Địa danh in/khắc trên gạch ở Thành Nhà Hồ đã từng được chúng tôi công bố với số lượng tăng dần qua các mùa điền dã, từ 21 địa danh năm 2005 (Đặng Hồng Sơn 2005 : 679-685) lên đến 54 địa danh năm 2008 (Đặng Hồng Sơn (2008: 53-69) và hơn 100 địa danh năm 2010 (Lê Thị Thu Trang, Nguyễn Văn Long, Đặng Hồng Sơn 2011: 493-496).
Chúng
cung cấp một số thông tin quý giá cho việc nghiên cứu quá trình chuẩn bị vật liệu xây thành. Chỉ một số viên gạch có chữ được tìm thấy trong các hố khai quật, còn phần lớn số chữ còn lại được sưu tầm trong các nhà dân xung quanh thành.
Chúng có một số đặc điểm chung về kỹ thuật:
- Chữ in/khắc khi gạch còn ướt.
- Chữ in trên gạch bằng dấu hình chữ nhật hoặc bầu dục, một số viên chữ được khắc bằng que, cá biệt có viên vừa có chữ in bằng dấu vừa có chữ khắc bằng que. Con dấu in chìm vào gạch với chữ nổi hoặc chìm theo chiều đọc từ trên xuống dưới.
- Chữ in ở hai vị trí: phần lớn ở cạnh ngang, số ít ở cạnh dọc, có viên chữ in ở cả hai cạnh.
- Chữ gồm hai nội dung: phần nhiều ghi tên địa danh, một số mang nội dung khác.
- Kích thước dấu: dài 3,5cm - 13cm, rộng 1,5cm - 3,9cm và in sâu trung bình 0,1cm - 0,3cm, đôi khi có dấu khắc chữ in ra thành chữ ngược
.
- Kích thước và loại hình gạch gồm hai loại: ghi chữ
Vĩnh Ninh trường
và ghi tên nhiều địa phương khác nhau.
Loại 1
: gạch
Vĩnh Ninh trường
; dài 40cm, rộng 20cm, dày 5cm - 6cm và nặng 5kg -6kg; dấu in chìm vào gạch với chữ nổi. Chất liệu đất sét mịn có lẫn ít hạt laterite nhỏ và đất sét trắng, đất được làm mịn nhưng làm không cẩn thận cho nên khi viên gạch vỡ ra thấy rõ các lỗ hổng bên trong thân gạch; trên 2 mặt viên gạch và đôi khi ở cả các cạnh viên gạch đều để lại dấu vết của kéo cắt đất; độ nung cao, cứng và đanh; thường có màu đỏ gạch hoặc hồng nhạt, đôi chỗ lẫn những vân đất sét trắng nhỏ. Loại gạch này mang đặc trưng chung của gạch
Vĩnh Ninh trường
về cả chất liệu, kích thước cũng như các kiểu dấu in chữ trên gạch từng phát hiện được ở nhiều di tích thời Trần khác như:
Báo Ân
(Vũ Quốc Hiền và nnk 2002),
Hậu Lâu
(Nguyễn Ngọc Chất 1999),
18 Hoàng Diệu
(Tống Trung Tín (chủ biên) 2006),
Thiên Trường
(Nguyễn Quốc Hội, Nguyễn Xuân Năm 1998),
Tam Đường
(Ngô Thế Phong, Chu Văn Vệ, Phạm Vũ Sơn, Vũ Đức Thơm 2004)...
Loại 2
: in các địa danh hành chính; dài 45cm - 50cm, rộng 23cm - 25cm, dày 7cm - 10cm; nặng 12-16kg; dấu in chìm vào gạch với chữ nổi hoặc chìm. Chất liệu đất sét mịn lẫn rất nhiều hạt laterite to nhỏ khác nhau; không để lại dấu vết của kéo cắt đất; độ nung cao, rất cứng, chắc và nặng; màu đỏ gạch hoặc xám.
Qua hơn 50 năm nghiên cứu, cho đến nay ở thành nhà Hồ đã sưu tầm được ít nhất trên 100 địa danh xã thôn
(Bảng
1
)
in/khắc trên gạch chỉ nơi cung cấp gạch để xây dựng kinh đô, trong đó có cả những địa danh được sưu tầm từ những năm 1970 (Chu Quang Trứ (1976 : 65-70).
