấn đề của đời sống xã hội đương thời [14].
Phan Châu Trinh cho rằng nền giáo dục ấy không những không giúp con người hiểu rõ thế giới xung quanh mà còn làm tê liệt khả năng phán đoán và sáng tạo. Hệ quả là xã hội hình thành một tầng lớp trí thức xa rời thực tiễn, thiếu tinh thần phản biện và không đủ năng lực dẫn dắt quá trình đổi mới. Chính từ nhận thức này, ông khẳng định rằng việc duy trì nền giáo dục cũ đồng nghĩa với việc duy trì tình trạng trì trệ của xã hội Việt Nam [15].
* Chủ trương xây dựng nền giáo dục mới theo hướng “thực học, thực nghiệp”
Xuất phát từ sự phê phán căn bản đối với nền giáo dục Nho học truyền thống, Phan Châu Trinh đề xuất xây dựng một mô hình giáo dục mới dựa trên nguyên tắc “thực học, thực nghiệp”, coi đây là con đường chủ yếu để nâng cao dân trí và tạo dựng nền tảng phát triển xã hội hiện đại. Theo ông, một nền giáo dục chỉ chú trọng đến văn chương kinh viện, thi cử hình thức sẽ không thể đáp ứng yêu cầu cải biến xã hội trong bối cảnh giao lưu Đông - Tây ngày càng sâu rộng vào đầu thế kỷ XX.
Nội hàm của “thực học” trong tư tưởng Phan Châu Trinh trước hết là học những tri thức gắn với đời sống thực tiễn, giúp con người hiểu thế giới xung quanh và vị trí của mình trong xã hội. Ông chủ trương đưa các môn khoa học tự nhiên, lịch sử, địa lý, kinh tế và luật pháp vào chương trình giáo dục, thay cho việc độc tôn kinh điển Nho giáo. Những tri thức này, theo Phan Châu Trinh, không chỉ mở rộng tầm nhìn của người học mà còn giúp họ tiếp cận các quy luật vận động của xã hội và tự nhiên, từ đó hình thành tư duy lý tính và tinh thần khoa học. Giáo dục vì thế phải trở thành công cụ giúp con người “biết việc đời”, chứ không chỉ “biết chữ thánh hiền”.
Song song với “thực học”, Phan Châu Trinh đặc biệt nhấn mạnh đến “thực nghiệp” - tức giáo dục phải gắn liền với lao động sản xuất và hoạt động nghề nghiệp. Ông cho rằng một xã hội tiến bộ không thể dựa vào một tầng lớp nhỏ sống bằng đặc quyền, mà phải được xây dựng trên nền tảng những con người biết lao động và có kỹ năng nghề nghiệp. Việc phát triển giáo dục nghề nghiệp, đào tạo thợ thủ công, kỹ thuật viên và những người làm việc trong lĩnh vực sản xuất, dịch vụ được ông xem là yếu tố then chốt để nâng cao năng lực kinh tế của xã hội. Ở đây, giáo dục không còn tách rời đời sống kinh tế, mà trở thành động lực trực tiếp thúc đẩy sự phát triển vật chất của quốc gia.
Một điểm đáng chú ý trong chủ trương “thực học, thực nghiệp” của Phan Châu Trinh là tính phổ cập và đại chúng. Ông không xem giáo dục là đặc quyền của giới sĩ phu hay tầng lớp trên, mà nhấn mạnh rằng mọi tầng lớp trong xã hội đều cần được học hành ở mức độ phù hợp. Theo ông, nếu giáo dục chỉ giới hạn trong phạm vi trường lớp dành cho thi cử, thì dân trí nói chung vẫn không được cải thiện. Do đó, việc mở rộng giáo dục phổ thông, khuyến khích học tập trong cộng đồng và tạo điều kiện để người lao động tiếp cận tri thức thực dụng là yêu cầu tất yếu của quá trình khai dân trí.
Từ góc độ xã hội, chủ trương “thực học, thực nghiệp” còn nhằm thay đổi quan niệm truyền thống về giá trị con người. Phan Châu Trinh phê phán sâu sắc tâm lý coi trọng con đường làm quan, xem nhẹ lao động sản xuất vốn ăn sâu trong xã hội phong kiến. Ông cho rằng chỉ khi nào xã hội biết trân trọng tri thức khoa học, kỹ năng nghề nghiệp và lao động chân chính, thì khi đó dân trí mới thực sự được nâng cao và xã hội mới có thể vận hành theo những chuẩn mực tiến bộ. Như vậy, cải cách giáo dục theo hướng “thực học, thực nghiệp” không chỉ là cải cách nội dung học tập, mà còn là cải cách hệ giá trị xã hội.
