Ở Ấn Độ, nghệ thuật được chia làm hai thời kỳ: thời kỳ phi thánh tượng (Aniconic) từ thế kỷ V trước Công nguyên đến thế kỷ I Công nguyên và thời kỳ thánh tượng (Iconic) từ thế kỷ I đến nay.

1. Thần Vishnu
Ở Ấn Độ, nghệ thuật được chia làm hai thời kỳ: thời kỳ phi thánh tượng (Aniconic) từ thế kỷ V trước Công nguyên đến thế kỷ I Công nguyên và thời kỳ thánh tượng (Iconic) từ thế kỷ I đến nay. Thời kỳ phi thánh tượng trong nghệ thuật Phật giáo, có thể nhận thấy tháp ( stupa ) ban đầu có cấu trúc vòm và là nơi chứa xá lợi (sarira) của Phật hoặc thông qua các hình ảnh ẩn dụ hay biểu tượng như hoa sen ( padma ) vì không để nước và chất bẩn bám vào lá, là biểu tượng của sự trong sạch và Phật tính trong mỗi chúng sinh; Cây Bồ đề ( asvattha ) vì tương truyền Phật đắc đạo dưới cây này và vì vậy nó mang tên "bồ đề"; Pháp luân ( dharmacakra ), bánh xe ( cakra ) pháp ( dharma ), tượng trưng cho Tứ thánh đế và Bát chính đạo. Nhưng Pháp luân cũng nhắc đến lần Phật thuyết pháp đầu tiên tại Vườn Lộc uyển (Sarnath), được gọi là lần đầu tiên "quay bánh xe pháp" ( dharmacakrapravartana ); Sư tử ( simha ), biểu tượng của sự cai trị và hoàng gia của vị Phật lịch sử Thích ca Mâu ni; Phật túc thạch ( buddhapada ) bàn chân Phật trên đá, được xem là một biểu trưng cho sự "khắc Phật pháp" vào thế giới của Phật Thích-ca 1 .
Thời kỳ thánh tượng có thể nhìn thấy hình ảnh đức Phật, chẳng hạn trên đồng tiền của thời đế quốc Quý Sương. Đế quốc Quý Sương , tức Đế quốc Kushan (năm 30-375), là một cường quốc cổ đại tại Trung Á. Vào thời đỉnh cao (105-250), đế Đế quốc Kushan trải dài từ Tajikistan tới Biển Caspi và từ Afghanistan xuống đến lưu vực sông Hằng. Do nằm trên trục giao thông huyết mạch của Trung Á, họ có quan hệ ngoại giao với Đế chế La Mã, Ba Tư Sassanid và nhà Hán Trung Quốc. Người Quý Suơng tiếp nhận các yếu tố của văn hóa Hy Lạp cổ đại. Họ đã chấp nhận bảng chữ cái Hy Lạp cho phù hợp với ngôn ngữ riêng của họ (với sự phát triển thêm các chữ Þ "sh", như trong "Kushan") và bắt đầu đúc tiền theo kiểu Hy Lạp 2 . Các đồng tiền thường được tiết kế theo phong cách của Hy Lạp - Bactria, với một mặt hình vua, mặt kia hình một vị thần. Đơn cử một đ ồng tiền vàng hình Kanishka I (năm 150 CN). Kanishka (tại vị năm 127-151) đứng với tư thế mặc trùm lên với áo choàng và đeo giày ống, lửa từ vai, giữ cây cột bằng tay trái và làm lễ tế thần. Người Đại Hạ có truyền thuyết trong nguyên bản tiếng Hy Lạp (với phần cộng thêm với Quý Sương Ϸ "sh" letter): ϷΑΟΝΑΝΟϷΑΟ ΚΑΝΗϷΚΙ ΚΟϷΑΝΟ ("Shaonanoshao Kanishki Koshano"): "Đức vua vĩ đại Kanishka người Quý Sương". Mặt kia có hình đức Phật đứng theo phong cách Hy Lạp, hình thành thế vô úy ấn (không sợ hãi - Abhaya Mudra) với bàn tay phải, tay trái giữ một nếp gấp của chiếc áo choàng. Huyền thoại trong kịch bản Hy Lạp: ΒΟΔΔΟ "Boddo", cho đức Phật 3 . Các đồng tiền có hình đức Phật là tương đối hiếm, chỉ có khoảng 1/100 đồng tiền của Kanishka. Trên đồng tiền có hình đức Phật (Buddha) và một số khác có hình Phật Di Lạc (Maitreya). Hình ảnh đức Phật thường có đôi tai rất lớn và bàn chân dang xa nhau 4 (Hình 1). Hình ảnh đức Phật đứng, thể hiện trên đồng tiền vàng của Kanishka là hình ảnh xuất hiện đầu tiên mở đầu thời kỳ thánh tượng. Sau đó, hình tượng đức Phật được thể hiện trên đá với kích thước to hơn và phức tạp hơn (Roy c. Craven 2005: 103).