Bảng
1
: Thống kê địa danh in/khắc trên gạch (
Nguồn
: Tác giả tổng hợp)
|
TT
|
Chữ Hán
|
Phiên âm
|
Dịch nghĩa
|
|
1.
|
阿凌土橋
|
A Lăng Thổ kiều
|
kiều
1
A Lăng Thổ
|
|
2.
|
安林社
|
An Lâm xã
|
xã An Lâm
|
|
3.
|
安孫下
|
An Tôn Hạ
|
(xã)
2
An Tôn Hạ
|
|
4.
|
安孫下社
|
An Tôn Hạ xã
|
xã An Tôn Hạ
|
|
5.
|
安孫上社
|
An Tôn Thượng xã
|
xã An Tôn Thượng
|
|
6.
|
安舍社
|
An Xá xã
|
xã An Xá
|
|
7.
|
婆陀社
|
Bà Đà xã
|
xã Bà Đà
|
|
8.
|
拜
綴
社
[
下
]
3
|
Bái Chuyết xã [hạ]
|
xã Bái Chuyết [hạ]
|
|
9.
|
拜社
|
Bái xã
|
xã Bái
|
|
10.
|
变場社
|
Biến Trường xã
|
xã Biến Trường
|
|
11.
|
俸田法
|
Bổng Điền pháp
|
Pháp
4
Bổng Điền
|
|
12.
|
竿竹社
|
Can Trúc xã
|
xã Can Trúc
|
|
13.
|
高舍社
|
Cao Xá xã
|
xã Cao Xá
|
|
14.
|
吒社
|
Cha xã
|
xã Cha
|
|
15.
|
真利社
|
Chân Lị xã
|
xã Chân Lị
|
|
16.
|
制社
|
Chế xã
|
xã Chế
|
|
17.
|
支耒
坊
|
Chi Lỗi phường
|
phường
5
Chi Lỗi
|
|
18.
|
支耒社
|
Chi Lỗi xã
|
xã Chi Lỗi
|
|
19.
|
古碑社
|
Cổ Bi xã
|
xã Cổ Bi
|
|
20.
|
古帶社
|
Cổ Đới xã
|
xã Cổ Đới
|
|
21.
|
古弘
6
社
|
Cổ Hoằng
xã
|
xã
(huyện) Cổ Hoằng
|
|
22.
|
古雷縣茶利
|
Cổ Lôi huyện Trà Lị
|
(xã) Trà Lị huyện Cổ Lôi
|
|
23.
|
古雷縣茶利社
|
Cổ Lôi huyện Trà Lị xã
|
xã Trà Lị huyện Cổ Lôi
|
|
24.
|
古雷縣陳舍社
|
Cổ Lôi huyện Trần Xá xã
|
xã Trần Xá huyện Cổ Lôi
|
|
25.
|
公場社
|
Công Trường xã
|
xã Công Trường
|
|
26.
|
巨隊社
|
Cự Đội xã
|
xã Cự Đội
|
|
27.
|
渠舍社
|
Cừ Xá xã
|
xã Cừ Xá
|
|
28.
|
綱社
|
Cương xã
|
xã Cương
|
|
29.
|
弋上社
|
Dặc Thượng xã
|
xã Dặc Thượng
|
|
30.
|
延石社
|
Diên Thạch xã
|
xã Diên Thạch
|
|
31.
|
多忙泥社
|
Đa Mang Nê xã
|
xã Đa Mang Nê
|
|
32.
|
多忙泥社杲坊
|
Đa Mang Nê xã Cảo phường
|
phường Cảo xã Đa Mang Nê
|
|
33.
|
忙泥社改坊
|
Mang Nê xã Cải phường
|
phường Cải xã Mang Nê
|
|
34.
|
㐌
孛上社
|
Đà Bột Thượng xã
|
xã Đà Bột Thượng
|
|
35.
|
小
㐌
孛上社
|
Tiểu Đà Bột Thượng xã
|
xã Tiểu Đà Bột Thượng
|
|
36.
|
大安貴
|
Đại An Quý
|
(xã) Đại An Quý
|
|
37.
|
大
舁
橋社
|
Đại Dư Kiều xã
|
xã Đại Dư Kiều
|
|
38.
|
大翁蘭社
|
Đại Ông
Lan
xã
|
xã Đại Ông
Lan
|
|
39.
|
小翁蘭社
|
Tiểu Ông Lan xã
|
xã Tiểu Ông Lan
|
|
40.
|
大前社
|
Đại Tiền xã
|
xã Đại Tiền
|
|
41.