Tóm lại, trong tư tưởng Phan Châu Trinh, “thực học, thực nghiệp” là trụ cột quan trọng của chiến lược khai dân trí. Thông qua việc gắn giáo dục với tri thức khoa học, kỹ năng nghề nghiệp và nhu cầu thực tiễn của xã hội, ông hướng tới xây dựng một nền giáo dục có khả năng đào tạo những con người tự chủ, biết lao động, biết suy nghĩ và đủ năng lực tham gia vào tiến trình hiện đại hóa đất nước.
Mở mang tri thức khoa học - kỹ thuật như điều kiện của tiến bộ xã hội: Một nội dung quan trọng trong quan niệm giáo dục của Phan Châu Trinh là yêu cầu đưa tri thức khoa học - kỹ thuật vào đời sống học tập và xã hội. Ông cho rằng sự tụt hậu của Việt Nam không thể tách rời việc thiếu hiểu biết về khoa học, công nghệ và phương thức tổ chức xã hội hiện đại. Do đó, giáo dục phải gắn liền với việc truyền bá những tri thức thực dụng, có khả năng cải thiện năng lực sản xuất, quản lý và đời sống kinh tế - xã hội [16]. Quan điểm này cho thấy Phan Châu Trinh không tiếp cận giáo dục như một lĩnh vực biệt lập, mà xem nó là động lực trực tiếp của phát triển xã hội. Giáo dục, theo ông, phải phục vụ đời sống, góp phần nâng cao năng lực tự cường của cộng đồng, chứ không chỉ đào tạo một thiểu số trí thức khoa bảng.
Từ những luận điểm trên, Phan Châu Trinh đi đến khẳng định rằng giáo dục là nền tảng lâu dài và bền vững nhất của cải cách xã hội. Khác với các giải pháp mang tính tức thời, giáo dục tạo ra sự chuyển biến từ gốc rễ, thông qua việc cải biến con người và hệ giá trị xã hội. Ông tin rằng khi dân trí được nâng cao, xã hội sẽ tự hình thành nhu cầu cải cách và khả năng tự điều chỉnh theo hướng tiến bộ [17]. Chính quan niệm này đã làm nên giá trị đặc sắc trong tư tưởng cải cách của Phan Châu Trinh, đồng thời tạo nền tảng lý luận cho việc tiếp cận giáo dục như một công cụ khai phóng trong triết lý giáo dục Việt Nam hiện đại.
3. Tác động của tư tưởng “Khai dân trí” đối với xã hội Việt Nam đầu thế kỷ XX
Tư tưởng “khai dân trí” của Phan Châu Trinh đã tạo ra một chuyển động tư tưởng quan trọng trong xã hội Việt Nam đầu thế kỷ XX, đặc biệt trong lĩnh vực giáo dục và văn hóa. Trước hết, tư tưởng này góp phần phủ định mô hình giáo dục Nho học khoa cử truyền thống, vốn tồn tại hàng trăm năm nhưng không còn đáp ứng được yêu cầu phát triển của xã hội thuộc địa nửa phong kiến. Phan Châu Trinh cho rằng nền học vấn cũ chỉ đào tạo những người “biết văn chương mà không biết việc đời”, làm suy yếu năng lực thực hành và ý thức xã hội của người học [18].
Trên cơ sở đó, tư tưởng “khai dân trí” đã trở thành định hướng lý luận cho các phong trào cải cách giáo dục đầu thế kỷ XX, tiêu biểu là phong trào Duy tân ở Trung Kỳ. Các sĩ phu Duy tân tiếp thu tư tưởng của Phan Châu Trinh, chủ trương mở trường dạy học theo lối mới, đưa chữ Quốc ngữ và kiến thức khoa học - xã hội vào giảng dạy, nhằm nâng cao trình độ dân trí và cải biến nhận thức xã hội. Giáo dục trong phong trào này không còn nhằm đào tạo người đi thi làm quan, mà hướng tới việc hình thành những cá nhân có hiểu biết xã hội và năng lực lao động thực tiễn.