Hình ảnh đức Phật còn có thể nhận ra trong nghệ thuật Gandhara (nghệ thuật Ấn-Hy,) tượng Phật đứng mặc áo kiểu Hy Lạp (sanghati) loại áo thụng dài khoác ngoài, được gọi là kiểu áo ướt (thế kỷ I-V) ở miền Tây Bắc Ấn Độ, nay thuộc về Afghanistan và một phần của Pakistan; Trong nghệ thuật Mathura , nghệ thuật Ấn Độ cổ điển, Phật trong y phục vải mỏng, chỉ phủ vai trái, trên đỉnh đầu có hình dạng sơ khai của nhục kế (Ushnisha) nhô ra giống như một vòng xoắn tập trung thành khối (thế kỷ II TCN - XII) ở miền Bắc Ấn Độ ( Roy c. Craven 2005: 134-135 ) và trong nghệ thuật Amaravati ở miền Nam Ấn, tượng Phật đứng, mặc áo phủ vai trái, vai phải để hở (thế kỷ II TCN - III SCN).
Vương triều Gupta ( 320 - 550) ở phần lớn Bắc Ấn Độ, Đông Nam Pakistan, một phần của Gujarat và Rajasthan mà ngày nay là Tây Ấn Độ và Bangladesh. Các nhà sử học xem thời Gupta là t hời kì hoàng kim của Ấn Độ về mặt khoa học, toán học, thiên văn học, tôn giáo và triết học Ấn Độ 5 . Nghệ thuật Phật giáo Gupta đã thừa hưởng nhiều tinh túy của nghệ thuật trước đó, đặc biệt quan trọng là tính giản dị hoành tráng và sự tả chân tinh tế của tượng: tính căng cứng kiểu Mathura nhường bước cho kiểu thức an định và thanh thản; bộ y phục sanghati dán chặt vào thân tượng kiểu Gandhara (những vị Phật áo ướt) tan biến đi và chỉ được xác định bằng một loạt nếp gấp giống như những sợi dây; đầu tượng và nhục kế hoàn toàn được phủ bằng mô típ tóc ốc và mí mắt nặng nề, hướng các năng lực vào nội tâm, thoát xa khỏi thế giới trần tục; vòng hào quang diễn ra quá trình thoát khỏi kiểu hào quang đĩa mặt trời kiểu Mathura… Nghệ thuật Phật giáo Gupta đã ảnh hưởng mạnh mẽ đến những trường phái nghệ Phật giáo sau đó cả bên trong lẫn bên ngoài xứ Ấn và nó cũng có ảnh hưởng, tác dụng quan trọng và lâu dài trên nghệ thuật Hindu giáo ( Roy c. Craven 2005: 138-140) .
Thần Vishnu, được coi là “vị thần bao trùm tất cả” (Pervader) hay “vị thần có nhiều hình dạng” và là một trong ba vị thần của đạo Hindu (Trimurti) – Brahma (đấng tạo hóa), Vishnu (đấng bảo hộ) và Shiva (đấng hủy diệt và tái tạo). Hình ảnh của thần thường nằm trên rắn thần Shesha có nhiều đầu (năm đầu, bảy đầu…) hay đứng thẳng bốn tay cầm bốn vật: chiếc đĩa (biểu tượng của trí tuệ và mặt trời, mà mặt trời thì tượng trưng cho sự khống chế vũ trụ), vỏ ốc Sankha (tượng trưng cho tiếng “Om” rung động cơ bản để từ đó mà có sáng tạo. Vỏ ốc được thổi lên ở các đền báo hiệu sự hiện diện của thần Vishnu), hoa sen (tượng trưng cho sự thanh khiết của vũ trụ, cũng như cho sự phì nhiêu), cây chùy (tượng trưng cho kiến thức và năng lực của trí tuệ, là sự điều khiển, quyền uy và sự duy trì trật tự). Thần Vishnu có 10 hóa thân: Cá Matcha, Rùa Kurma, Lợn rừng Varaha, Sư tử Narasimha, Chàng lùn Vamana, Bà la môn Parashurama, Hoàng tử Rama, Thần Krishna, Đức Phật Buddha, Ngựa Kalki ( John Bowker chủ biên 2003: 42-44) .