|
陶舍
坊
|
Đào Xá phường
|
phường Đào Xá
|
|
42.
|
陶舍社
|
Đào Xá xã
|
xã Đào Xá
|
|
43.
|
田代坊
|
Điền Đại phường
|
phường Điền Đại
|
|
44.
|
条阮社
|
Điều Nguyễn xã
|
xã Điều Nguyễn
|
|
45.
|
亭庄
|
Đình trang
|
Trang
7
Đình
|
|
46.
|
隊社
|
Đội xã
|
xã Đội
|
|
47.
|
東山
揚
舍社
|
Đông Sơn Dương Xá xã
|
xã Dương Xá [huyện] Đông Sơn
|
|
48.
|
東山縣黎阮舍社
|
Đông Sơn huyện Lê Nguyễn Xá xã
|
xã Lê Nguyễn Xá huyện Đông Sơn
|
|
49.
|
東山縣
光員亭
|
Đông Sơn huyện Quang Viên đình
|
đình Quang Viên huyện Đông Sơn
|
|
50.
|
東山縣
運
[
舍社
]
|
Đông Sơn huyện Vận [Xá xã]
|
[xã] Vận [Xá] huyện Đông Sơn
|
|
51.
|
同
营杜
舍社
|
Đồng Doanh Đỗ Xá xã
|
xã Đỗ Xá [huyện] Đồng Doanh
|
|
52.
|
凍
社
|
Đống xã
|
xã Đống
|
|
53.
|
洞偈
社
|
Động Kệ xã
|
xã Động Kệ
|
|
54.
|
江西塼
|
Giang Tây chuyên
|
gạch (quân) Giang Tây
|
|
55.
|
江西軍
|
Giang Tây quân
|
(gạch) quân Giang Tây
|
|
56.
|
何社
|
Hà xã
|
xã Hà
|
|
57.
|
戶舍社
|
Hộ
Xá xã
|
xã
Hộ
Xá
|
|
58.
|
上戶社
|
Thượng Hộ xã
|
xã Thượng Hộ
|
|
59.
|
下戶社
|
Hạ Hộ xã
|
xã Hạ Hộ
|
|
60.
|
下郎
|
Hạ Lang
|
[xã] Hạ Lang
|
|
61.
|
贤社
|
Hiền xã
|
xã Hiền
|
|
62.
|
黃爭社
|
Hoàng Tranh xã
|
xã Hoàng Tranh
|
|
63.
|
黃爭[舍社]
|
Hoàng Tranh [Xá xã]
|
[xã] Hoàng Tranh [Xá]
|
|
64.
|
弘下
|
Hoằng Hạ
|
(xã) Hoằng Hạ
|
|
65.
|
?????????
8
|
Hương Nhị xã
|
xã Hương Nhị
|
|
66.
|
个稔唎社
|
Kẻ Nẫm Lời xã
|
xã Kẻ Nẫm Lời
|
|
67.
|
个那下
|
Kẻ Nưa Hạ
|
(xã] Kẻ Nưa Hạ
|
|
68.
|
个那社
|
Kẻ Nưa xã
|
xã Kẻ Nưa
|
|
69.
|
可凜社
|
Khả Lẫm xã
|
xã Khả Lẫm
|
|
70.
|
快州千冬社
|
Khoái châu Thiên Đông xã
|
xã Thiên Đông Khoái châu
|
|
71.
|
仙侶縣郭社鄧廊
|
Tiên Lữ huyện Quách xã Đặng làng
|
làng Đặng xã Quách huyện Tiên Lữ
|
|
72.
|
鄧
|
Đặng
|
(làng) Đặng
|
|
73.
|
百姓社
|
La Bách Tính xã
|
xã La Bách Tính
|
|
74.
|
[黑]社
|
La [Hắc] xã
|
xã La [Hắc]
|
|
75.
|
羅木引
|
La Mộc Dẫn
|
(xã) La Mộc Dẫn
|
|
76.
|
林川社
|
Lâm Xuyên xã
|
xã Lâm Xuyên
|
|
77.
|
黎舍社
|
Lê Xá xã
|
xã Lê Xá
|
|
78.
|
梁江橋社
|
Lương Giang Kiều xã
|
xã Kiều (huyện) Lương Giang
|
|
79.
|
梁江
忠
社
|
Lương Giang Trung xã
|
xã Trung (huyện] Lương Giang
|
|
80.
|
刘
舍
|
Lưu Xá
|
(
xã
)
Lưu Xá
|
|
81.