Đặc biệt, sự ra đời của Đông Kinh Nghĩa Thục năm 1907 là minh chứng rõ nét cho ảnh hưởng của tư tưởng “khai dân trí”. Trường không chỉ dạy chữ mà còn truyền bá các tri thức mới về lịch sử, địa lý, khoa học thường thức và tư tưởng dân quyền. Thông qua hoạt động giáo dục và xuất bản sách báo, Đông Kinh Nghĩa Thục đã góp phần phổ biến tư duy khai sáng, làm thay đổi quan niệm truyền thống về mục đích của việc học trong xã hội Việt Nam đương thời [19].
Bên cạnh giáo dục nhà trường, tư tưởng “khai dân trí” còn thúc đẩy sự phát triển của báo chí và việc sử dụng chữ Quốc ngữ trong hoạt động báo chí, văn hóa. Việc sử dụng chữ Quốc ngữ giúp tri thức mới được truyền bá rộng rãi tới các tầng lớp nhân dân, phá vỡ thế độc quyền tri thức của tầng lớp sĩ phu Nho học. Báo chí viết bằng chữ Quốc ngữ trở thành phương tiện quan trọng để truyền đạt tư tưởng cải cách, nâng cao nhận thức xã hội và khuyến khích tinh thần tự cường của người dân. Nhờ đó, một tầng lớp trí thức mới từng bước hình thành - những người không chỉ có học vấn mà còn có ý thức cải cách xã hội và tinh thần trách nhiệm đối với quốc gia.
Không dừng lại ở lĩnh vực giáo dục, tư tưởng “khai dân trí” của Phan Châu Trinh còn tạo ra chuyển biến quan trọng trong tư duy xã hội Việt Nam đầu thế kỷ XX. Trước hết, tư tưởng này góp phần làm lung lay quan niệm trung quân tuyệt đối vốn ăn sâu trong xã hội phong kiến. Thông qua việc đề cao vai trò của nhân dân và năng lực tự nhận thức của mỗi cá nhân, Phan Châu Trinh từng bước chuyển trọng tâm tư duy xã hội từ “vua - triều đình” sang “dân - xã hội”.
Từ nền tảng “khai dân trí”, xã hội Việt Nam bắt đầu tiếp cận những khái niệm mới như quyền công dân, pháp quyền và trách nhiệm xã hội. Phan Châu Trinh cho rằng nếu người dân không hiểu luật pháp, không ý thức được quyền và nghĩa vụ của mình thì dù có giành được độc lập, xã hội cũng khó tránh khỏi tình trạng chuyên chế mới. Do đó, “khai dân trí” được ông xem là điều kiện cần thiết để hình thành một xã hội tiến bộ, trong đó con người được coi là chủ thể chứ không phải đối tượng bị cai trị.
Đồng thời, tư tưởng này cũng làm thay đổi cách nhìn về giáo dục trong xã hội Việt Nam. Giáo dục không còn bị xem là con đường duy nhất để tiến thân làm quan, mà được nhìn nhận như động lực của sự phát triển xã hội. Việc học gắn với cải thiện dân sinh, phát triển kinh tế và nâng cao phẩm chất con người. Đây là bước chuyển quan trọng trong tư duy xã hội, tạo tiền đề cho sự tiếp nhận các tư tưởng dân chủ và tiến bộ trong những thập niên tiếp theo [20].
Mặc dù tư tưởng “khai dân trí” chưa thể tạo ra những thay đổi chính trị trực tiếp trong bối cảnh thuộc địa, song nó đã đặt nền móng tư tưởng lâu dài cho quá trình chuyển biến xã hội Việt Nam. Bằng việc khơi dậy ý thức tự học, tinh thần phản biện và trách nhiệm xã hội, tư tưởng của Phan Châu Trinh góp phần hình thành môi trường tư tưởng thuận lợi cho các phong trào yêu nước và cách mạng sau này.
4. Giá trị của tư tư tư “khai dân trí” đối với giáo dục Việt Nam hiện nay
Một trong những giá trị nổi bật và có sức sống lâu dài nhất của tư tưởng Phan Châu Trinh là tinh thần “khai phóng” trong giáo dục. Dù xuất hiện trong bối cảnh đầu thế kỷ XX, quan niệm giáo dục của ông đã vượt trước thời đại khi đặt trọng tâm vào tự do trí tuệ, năng lực tư duy độc lập và vai trò xã hội của tri thức - những nguyên lý cốt lõi của giáo dục đại học hiện đại [21].