1.1. Thần Vishnu thể hiện trên vàng
Đề tài thần Vishnu được thể hiện rất đa dạng trong các mảnh vàng lá phát hiện ở trung tâm tôn giáo Đá Nổi (An Giang) và ở Gò Tháp (Đồng Tháp). Thần Vishnu được thể hiện dưới hình thức nhân dạng, các hóa thân, các biểu tượng và cả các vật cưỡi của thần.
- Thần Vishnu dưới hình thức nhân dạng
Có 4 hình thần Vishnu chạm trên bốn lá vàng tìm được trong các đền ở Đá Nổi ( 85ĐN.M2.09), ( 85ĐN.M2.10), ( 85ĐN.M4.39), ( 85ĐN.M5.13) . Hình thần được chạm đứng thẳng, đầu đội mũ hình trụ, quấn khố dài (Dhoti). Có 2 thần ( 85ĐN.M4.39), ( 85ĐN.M5.13) có 4 tay, trong đó tay thứ nhất cầm tù và vỏ ốc Sankha. Tay thứ hai cầm cây gậy gọi là Kaumodaki. Hai tay còn lại không rõ vật cầm. Tuy nhiên, rất có thể một tay sẽ là cầm đóa sen gọi là Padma và một tay nữa cầm chiếc đĩa hay một chiếc vòng gọi là Sudarsanan hoặc Vajranabha (theo truyền thuyết Ấn Độ vật này do thần Agni tặng thưởng khi Vishnu đánh bại Indra (Huỳnh Thị Được 2005: 58). Hai tượng ở di tích ( 85ĐN.M2.09), ( 85ĐN.M2.10) chỉ có hai tay , trong đó ( 85ĐN.M2.09) cầm liềm bên tay phải và ( 85ĐN.M2.10) cầm liềm bên tay trái. Ở hiện vật 85ĐN. M5:13 còn cho thấy các biểu tượng khác như hoa sen, vòng tròn, bình nước (Lê Thị Liên 2006: 131).
Thần Vishnu biểu hiện dưới hình thức nhân dạng ở Đá Nổi này khác so với những hình thần Vishnu ở Gò Tháp. Hai hình thần Vishnu ở Gò Tháp (ký hiệu 93GT.M4.1(d) (Hình 2a) và 93GT.M4.2(d)), Vishnu cầm con ốc bên tay trái, bánh xe Chakra bên tay phải, đứng trong tư thế lệch hông ít (abhanga), trang phục là loại Sampot mỏng, ngắn tới đầu gối, bó sát thân, có nhiều nếp ngang. Các mảnh này đi kèm với một số mảnh có chữ Sri, mang đặc điểm vùng Nam Ấn, có niên đại thể kỷ IV-VI (Lê Thị Liên 2006: 131) .

| 
|
Ảnh 1 . Thần Vishnu và biểu tượng thể hiện trên vàng – Bảo tàng Đồng Tháp (ký hiệu 93GT.M4.1 và 93GT.M5.10) |
- Các hóa thân của thần Vishnu
+ Hóa thân dưới dạng Cá Matcha (Matsya)
Có 4 hiện vật dạng này phát hiện ở Đá Nổi, trong đền 85ĐN. M4 ( có ký hiệu: 85ĐN. M4:10, 85ĐN. M4:112 ) và trong đền 85ĐN. M3 (ký hiệu: 85ĐN.M3: 28, 85ĐN.M3: 31 ) được nghệ nhân miêu tả khá hiện thực với 2 hình cá trong tư thế nhìn ngang và 2 hình tả cảnh cá lội, và đớp mồi (Lê Xuân Diệm và cộng sự 1995: 356). Có 3 hiện vật của dạng này tìm thấy trong hai đền 93GT.M1 và 93GT.M5 ở Gò Tháp (ký hiệu 93GT.M1.11, 93GT.M5.28 và 93GT.M5.40 ).
+ Hóa thân dưới dạng Rùa Kurma
Có 3 hiện vật, phát hiện ở Đá Nổi, trong đền: 85ĐN. M4 (ký hiệu: 85ĐN.M4: 64, 85ĐN.M4: 79 ) và trong đền: 85ĐN. M2 (ký hiệu: 85ĐN. M2:12 ). Thêm 3 hiệt vật nữa tìm thấy trong một ngôi đền 93GT.M1 ở Gò Tháp (ký hiệu 93GT.M1.5 (a), 93GT.M1.6 (f), 93GT.M1.7 (b)).