|
麻羅可蘭社
|
Ma La Khả Lan xã
|
xã Khả Lan (huyện) Ma La
|
|
82.
|
枚朝
|
Mai Triều
|
(xã) Mai Triều
|
|
83.
|
木州阮
舍
社鄭村
|
Mộc châu Nguyễn Xá xã Trịnh thôn
|
thôn Trịnh xã Nguyễn Xá Mộc châu
|
|
84.
|
每買下
|
Mỗi Mãi Hạ
|
(xã) Mỗi Mãi Hạ
|
|
85.
|
每買上伴社
|
Mỗi Mãi Thượng Bạn xã
|
xã Thượng Bạn (huyện) Mỗi Mãi
|
|
86.
|
美
春
范舍社
|
Mỹ
Xuân
Phạm Xá
xã
|
xã Phạm Xá (huyện) Mỹ Xuân
|
|
87.
|
午家社
|
Ngọ Gia xã
|
xã Ngọ Gia
|
|
88.
|
阮舍社
|
Nguyễn Xá xã
|
xã Nguyễn Xá
|
|
89.
|
牛欄巨渌社
|
Ngưu Lan Cự Lục xã
|
xã Cự Lục (huyện) Ngưu Lan
|
|
90.
|
如來社
|
Như Lai xã
|
xã Như Lai
|
|
91.
|
芮巨
諭
社
|
Nhuế Cự
Dụ
xã
|
xã Nhuế Cự
Dụ
|
|
92.
|
芮火
|
Nhuế Hỏa
|
(xã) Nhuế Hỏa
|
|
93.
|
烏
格社
|
Ô Cách xã
|
xã Ô Cách
|
|
94.
|
沃戶社
|
Ốc Hộ xã
|
xã Ốc Hộ
|
|
95.
|
潘舍廊
|
Phan Xá làng
|
Làng
9
Phan Xá
|
|
96.
|
分場社
|
Phân Trường xã
|
xã Phân Trường
|
|
97.
|
片社
|
Phiến xã
|
xã Phiến
|
|
98.
|
官舍坊
|
Quan Xá phường
|
phường Quan Xá
|
|
99.
|
光沐社
|
Quang Mộc xã
|
xã Quang Mộc
|
|
100.
|
光舍社
|
Quang
Xá xã
|
xã
Quang
Xá
|
|
101.
|
初社
|
Sơ xã
|
xã Sơ
|
|
102.
|
謝舍
|
Tạ Xá
|
(xã) Tạ Xá
|
|
103.
|
三帶州
|
Tam Đới châu
|
Châu
10
Tam Đới
|
|
104.
|
新橋社
|
Tân Kiều xã
|
xã Tân Kiều
|
|
105.
|
細江
|
Tế Giang
|
(huyện) Tế Giang
|
|
106.
|
寿祖社
口寿祖
|
cạnh dọc:
Thọ Tổ xã
cạnh ngang:
Khẩu Thọ Tổ
|
xã Thọ Tổ
Khẩu Thọ Tổ (?)
|
|
107.
|
土位社
|
Thổ Vị xã
|
xã Thổ Vị
|
|
108.
|
前
[
街
]
社
|
Tiền [Nhai] xã
|
xã Tiền [Nhai]
|
|
109.
|
小福林坊
|
Tiểu Phúc Lâm phường
|
phường Tiểu Phúc Lâm
|
|
110.
|
浨
江縣巴
[
鲁
]
村
|
Tống Giang huyện Ba [Thú] thôn
|
thôn Ba [Thú] huyện Tống Giang
|
|
111.
|
浨
江縣陳舍社
|
Tống Giang huyện Trần Xá xã
|
xã Trần Xá xã huyện Tống Giang
|
|
112.
|
趙社
|
Triệu xã
|
xã Triệu
|
|
113.
|
郑
舍社
|
Trịnh Xá xã
|
xã Trịnh Xá
|
|
114.
|
中坊
|
Trung phường
|
phường Trung
|
|
115.
|
中前橋
|
Trung Tiền Kiều
|
(xã) Trung Tiền Kiều
|
|
116.
|
長曳社
|
Trường Duệ xã
|
xã Trường Duệ
|
|
117.
|
長
堞坊
|
Trường Điệp phường
|
phường Trường Điệp
|
|
118.
|
祥安社洞白社入
|
Tường An xã Động Bạch xã nhập
|
xã Tường An và xã Động Bạch
|
|
119.
|
宣光江
[
龍
]
縣
|
Tuyên Quang Giang [Long] huyện
|
huyện Giang [Long] (trấn) Tuyên Quang
|
|
120.
|
宣光江渭龍州
|
Tuyên Quang giang Vị Long châu
|
châu Vị Long giang
11
Tuyên Quang
|
|
121.
|
宣光鎮
›
›
州
|
Tuyên Quang trấn
›
›
châu
|
châu
›
›
trấn Tuyên Quang
|
|
122.
|
宣光鎮...