Phan Châu Trinh cho rằng đại học không thể chỉ là nơi truyền thụ tri thức sẵn có, mà phải là không gian sản sinh tri thức mới thông qua tư duy độc lập và tranh luận học thuật. Trong quan niệm của ông, nếu giáo dục bị biến thành công cụ nhồi nhét hoặc phục vụ cho một hệ tư tưởng áp đặt, thì đại học sẽ đánh mất chức năng khai phóng và phản biện vốn có [22]. Tinh thần này thể hiện rõ trong sự phê phán của ông đối với lối học giáo điều, coi trọng quyền uy hơn chân lý.
Đối với giáo dục Việt Nam hiện nay, giáo dục “khai phóng” không chỉ là một mô hình đào tạo, mà còn là một triết lý tiếp cận giáo dục nhằm chuẩn bị cho người học năng lực hội nhập quốc tế. Trong một thế giới đa văn hóa và cạnh tranh tri thức toàn cầu, giáo dục cần giúp người học hiểu biết rộng, có khả năng tư duy phản biện, tôn trọng khác biệt và sẵn sàng đối thoại. Đây là những phẩm chất cốt lõi của công dân toàn cầu mà tư tưởng Phan Châu Trinh có thể cung cấp cơ sở tư tưởng vững chắc từ truyền thống dân tộc.
Tự do học thuật như điều kiện tiên quyết của sáng tạo tri thức: Phan Châu Trinh đặc biệt đề cao tự do học thuật, xem đó là điều kiện không thể thiếu để hình thành tư duy sáng tạo và năng lực phản biện. Theo ông, người học phải được quyền suy nghĩ, đặt câu hỏi và tranh luận về những vấn đề học thuật và xã hội, thay vì chỉ tiếp nhận tri thức một chiều. Ông phê phán lối học giáo điều, rập khuôn vì cho rằng nó làm triệt tiêu khả năng suy nghĩ độc lập và năng lực sáng tạo của con người. Trong quan niệm của ông, giáo dục phải tạo điều kiện để người học chủ động khám phá, đặt câu hỏi và tìm kiếm giải pháp cho các vấn đề của đời sống xã hội. Tự do học thuật không đồng nghĩa với vô kỷ luật, mà gắn liền với tinh thần trách nhiệm trí thức và chuẩn mực khoa học [23].
Quan niệm này có giá trị đặc biệt trong bối cảnh giáo dục đại học Việt Nam hiện nay. Trong bối cảnh chuyển đổi số, khi tri thức không còn là tài sản độc quyền của nhà trường, vai trò của giáo dục càng cần chuyển từ “truyền thụ kiến thức” sang “khơi gợi và phát triển năng lực sáng tạo”. Việc vận dụng tinh thần cải cách của Phan Châu Trinh đòi hỏi đổi mới phương pháp giảng dạy theo hướng tăng cường học tập dựa trên vấn đề, nghiên cứu khoa học, dự án liên ngành và trải nghiệm thực tiễn. Qua đó, giáo dục không chỉ truyền đạt cái đã biết mà còn hình thành năng lực tạo ra tri thức mới.
Một đặc trưng quan trọng của giáo dục khai phóng là coi đối thoại và tranh luận là phương thức trung tâm của quá trình đào tạo. Phan Châu Trinh cho rằng tri thức chỉ thực sự có giá trị khi được đặt trong quá trình trao đổi, kiểm chứng và phản biện. Chính thông qua tranh luận, người học mới hình thành năng lực lập luận, khả năng phân tích và tư duy độc lập. Tinh thần này đặt nền móng cho việc chuyển đổi mô hình giáo dục đại học từ “truyền thụ” sang “tương tác”, trong đó giảng viên đóng vai trò định hướng và khơi gợi, còn sinh viên là chủ thể tích cực của quá trình học tập. Đây cũng là yêu cầu then chốt trong việc xây dựng môi trường học thuật cởi mở, dân chủ và sáng tạo ở các trường đại học Việt Nam hiện nay. Khác với quan niệm giáo dục thuần túy hàn lâm, Phan Châu Trinh nhấn mạnh mối quan hệ hữu cơ giữa tri thức và trách nhiệm xã hội. Ông cho rằng trí thức không thể đứng ngoài các vấn đề của cộng đồng, mà phải tham gia vào việc giải quyết những thách thức xã hội thông qua tri thức và hành động có trách nhiệm. Quan điểm này đặc biệt phù hợp với triết lý giáo dục đại học hiện đại, nơi mục tiêu đào tạo không chỉ là nguồn nhân lực chất lượng cao, mà còn là những công dân trí thức có ý thức phụng sự xã hội. Trong bối cảnh Việt Nam đang đẩy mạnh đổi mới sáng tạo và phát triển bền vững, việc vận dụng tinh thần này giúp giáo dục đại học tránh rơi vào tình trạng xa rời thực tiễn và thiếu chiều sâu nhân văn.