+ Hóa thân dưới dạng lợn đực Varaha
Phần lớn các hình Varaha đích thực được phát hiện ở đền 85ĐN. M4 , Đá Nổi (ký hiệu 85.ĐN.M4:16, 85.ĐN.M4:24, 85.ĐN.M4:59, 85.ĐN.M4:65, 85.ĐN.M4:74, 85.ĐN.M4:76). Có một hiện vật cho thấy Varaha được thể hiện chính diện, mặt thú tròn, hai tai như tai mèo dựng đứng. Phần lớn các hình đều trong tư thế nhìn nghiêng, mặt quay ngang hoặc ngẩng lên, cho thấy một cái mõm rất lớn và dài. Các ngấn cổ to, rõ trên cái cổ vạm vỡ cho phép xác định một số con thú bốn chân, to, khỏe, không có bướu và sừng có mặt cùng với các hình tượng hoa sen, ốc… có thể cũng chính là hình ảnh lợn đực Varaha (Lê Thị Liên 2006: 132-133). Thêm 3 hiện vật tìm thấy trong một ngôi đền 93GT.M1 ở Gò Tháp (ký hiệu 93GT.M1.3 (a), 93GT.M1.3 (e) và 93GT.M1.4 (e).
- Các biểu tượng khác và các vật cưỡi của thần Vishnu
+ Bánh xe Chakra
Ở khu đền Đá Nổi có 48 hình bánh xe được chạm dập trên vàng. Thông thường, trên các lá vàng bánh xe có 7 - 11 căm xe. Vành bánh hình tròn, đôi khi cách điệu thành hình lục giác, có khi còn chấm giữa hoặc trang trí chấm tròn hay vành răng cưa. T rong đền Đá Nổi bánh xe có nhiều hơn, trong đó có 15 lần xuất hiện độc lập số còn lại lần kết hợp hình tượng khác như chim thần Garuda, hình cốc, hình hoa sen, hình tháp, hình bánh. Những lá vàng đó được mang ký hiệu: 85ĐN. M4:1, 85ĐN. M4:2, 85ĐN. M4:6, 85ĐN. M4:12, 85ĐN. M4:13, 85ĐN. M4:19, 85ĐN. M4:50, 85ĐN. M4:58, 85ĐN. M4:84, 85ĐN. M4:93, 85ĐN. M4:94 (Lê Xuân Diệm và cộng sự 1995: 359) .
Có 17 hiện vật tìm được ở Gò Tháp ở bốn đền 93GT.M1, 93GT.M3.10 (b), 93GT.M4 và 93GT.M5, trong đó có 15 hiện vật hình bánh xe (ký hiệu 93GT.M1.16 (f), 93GT.M4.3 (d), 93GT.M4.10 (a), 93GT.M4.10 (a), 93GT.M4.19 (c), 93GT.M5.1, 93GT.M5.2, 93GT.M5.3, 93GT.M5.4, 93GT.M5.5, 93GT.M5.6, 93GT.M5.7, 93GT.M5.8, 93GT.M5.9, 93GT.M5.11, 93GT.M5.47), một hiện vật bánh xe Chakra và hoa sen (ký hiệu 93GT.M3.10 (b)) và một hiện vật bánh xe Chakra và ốc Sankha (ký hiệu 93GT.M5.10) (Hình 2b)
+ Ốc Sankha
Ở Đá Nổi có 59 hình ốc xuất hiện trên các lá vàng. Trong đó, hình ốc xuất hiện độc lập 13 lá vàng số còn lại kết hợp cùng vật khác như hình lợn rừng Varaha, chim thần Garuda, với các hình bò, hình rắn và với các vật thể như bánh xe, gậy, bông sen, bông súng…. Hình ốc được chạm dập thường có thân gần tròn hoặc gần bầu dục, miệng dài, đuôi xoáy nhọn (Lê Xuân Diệm và cộng sự 1995: 358). Các lá vàng có hình ốc độc lập ở Đá Nổi được tìm thấy trong đền 85ĐN.M4 một số có ký hiệu như: 85ĐN. M4:26, 85ĐN. M4: 66, 85ĐN. M4: 73, 85ĐN. M4: 82, 85ĐN. M4: 104, 85ĐN. M4: 120, 85ĐN. M4: 127, 85ĐN. M4: 136, 85ĐN. M4: 152) . Các lá vàng có hình ốc kết hợp các vật thể khác ở Đá Nổi cũng tìm thấy trong đền 85ĐN. M4 có ký hiệu: 85ĐN.M4:3, 85ĐN. M4: 5, 85ĐN. M4: 20, 85ĐN. M4: 21, 85ĐN. M4: 23, 85ĐN. M4: 30, 85ĐN. M4: 33, 85ĐN. M4: 40, 85ĐN. M4: 60, 85ĐN. M4: 88, 85ĐN. M4: 90, 85ĐN. M4: 91 (Lê Xuân Diệm và cộng sự 1995: 359, 361) .