12
|
Tuyên Quang trấn…
|
… trấn Tuyên Quang
|
|
123.
|
万貞
社
|
Vạn Trinh xã
|
xã Vạn Trinh
|
|
124.
|
文言社
|
Văn Ngôn xã
|
xã Văn Ngôn
|
|
125.
|
永寕場
|
Vĩnh Ninh trường
|
trường
13
Vĩnh Ninh
|
|
126.
|
永寕盃社
|
Vĩnh Ninh Bôi xã
|
xã Bôi (trường) Vĩnh Ninh
|
|
127.
|
永寕葉社
|
Vĩnh Ninh Diệp xã
|
xã Diệp (trường) Vĩnh Ninh
|
|
128.
|
永寕頭寨社
|
Vĩnh Ninh Đầu Trại xã
|
xã Đầu trại (trường) Vĩnh Ninh
|
|
129.
|
永寕和樂社
|
Vĩnh Ninh Hòa Lạc xã
|
xã Hòa Lạc (trường) Vĩnh Ninh
|
|
130.
|
永寕水岩社
|
Vĩnh Ninh Thuỷ Nham xã
|
xã Thủy Nham (trường) Vĩnh Ninh
|
|
131.
|
永寕陳舍社
|
Vĩnh Ninh Trần Xá xã
|
xã Trần Xá(trường) Vĩnh Ninh
|
|
132.
|
永寕安
社
|
Vĩnh Ninh Yên Định xã
|
xã Yên Định (trường) Vĩnh Ninh
|
|
133.
|
永寕
›
冬社
|
Vĩnh Ninh
›
Đông xã
|
xã
›
Đông (trường) Vĩnh Ninh
|
|
134.
|
王
廛
|
Vương Triền
|
(xã) Vương Triền
|
|
135.
|
旧市
|
Cựu Thị
|
(xã) Cựu Thị
|
|
136.
|
車
唎
|
Xa Lời
|
(xã) Xa Lời
|
|
137.
|
安
縣長浪社
|
Yên Định huyện Trường Lãng xã
|
xã Trường Lãng huyện Yên Định
|
|
138.
|
安定縣...
|
Yên Định huyện…
|
… huyện Yên Định
|
|
139.
|
安朗東
|
Yên Lãng Đông
|
(xã) Yên Lãng Đông
|
Trên đây mới chỉ là những viên mà chúng tôi may mắn phát hiện được, chắc chắn sẽ còn nhiều hơn số địa danh trên bởi số gạch loại này còn lưu giữ trong nhân dân khá nhiều, cần tiếp tục điều tra, thu thập và thống kê.
Sự tương đồng về loại hình, chất liệu và kích thước nhưng khác nhau ở các địa danh gợi cho chúng tôi những suy đoán ban đầu: gạch xây các công trình kiến trúc trong thành nhà Hồ có thể được tập hợp từ nhiều địa phương khác nhau xung quanh khu vực xây thành. Các địa phương này được/bị phân bổ một số lượng gạch nào đó theo một kích thước chung. Mỗi địa phương có thể thuê một lò riêng, hoặc giả có hai hoặc nhiều địa phương cùng thuê một lò chung để hoàn thành chỉ tiêu. Dù là lò gạch nào thì trước khi nung địa phương đó đều phải khắc tên địa phương mình lên gạch.
Việc tìm hiểu nội dung chữ in/khắc trên gạch xây thành nhà Hồ có một ý nghĩa không nhỏ trong việc nghiên cứu một kinh đô cổ của người Việt. Công việc này hiện còn nhiều khó khăn do số gạch trong thành đã lưu tán và được sử dụng với nhiều mục đích khác nhau của nhân dân trong vùng. Hơn nữa, việc tra cứu địa danh thời kỳ này của chúng tôi hiện còn những hạn chế nhất định.