Bên cạnh giáo dục đại học, tư tưởng Phan Châu Trinh còn có giá trị đặc biệt đối với triết lý giáo dục công dân hiện đại. Ông cho rằng một xã hội tiến bộ không thể hình thành nếu thiếu những công dân có năng lực phán đoán, tinh thần tự chủ và ý thức trách nhiệm đối với cộng đồng. Giáo dục, do đó, phải hướng tới việc hình thành con người công dân, chứ không chỉ đào tạo cá nhân phục vụ bộ máy hành chính hay thị trường lao động. Trong quan niệm của Phan Châu Trinh, giáo dục công dân gắn liền với việc phát triển năng lực phản biện - khả năng phân tích, đánh giá và đưa ra quan điểm độc lập trước các vấn đề xã hội. Ông cho rằng khi con người không có năng lực phản biện, họ dễ rơi vào trạng thái thụ động, chấp nhận bất công và không có khả năng tham gia vào đời sống xã hội một cách hiệu quả. Trong bối cảnh giáo dục Việt Nam hiện nay, việc phát triển năng lực phản biện được xem là yêu cầu cấp thiết nhằm khắc phục tình trạng học thụ động, thiếu chủ động và ngại tranh luận. Tư tưởng Phan Châu Trinh, vì vậy, có thể được xem là nguồn cảm hứng cho việc đổi mới nội dung và phương pháp giáo dục công dân.
Phan Châu Trinh cho rằng giáo dục công dân phải hướng tới việc khuyến khích con người tham gia vào đời sống xã hội một cách tích cực và có trách nhiệm. Người công dân, theo ông, không chỉ tuân thủ pháp luật, mà còn có trách nhiệm đóng góp ý kiến, giám sát quyền lực và tham gia xây dựng cộng đồng [24].
Quan niệm này đặt nền tảng cho việc hiểu giáo dục công dân như một quá trình đào tạo năng lực tham gia xã hội, phù hợp với các mô hình giáo dục công dân hiện đại trên thế giới. Việc vận dụng tư tưởng này trong giáo dục Việt Nam giúp hình thành thế hệ công dân có khả năng thích ứng với xã hội dân chủ, pháp quyền và hội nhập quốc tế.
*
* *
Tư tưởng cải cách của Phan Châu Trinh hình thành trong bối cảnh xã hội Việt Nam đầu thế kỷ XX đứng trước khủng hoảng toàn diện về con đường phát triển và mô hình tổ chức xã hội. Bằng cách tiếp cận cải cách từ nền tảng văn hóa và con người, Phan Châu Trinh đã đưa ra một hệ tư tưởng mang tính khai phóng sâu sắc, trong đó giáo dục, nâng cao dân trí và xây dựng tinh thần công dân được xác định là những trụ cột căn bản của tiến trình canh tân xã hội. Cách tiếp cận này không chỉ thể hiện tầm nhìn vượt thời đại mà còn cho thấy sự khác biệt căn bản giữa tư tưởng cải cách của Phan Châu Trinh với nhiều khuynh hướng cứu nước đương thời vốn đặt trọng tâm vào giải pháp chính trị hoặc bạo lực cách mạng.