Ở Gò Tháp có 7 hiện vật ở đền 93GT.M5, trong đó có 6 ốc Sankha (ký hiệu 93GT.M5.12, 93GT.M5.13, 93GT.M5.14, 93GT.M5.15, 93GT.M5.16, 93GT.M5.34) và một hiện vật là ốc Sankha và hoa sen (ký hiệu 93GT.M5.17).
+ Bàn chân thần Vishnu
- Về biểu tượng đôi bàn chân, thần thoại Hindu có kể rằng, thần Vishnu bằng ba bước chân đã chinh phục được ba thế giới, vì thế thần còn có tên gọi khác là Trivikrama. Trong một văn khắc được xác định niên đại vào thế kỷ V phát hiện ở Gò Tháp có nhắc đến thái tử Gunarvarman cho dựng bàn chân của thần Vishnu (Lê Thị Liên 2006: 134). Trong đoạn 9 của văn bia có ghi dấu chân này cúng dâng chư thần, do các vị tu sĩ Bà La Môn, thông hiểu kinh Veda, Upaveda và kinh Vedanga (Lê Hương 1974: 45). Có 2 hiện vật tìm thấy ở Đá Nổi: 85ĐN. M4 được thể hiện rõ ràng và hiện thực nhất . Trong các hiện vật này (ký hiệu: 85ĐN. M4: 103, 85ĐN. M4: 129 ), người thợ chạm tạo hình hai bàn chân riêng rẽ, một bàn chân phải và một bàn chân trái, kích cỡ gần tương xứng nhau, với các nét gạch ngắn và thẳng khá tỉ mẩn thể hiện các ngón chân và các đường cong nhẹ thể hiện vành chân. Đây có thể là biểu tượng về “ bàn chân thần Vishnu ” trong Hindu giáo (Lê Xuân Diệm và cộng sự 1995: 348).
+ Rắn Shesha
Rắn Shesha là vật cưỡi của thần Vishnu trên biển vũ trụ. Hình tượng này tuy xuất hiện không nhiều nhưng khá thường xuyên trong các di tích. Hình rắn 5 đầu thường thấy ở di tích Đá Nổi. Tuy nhiên, những hình phát hiện được trong 85ĐN.M2 (ký hiệu 85ĐN.M2:25) và 85ĐN.M3 (ký hiệu 85ĐN. M3:14) vẫn được thể hiện một cách sơ lược. Các hình rắn trong 85ĐN.M4 (ký hiệu: 85ĐN. M4: 62, 85ĐN. M4: 75, 85ĐN. M4: 97,85ĐN. M4: 109, 85ĐN. M4: 159 ) được thể hiện khá thống nhất, co thân uốn cong với nhiều chi tiết. Hình rắn thường có mặt chung trên cùng một lá vàng với các hình bánh xe, con ốc (Lê Thị Liên 2006: 135).
Ở Gò Tháp tìm thấy một hiện vật ở đền 93GT.M3 (ký hiệu 93GT.M3.14 (c)) .
+ Hình chim thần Garuda
Chim thần Garuda là vật cưỡi của thần Vishnu. Đã có 10 hình thần Garuda được thống kê từ các hiện vật vàng trong đền, trong số đó có 9 hiện vật ở Đá Nổi trong đền 85ĐN-M4 (ký hiệu: 85ĐN.M4: 4, 85ĐN.M4: 63, 85ĐN.M4: 85, 85ĐN.M4: 86, 85ĐN.M4: 89, 85ĐN.M4: 110, 85ĐN.M4: 121, 85ĐN.M4: 124 ) (Lê Xuân Diệm và cộng sự 1995: 348).
Nhìn chung, các hình chạm thể hiện Garuda này gần gũi với các điêu khắc xuất hiện trong nghệ thuật Gupta, thế kỷ V đầu thế kỷ VI (Lê Thị Liên 2006: 136).