Bước đầu qua tìm hiểu địa danh tại địa phương, điều tra các truyền thuyết lưu truyền trong nhân gian, căn cứ vào một số công trình nghiên cứu về tên làng xã tại Thanh Hoá:
Dư địa chí
(Nguyễn Trãi toàn tập tân biên:
383-591),
Đất nước Việt Nam qua các đời
(Đào Duy Anh 1997),
Tên làng xã Thanh Hoá
(Ban Nghiên cứu và Biên soạn lịch sử Thanh Hoá 2000)... chúng tôi đặc biệt tập trung vào các khu vực xung quanh huyện Vĩnh Lộc để tìm hiểu và xác định các địa danh ghi trên gạch này
(Bảng
2
).
Bảng
2
: Đối chiếu địa danh in/khắc trên gạch với hiện tại (
Nguồn
: Tác giả)
|
|
Chữ trên gạch
|
Địa danh thời Trần-Hồ
|
Vị trí hiện nay
|
|
1.
|
安孫下社
-
An Tôn Hạ xã (
xã An Tôn Hạ)
|
khu vực động An Tôn, huyện Vĩnh Ninh, trấn Thanh Đô
|
làng Yên Tôn Hạ, xã Vĩnh Yên, huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hoá
14
|
|
2.
|
安孫上社
-
An Tôn Thượng xã (
xã An Tôn Thượng)
|
khu vực động An Tôn, huyện Vĩnh Ninh, trấn Thanh Đô
|
làng Yên Tôn Thượng, xã Vĩnh Yên, huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hoá
|
|
3.
|
永寕場
-
Vĩnh Ninh trường
(trường Vĩnh Ninh)
|
thuộc huyện Vĩnh Ninh, trấn Thanh Đô
|
thuộc huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hoá
|
|
4.
|
永寕盃社
-
Vĩnh Ninh Bôi xã
xã Bôi (trường) Vĩnh Ninh
|
xã Bôi, huyện Vĩnh Ninh, trấn Thanh Đô
|
thuộc huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hoá
|
|
5.
|
永寕葉社
-
Vĩnh Ninh Diệp xã
xã Diệp (trường) Vĩnh Ninh
|
xã Diệp, huyện Vĩnh Ninh, trấn Thanh Đô
|
thuộc huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hoá
|
|
6.
|
永寕頭寨社
-
Vĩnh Ninh Đầu Trại xã (
xã Đầu trại (trường) Vĩnh Ninh)
|
xã Đầu Trại, huyện Vĩnh Ninh, trấn Thanh Đô
|
thuộc huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hoá
|
|
7.
|
永寕和樂社
-
Vĩnh Ninh Hòa Lạc xã
xã Hòa Lạc (trường) Vĩnh Ninh
|
xã Hòa Lạc, huyện Vĩnh Ninh, trấn Thanh Đô
|
thuộc huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hoá
|
|
8.
|
永寕水岩社
-
Vĩnh Ninh Thuỷ Nham xã (
xã Thủy Nham (trường) Vĩnh Ninh)
|
xã Thuỷ Nham, huyện Vĩnh Ninh, trấn Thanh Đô
|
thuộc huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hoá
|
|
9.
|
永寕陳舍社
-
Vĩnh Ninh Trần Xá xã
(xã Trần Xá (trường) Vĩnh Ninh)
|
xã Trần Xá, huyện Vĩnh Ninh, trấn Thanh Đô
|
thuộc huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hoá
|
|
10.
|
永寕安
社
-
Vĩnh Ninh Yên Định xã (
xã Yên Định (trường) Vĩnh Ninh)
|
xã Yên Định, huyện Vĩnh Ninh, trấn Thanh Đô
|
Thuộc huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hoá
|
|
11.
|
永寕
›
冬社
-
Vĩnh Ninh
›
Đông xã
(xã
›
Đông (trường) Vĩnh Ninh)
|
xã
›
Đông, huyện Vĩnh Ninh, trấn Thanh Đô
|
thuộc huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hoá
|
|
12.
|
安
縣長浪社
-
Yên Định huyện Trường Lãng xã (
xã Trường Lãng huyện Yên Định)
|
xã Trường Lãng, huyện Yên Định
, trấn Thanh Đô
|
thuộc huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hoá
15
|
|
13.
|
安定縣
...