Giá trị đặc sắc trong tư tưởng Phan Châu Trinh nằm ở việc ông nhận thức rõ rằng sự tụt hậu của một dân tộc không thể khắc phục chỉ bằng việc thay đổi thiết chế quyền lực, mà cần bắt đầu từ sự chuyển biến trong nhận thức, tư duy và năng lực xã hội của con người. Thông qua giáo dục, con người được trang bị tri thức, hình thành năng lực phán đoán và ý thức trách nhiệm, từ đó từng bước trở thành chủ thể tích cực của đời sống xã hội. Chính quan niệm này đã đặt nền móng cho tư duy giáo dục mang tính khai phóng ở Việt Nam, coi việc phát triển con người toàn diện là điều kiện tiên quyết cho sự phát triển bền vững của quốc gia.
Trong bối cảnh Việt Nam hiện nay đang triển khai đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, tư tưởng của Phan Châu Trinh tiếp tục cho thấy giá trị gợi mở quan trọng cả về lý luận lẫn thực tiễn. Những luận điểm của ông về tự do tư tưởng, tư duy phản biện, gắn tri thức với trách nhiệm xã hội và xây dựng con người công dân có thể được xem là cơ sở cho việc tiếp cận các mô hình giáo dục hiện đại, đặc biệt là giáo dục khai phóng và giáo dục định hướng phát triển năng lực. Việc nhìn nhận lại tư tưởng Phan Châu Trinh trong bối cảnh mới giúp khẳng định rằng đổi mới giáo dục không chỉ là vấn đề kỹ thuật hay chương trình, mà là quá trình tái định hình triết lý giáo dục và mục tiêu phát triển con người.
Đối với giáo dục đại học, tư tưởng cải cách của Phan Châu Trinh gợi mở yêu cầu xây dựng môi trường học thuật dân chủ, đề cao tự do nghiên cứu, đối thoại và phản biện, đồng thời khẳng định trách nhiệm xã hội của trí thức. Trong khi đó, đối với giáo dục công dân, tư tưởng của ông đặt nền tảng cho việc hình thành những cá nhân có năng lực tham gia xã hội, có ý thức pháp quyền và khả năng thích ứng với những biến đổi của xã hội hiện đại, đặc biệt trong điều kiện toàn cầu hóa và chuyển đổi số.
Có thể khẳng định rằng, việc kế thừa và vận dụng có chọn lọc các giá trị khai phóng trong tư tưởng Phan Châu Trinh không chỉ góp phần làm phong phú thêm cơ sở lý luận của triết lý giáo dục Việt Nam hiện đại, mà còn có ý nghĩa thiết thực trong việc đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao và xây dựng xã hội học tập. Trong dài hạn, những giá trị này sẽ góp phần thúc đẩy tư duy sáng tạo, năng lực phản biện và trách nhiệm xã hội của người học, qua đó đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững và hội nhập quốc tế của Việt Nam trong thế kỷ XXI.
Chú thích:
[1] Sau cuộc Chiến tranh thuốc phiện năm 1840, Trung Quốc rơi vào tình trạng nửa thuộc địa, đứng trước nạn ngoại xâm, một số sĩ phu yêu nước tiến bộ đã hướng về phương Tây, tìm đường canh tân đất nước “mở cửa” học tập khoa học kỹ thuật hiện đại, cải cách kinh tế, chính trị xã hội, học thuật để đưa đất nước mau chóng thoát khỏi lạc hậu.
[2] Trước năm 1868, Nhật Bản cũng là một nước phong kiến lạc hậu do chủ trương “bế quan toả cảng” nhưng đứng trước nguy cơ xâm lược của đế quốc phương Tây, những người thức thời đại diện cho giai cấp tư sản đã phát động phong trào cải cách, duy tân đất nước, chống lại nền chuyên chế, thủ cựu trong nước, đẩy mạnh dân chủ hoá, phát triển kinh tế, đất nước tiến theo con đường tư bản chủ nghĩa, xây dựng chế độ quân chủ ở Nhật.
[3] Tân thư luôn đi cùng với tư tưởng duy tân đổi mới theo khuynh hướng dân chủ tư sản châu Âu ở Trung Quốc và Nhật Bản, bao gồm những cuốn sách về toán học, vật lý học, hóa học, địa lý, lịch sử, kinh tế, chính trị… được dịch từ tiếng Tây, tiếng Nhật để phổ biến văn minh tới mọi người.
[4] Trần Thuận (chủ biên), Thái độ của sĩ phu Việt Nam thời tiếp xúc Đông - Tây (từ thế kỷ XVII đến đầu thế kỷ XX), Nxb. Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh, 2014, tr. 219.