Ở Gò Tháp có hai hiện vật dạng này ở hai đền 93GT.M4 và 93GT.M5 (ký hiệu 93GT.M4.17 (d) và 93GT.M5.23)
1.2. Thần Vishnu thể hiện trên đá
- T ượng có chống hình chữ U hay vòng cung sau mũ
Năm 1994, khi khai quật khu đền (Temple) (trong đạo Hindu chỉ có đền mà không có tháp). Tại Bình Thạnh (Tây Ninh), phát hiện hai nền móng thấp hơn móng tháp hiện nay; gạch móng có kích thước trung bình, bên trong có ao thần, có tượng thần Vishnu… Theo Phạm Như Hồ, khu Bình Thạnh, ít nhất có hai giai đoạn sớm muộn khác nhau: nền móng thấp, có ao thần là giai đoạn sớm (thế kỷ VII – VIII) và đền còn thấy hiện nay là giai đoạn muộn (thế kỷ IX – X) (Phạm Như Hồ 1996: 68-72). Tượng Vishnu Bình Thạnh bị mất phần thân, có cung chống hình chữ U. Đội mũ trụ, tay trái trên cầm ốc Sankha, tay phải trên cầm đĩa. Theo Lê Thị Liên, tượng gần gũi với phong cách Prasat Andet muộn và phong cách Kongpong Preah. Tuy nhiên vẻ hồn nhiên, các nét mền mại của nó có mang nhiều ảnh hưởng của phong cách Phnom Da. Niên đại có thể đoán định vào khoảng thế kỷ VII (Lê Thị Liên 2006: 70).
Năm 1998, khi khai quật đường móng phía Nam của đền Gò Tháp Mười (Đồng Tháp), những người khai quật đã phát hiện được hai pho tượng Vishnu (Hình 3). Tượng Vishnu thứ nhất đứng, có bốn tay. Hai tay phải gãy mất, tay trái trên cầm con ốc Sankha, tay trái dưới chống gậy trơn, đầu gậy tròn. Cung chống phía sau mũ uốn cong. Mũ trụ thẳng trơn, kéo xuôi tới sát tai. Trang phục ngắn trên gối, kiểu quấn sampot, trơn cuộn thành một nút tròn nhỏ và buông thành các nếp hình đuôi cá; tượng cao 54,5cm. Tượng mang phong cách này được Pierre Dupont định niên đại vào cuối thế kỷ VI đầu thế kỷ VII (Lê Thị Liên 2006: 72-73). Một tượng Vishnu khác tìm được ở đền Chót Mạt (Tây Ninh), cao
| 
| 
|
Ảnh 2. Hai tượng thần Vishnu tìm được ở Gò Tháp Mười (Đồng Tháp) |
55 cm, đang được lưu giữ ở Bảo tàng Mỹ thuật TP. Hồ Chí Minh (ký hiện BTMT.187) (Lâm Quang Thùy Nhiên 2005: 44). Tượng Vishnu Chót Mạt mặc trang phục ngắn, có thắt lưng và có phần vạt vắt về chân phải nên được Pierre Dupont định niên đại vào thế kỷ VIII (Malleret 1963: 81-82). Một tượng Vishnu có chống hình chữ U khá hoàn chỉnh, tìm thấy trong chùa Tuy Hòa (Bình Thuận) và hiện đang lưu giữ ở Bảo tàng Lịch sử Quốc gia Việt Nam (Ngô Thế Phong 2012: 40-48) …
Tượng loại này thuộc phong cách Phnom Da, có niên đại thế kỷ VI (Khun Samen 2008: 51; Marilia Albanese 2006: 35).
- Tượng có chống ngang sau mũ
Tượng Vishnu thứ hai tìm được ở Gò Tháp Mười được tạc bằng đá xám. Tượng bị gãy phần chống ngang từ đầu ra tay. Tượng có bốn tay. Tay phải trên cầm bánh xe Chakra, tay phải dưới nắm tay để ngữa lên gậy chống có mặt cắt hình tứ giác hơi cong. Tay trái trên gãy mất, tay trái dưới chống gậy trơn, đầu gậy tròn loại gậy quyền trượng có mặt cắt tròn to dần xuống dưới. Mũ tròn trơn, hơi thu lại phía trên đỉnh, có vết gãy của chống ngang ở phía trên tai. Mặc trang phục trơn dài (Dhoti) xuống dưới ống chân. Bệ hình chữ nhật dẹt, có chốt lớn. Tượng cao 0,965m, bao gồm cả bệ cao 1,48m, có niên đại vào thế kỷ VII đầu thế kỷ VIII (Lê Thị Liên 2006: 69-70).
Những tượng khác như tượng Vishnu Gò Thành (Tiền Giang), tượng Vishnu Phước Lưu (Tây Ninh) mập và thấp hơn (Lê Thị Liên 2006: 70-71) … Tượng loại này có niên đại khoảng thế kỷ VII.