-
Yên Định huyện…
(… huyện Yên Định)
|
huyện Yên Định
, trấn Thanh Đô
|
thuộc huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hoá
|
|
14.
|
梁江橋社
-
Lương Giang Kiều xã
(xã Kiều (huyện) Lương Giang)
|
xã Kiểu, huyện Lương Giang, trấn Thanh Đô
|
thuộc huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hoá
16
|
|
15.
|
梁江忠社
-
Lương Giang Trung xã
(xã Trung (huyện) Lương Giang)
|
xã Trung, huyện Lương Giang, trấn Thanh Đô
|
thuộc huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hoá
|
|
16.
|
古雷縣茶利社
-
Cổ Lôi huyện Trà Lị xã (
xã Trà Lị huyện Cổ Lôi)
|
xã Trà Lị, huyện Cổ Lôi, trấn Thanh Đô
|
khu vực huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hoá
17
|
|
17.
|
古雷縣陳舍社
-
Cổ Lôi huyện Trần Xá xã
(xã Trần Xá huyện Cổ Lôi)
|
xã Trần Xá, huyện Cổ Lôi, trấn Thanh Đô
|
khu vực huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hoá
|
|
18.
|
古弘
社
-
Cổ Hoằng
xã
(xã
(huyện) Cổ Hoằng)
|
thuộc huyện Cổ Hoằng, trấn Thanh Đô
|
thuộc huyện Hoằng Hoá, tỉnh Thanh Hoá
18
|
|
19.
|
弘下
-
Hoằng Hạ
(xã) Hoằng Hạ
|
xã Hoằng Hạ, huyện Cổ Hoằng, trấn Thanh Đô
|
thuộc huyện Hoằng Hoá, tỉnh Thanh Hoá
|
|
20.
|
東山揚舍社
-
Đông Sơn Dương Xá xã
(xã Dương Xá (huyện) Đông Sơn)
|
xã Dương Xá, huyện Đông Sơn, trấn Thanh Đô
|
thuộc huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hoá
19
|
|
21.
|
東山縣黎阮舍社
-
Đông Sơn huyện Lê Nguyễn Xá xã (
xã Lê Nguyễn Xá huyện Đông Sơn)
|
xã Lê Nguyễn Xá, huyện Đông Sơn, trấn Thanh Đô
|
thuộc huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hoá
|
|
22.
|
東山縣光員亭
-
Đông Sơn huyện Quang Viên đình
(đình Quang Viên huyện Đông Sơn)
|
trang Quang Viên, huyện Đông Sơn, trấn Thanh Đô
|
thuộc huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hoá
|
|
23.
|
東山縣運
[
舍社
]
-
Đông Sơn huyện Vận [Xá xã]
([xã] Vận [Xá] huyện Đông Sơn)
|
xã Vận [Xá], huyện Đông Sơn, trấn Thanh Đô
|
thuộc huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hoá
|
|
24.
|
个那下
-
Kẻ Nưa Hạ
(xã) Kẻ Nưa Hạ
|
xã Kẻ Nưa Hạ, huyện Nông Cống
, trấn Thanh Đô
|
thuộc huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hoá
|
|
25.
|
个那社
-
Kẻ Nưa xã
(xã Kẻ Nưa)
|
xã Kẻ Nưa, huyện Nông Cống
, trấn Thanh Đô
|
thuộc huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hoá
20
|
|
26.
|
浨江縣巴[鲁]村
-
Tống Giang huyện Ba [Thú] thôn
(thôn Ba [Thú] huyện Tống Giang)
|
thôn Ba [Thú], huyện Tống Giang, trấn Thanh Đô
|
khu vực giáp giới huyện Nga Sơn và Hà Trung, tỉnh Thanh Hoá
21
|
|
27.
|
浨江縣陳舍社
-
Tống Giang huyện Trần Xá xã
(xã Trần Xá xã huyện Tống Giang)
|
xã Trần Xá, huyện Tống Giang, trấn Thanh Đô
|
khu vực giáp giới huyện Nga Sơn và Hà Trung, tỉnh Thanh Hoá
|
|
28.
|
細江
-
Tế Giang
((huyện) Tế Giang)
|
[huyện] Tế Giang, trấn Thanh Đô
|
khu vực phía tây huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hoá
22
|
|
29.
|
快州千冬社
-
Khoái châu Thiên Đông xã
(xã Thiên Đông Khoái châu)
|
xã Thiên Đông, Khoái lộ thời Trần
|
thuộc 5 huyện Khoái Châu, Ân Thi, Kim Động, Tiên Lữ và Phù Cừ, tỉnh Hưng Yên
23
|
|
30.