[5] Những tài liệu được gọi là Tân văn lưu truyền lúc bấy giờ có thể kể đến như Dân ước luận của Lư Hoa; Vạn pháp tinh lý của Mạnh Đức Tư Cưu; Trung Đông Chiến kỷ, Pháp Phổ chiến kỷ của Lương Khải Siêu; Dinh hoàn chí lược của Từ Kế Dự…
[6] Những sách Tân thư này có thể dễ dàng mua tại những nơi buôn bán của người Hoa ở các đô thị lớn như Huế.
[7] Do nhận thức, cảm quan của mỗi người nên đã hình thành nhiều trường phái, xu hướng chính trị, xã hội khác nhau. Một số mang tư tưởng bảo thủ thì bi quan, chán chường, chưa tìm ra lối thoát thì bất hợp tác với thực dân Pháp bằng các biểu hiện từ quan, không dùng đồ Tây, không học chữ Tây, không đi đường do Tây làm. Một số khác thì kiên trì đường lối vũ trang chống Pháp nhưng lại chủ trương kết hợp cứu nước với duy tân, tức học theo văn minh phương Tây để cải tạo xã hội Việt Nam cũ, xây dựng một xã hội mới theo mô hình các nước tiên tiến lúc bấy giờ.
[8] Mính Viên Huỳnh Thúc Kháng, Phan Tây Hồ tiên sinh lịch sử, Nxb. Anh Minh, Huế, 1959, tr.14.
[9] Huỳnh Lý, Phan Châu Trinh thân thế và sự nghiệp, Nxb. Đà Nẵng, 1993, tr.37.
[10] Phan Châu Trinh, Toàn tập, tập 2, Nxb. Đà Nẵng, 2005, tr. 41 - 44.
[11] Phan Châu Trinh, Toàn tập, tập 2, Nxb. Đà Nẵng, 2005, tr. 45 - 47.
[12] Huỳnh Thúc Kháng, Phan Tây Hồ tiên sinh lịch sử - trong quyển Giai nhân kỳ ngộ, Lê Văn Siêu bình giải và chú thích, dẫn theo Thu Trang, Những hoạt động của Phan Châu Trinh tại Pháp 1911 - 1925, Nxb. Văn nghệ TP. Hồ Chí Minh và Trung tâm nghiên cứu quốc học, 2000, tr. 22.
[13] Thế Nguyên, Phan Chu Trinh, Sài Gòn 1956, tr.149
[14] Phan Châu Trinh, Toàn tập, tập 1, Nxb. Đà Nẵng, 2005, tr. 112 - 114.
[15] Marr, D. G., Vietnamese Tradition on Trial, 1920-1945, University of California Press, 1981, tr. 73 - 75.
[16] Woodside, A., Community and Revolution in Modern Vietnam, Houghton Mifflin, 1983, tr. 101-103.
[17] Phan Châu Trinh Toàn tập, tập 3, Nxb. Đà Nẵng, 2005, tr. 21-23.
[18] Phan Châu Trinh Toàn tập, tập 1, Nxb. Đà Nẵng, 2005, tr. 245-246.
[19] Đinh Xuân Lâm (chủ biên), Phong trào Duy Tân và Đông Kinh Nghĩa Thục, Nxb. Giáo dục, 2007, tr. 87-92.
[20] Vũ Đình Hòe, Tư tưởng cải cách ở Việt Nam đầu thế kỷ XX, Nxb. Khoa học xã hội, 1997, tr. 59 - 62.
[21] Phan Châu Trinh Toàn tập, tập 2, Nxb. Đà Nẵng, 2005, tr. 61 - 63.
[22] Phan Châu Trinh Toàn tập, tập 2, Nxb. Đà Nẵng, 2005, tr. 79 - 81.
[23] Marr, D. G., Vietnamese Tradition on Trial, 1920 - 1945, University of California Press, 1981, tr. 142 - 144.
[24] Marr, D. G., Vietnamese Tradition on Trial, 1920-1945, University of California Press, 1981, tr. 155 - 157.
Avatar: https://fs.chungta.com/thumbnailwebps/14124e6776864c6d8fb32525a6f38daa/0/0/0/adfe24015f7746dfb716686bee7b301d/0/2017/0005606012805/tu-tuong-phan-chau-trinh-va-cac-gia-tri-khai-sang.webp