- Tượng không có chống sau mũ
Tượng Vishnu Óc Eo (An Giang) trong tư thế đứng có 4 tay. Hai tay trên gãy, hai tay dưới tựa ngang hông. Tay phải ngữa cầm bông sen nở tròn, tay trái cầm ốc sankha. Tượng có mũ ống dẹt gắn phía trên đỉnh; trang phục dài (Dhoti) đến cổ chân tạo thành dải xòe hai bên, có dải buộc thả dài phía trước; thắt lưng trơn, phía trước có dải buông hình chữ U (Lê Thị Liên 2006: 67) . Một tượng kiểu này đang được lưu giữ ở Bảo tàng Lịch sử TP. Hồ Chí Minh (ký hiệu BTLS.5528) ( Hình 4a ). Tượng Vishnu Vọng Thê (An Giang) cũng có 4 tay, bị mất đầu, điểm khác biệt là tay phải của tượng này cầm quả cầu (Lê Thị Liên 2006: 68) . Một tượng khác dạng này đang lưu giữ ở Bảo tàng Lịch sử TP. Hồ Chí Minh (ký hiệu BTLS.5529). Hai tượng này có niên đại khoảng thế kỷ VIII. | 
| 
|
Ảnh 3. Hai tượng thần Vishnu ở Bảo tàng Lịch sử TP. Hồ Chí Minh (BTLS.5528 và BTLS.5593) |
Tượng Vishnu Kiên Hòa (Bến Tre) cũng có 4 tay, điểm khác biệt là tượng đội mũ có vành, có chớp nhọn, gần với phong cách Angkor Wat, có niên đại thế kỷ XII (Khun Samen 2008: 82; Marilia Albanese 2006: 35 ). Cùng phong cách còn có tượng đang lưu giữ ở Bảo tàng Lịch sử TP. Hồ Chí Minh mang ký hiệu BTLS.559.
2. Tiến trình phát triển của thần Vishnu
Những tượng thần Vishnu bằng đá tìm được trong văn hóa Óc Eo, bằng phương pháp loại hình học, có thể nhận ra quá trình biến đổi phong cách với những đặc điểm sau:
- Tượng Vishnu có niên đại thế kỷ VI : có bộ phận chống hình chữ U hay vòng cung sau mũ; mũ hình trụ tròn; tượng mặc trang phục ngắn (Sampot), thường có tua hình một đuôi cá phía trước.
- Tượng Vishnu có niên đại thế kỷ VII : có chống ngang sau mũ; mũ hình trụ tròn hay hình trụ tròn có cắt vát; tượng mặc trang phục ngắn (Sampot), thường có tua hình hai đuôi cá phía trước.
- Tượng Vishnu có niên đại từ thế kỷ VIII đến thế kỷ XII : Không có chống sau mũ; mũ ống dẹt gắn phía trên đỉnh hay mũ có vành, có chớp nhọn, gần với phong cách Angkor Wat ; tượng mặc trang phục dài (Dhoti), có dây lưng ngang hông, thường có phần buông thành chữ U phía trước.
Những tượng thần Vishnu bằng đá tìm được trong văn hóa Óc Eo thường tìm được trong các ngôi đền xây bằng gạch khá hoàn chỉnh. Nhiều khả năng những tượng thần Vishnu bằng đá được đặt trên những ngôi đền xây bằng gạch khá hoàn chỉnh này. Trong khi đó những ngôi đền xây bằng gạch đơn sơ, ở giữa có xây trụ giới hình chữ Vạn (Svastika) ( Hình 4 ) và bên dưới có hình tượng thần Vishnu, biểu tượng của thần, hóa thân của thần, vật cưỡi của thần…được chế tác trên những miếng vàng mỏng và vì là vàng, nên được đưa vào lòng đất để bảo vệ và cũng là để chứng tỏ sự hiện hiện của các vị thần trong đền Hindu mà có người lầm tưởng là mộ hỏa táng.
Do vậy, những tượng thần Vishnu, biểu tượng, hóa thân, vật cưỡi của thần… trên vàng và cả kiến trúc đền xây bằng gạch đơn sơ này, nhiều khả năng có niên đại sớm hơn những tượng thần Vishnu bằng đá và cả kiến trúc đền xây bằng gạch khá hoàn chỉnh, có thể có niên đại thế kỷ III -V.
Tóm lại, thần Vishnu trong văn hóa Óc Eo, trước tiên là thể hiện trên vàng (thần, biểu tượng, hóa thân, vật cưỡi của thần…) đặt vào các trụ giới hình chữ Vạn trong lòng đất, sau đó là thể hiện trên đá dựng trên các đền xây bằng gạch, kéo dài từ thế kỷ III cho đến thế kỷ XII.
Sự biến đổi của hình tượng Vishnu qua thời gian được thể hiện qua những hiện vật tiêu biểu thể hiện trong Hình 1.
Hình 1. Sự biến đổi của hình tượng Vishnu theo thời gian
Thần Vishnu
III-V 93.GT.M4.1
| Bình Thạnh
| Gò Tháp Mười
| Óc Eo
|
Gò Tháp Mười
| Gò Thành
| Kiên Hòa- Bến Tre
|
Chú thích
(1) https://vi.wikipedia.org/wiki/Ngh%E1%BB%87_thu%E1%BA%ADt_Ph%E1%BA%ADt_gi%C3%A1o
(2) http://vi.wikipedia.org/wiki/%C4%90%E1%BA%BF_qu%E1%BB%91c_Qu%C3%BD_S%C6%B0%C6%A1ng
(3) http://vi.wikipedia.org/wiki/Kanishka
(4) http://en.wikipedia.org/wiki/Kanishka
(5) http://vi.wikipedia.org/wiki/%C4%90%E1%BA%BF_qu%E1%BB%91c_Gupta .
TÀI LIỆU DẪN
HUỲNH THỊ ĐƯỢC 2005. Điêu khắc Chăm và Thần thoại Ấn Độ . Nxb. Đà Nẵng.
JOHN BOWKER (chủ biên) 2003. Các tôn giáo trên thế giới . Người dịch Nguyễn Đức Tư với sự cộng tác của Quỳnh Hải Hà. Nxb. Văn hóa Thông tin.
KHUN SAMEN 2008. The New Guide to the Natinal Museum Phnom Penh . Ariyathoar, Phnom Penh.
LÂM QUANG THÙY NHIÊN 2005. Tượng cổ bằng đá ở đồng bằng Nam Bộ . Luận án tiến sĩ lịch sử, chuyên ngành khảo cổ học. Viện Khoa học Xã hội vùng Nam Bộ.
LÊ HƯƠNG 1974. Sử liệu Phù Nam . Nguyên Nhiều.
LÊ THỊ LIÊN 2006. Nghệ thuật Phật giáo và Hindu giáo ở đồng bằng sông Cửu Long trước thế kỷ X . Nxb. Thế Giới.
LÊ XUÂN DIỆM, ĐÀO LINH CÔN, VÕ SĨ KHẢI 1995. Văn hóa Óc Eo – Những khám phá mới . Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội.
LOUIS MALLERET 1963. L’ Archéologie du delta du Mekong , Tome Quatrième: Le Cisbassac. École Francaise d’Extrême Orient, Paris.
MARILIA ALBANESE 2006. The Treasure of Angkor . White Star Publishers, Italy.
NGÔ THẾ PHONG 2012. Ký chú về hai pho tượng trong Phòng trưng bày Óc Eo – Phù Nam. Trong Thông báo khoa học Bảo tàng Lịch sử Quốc gia, số 2: 40-48.
PHẠM NHƯ HỒ 1996. Tháp Bình Thạnh (Tây Ninh) trong bối cảnh tháp cổ Nam Bộ. Khảo cổ học , số 4: 68-72.
ROY C.CRAVEN 2005. Mỹ Thuật Ấn Độ . Người dịch Nguyễn Tuấn, Huỳnh Ngọc Trảng. Nxb. Mỹ Thuật.
https://vi.wikipedia.org/wiki/Ngh%E1%BB%87_thu%E1%BA%ADt_Ph%E1%BA%ADt_gi%C3%A1o
http://vi.wikipedia.org/wiki/%C4%90%E1%BA%BF_qu%E1%BB%91c_Qu%C3%BD_S%C6%B0%C6%A1ng
http://vi.wikipedia.org/wiki/Kanishka
http://vi.wikipedia.org/wiki/%C4%90%E1%BA%BF_qu%E1%BB%91c_Gupta
VISHNU DEITY IN ÓC EO CULTURE
The paper presents the description and classification of Vishnu deities, the items inscribed on gold for them to ride on and stone statues in the Óc Eo culture.
In the early period (the third – fifth centuries), the Vishnu deities, symbols, incarnation or items for the deities to ride on, which were inscribed on gold, were placed in the heaven supporters in form of 卍 character underground . In the later period (the sixth – seventh centuries), the statues were placed on the brick temples. The stone Vishnu deities from the sixth century to the seventh century also include many variants.