|
仙侶縣郭社鄧廊
-
Tiên Lữ huyện Quách xã Đặng làng (
làng Đặng xã Quách huyện Tiên Lữ)
|
làng Đặng, xã Quách, huyện Tiên Lữ, Khoái lộ
|
thuộc huyện Tiên Lữ, tỉnh Hưng Yên
24
|
|
31.
|
木州阮舍社鄭村
-
Mộc châu Nguyễn Xá xã Trịnh thôn
(
thôn Trịnh xã Nguyễn Xá Mộc châu
)
|
thôn Trịnh, xã Nguyễn Xá, Mộc châu, phủ Thiên Hưng
|
thuộc huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La và vùng phía bắc sông Đà của tỉnh Hòa Bình
25
|
|
32.
|
三帶州
-
Tam Đới châu
châu Tam Đới
|
châu Tam Đới, lộ Tam Đới
|
khu vực ngã ba Việt Trì gồm các huyện: Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ; Lập Thạch, Vĩnh Tường, Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc
26
|
|
33.
|
宣光江渭龍州
-
Tuyên Quang giang Vị Long châu
(châu Vị Long giang Tuyên Quang)
|
châu Vị Long, giang (trấn) Tuyên Quang
|
thuộc huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang
27
|
|
34.
|
宣光江
[
龍
]
縣
-
Tuyên Quang Giang [Long] huyện
(huyện Giang [Long] (trấn) Tuyên Quang)
|
huyện Giang [Long], [trấn] Tuyên Quang
|
thuộc tỉnh Tuyên Quang
|
|
35.
|
宣光鎮
›
›
州
-
Tuyên Quang trấn
›
›
châu
(châu
›
›
trấn Tuyên Quang)
|
châu
›
›
trấn Tuyên Quang
|
thuộc tỉnh Tuyên Quang
|
Kết quả bước đầu còn rất khiêm tốn, mới xác nhận được 35/139 địa danh thuộc khu vực 8 huyện của tỉnh Thanh Hoá: Vĩnh Lộc (11 địa danh), Yên Định (2 địa danh), Thọ Xuân (2 địa danh), Thiệu Hóa (2 địa danh), Đông Sơn (4 địa danh), Hoằng Hoá (2 địa danh), Nông Cống (2 địa danh) và khu vực giáp giới hai huyện Nga Sơn và Hà Trung (2 địa danh). Trong đó đặc biệt là sự xuất hiện tần số cao các địa danh thuộc khu vực huyện Vĩnh Lộc ngày nay.
Ngoài khu vực thành nhà Hồ, một số viên gạch ghi các địa danh khác, như: 2 địa danh thuộc tỉnh Hưng Yên ngày nay; 1 địa danh thuộc khu vực huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La và vùng phía bắc sông Đà của tỉnh Hòa Bình; 1 địa danh thuộc khu vực xung quanh ngã ba Việt Trì thuộc hai tỉnh Phú Thọ và Vĩnh Phúc; 1 địa danh thuộc huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang và 2 địa danh khác trong phạm vi tỉnh Tuyên Quang
(Bảng 3).
Bảng 3
: Tổng hợp số liệu địa danh hiện đại đã xác định được (
Nguồn
: Tác giả)
|
TT
|
Tỉnh
|
Huyện
|
Số lượng
|
|
1.
|
Thanh Hóa
|
Vĩnh Lộc
|
11
|
|
Đông Sơn
|
4
|
|
Yên Định
|
2
|
|
Thọ Xuân
|
2
|
|
Thiệu Hóa
|
2
|
|
Hoằng Hoá
|
2
|
|
Nông Cống
|
2
|
|
Nga Sơn và Hà Trung
|
2
|
|
Thạch Thành
|
1
|
|
10.
|
Hưng Yên
|
Tiên Lữ
|
1
|
|
Khoái Châu
|
1
|
|
12.
|
Sơn La
|
Mộc Châu
|
1
|
|
13.
|
Phú Thọ và Vĩnh Phúc
|
chưa xác định
|
1
|
|
14.
|
Tuyên Quang
|
Chiêm Hóa
|
1
|
|
chưa xác định
|
2
|
Trong số 139 địa danh trên, số địa danh thuộc đơn vị xã chiếm số lượng nhiều nhất (71%), sau đó là các đơn vị phường, châu… Qua đó có thể thấy, xã là đơn vị chính, có vai trò lớn nhất trong việc sản xuất gạch cung cấp cho việc xây thành nhà Hồ. Đó là chưa kể số địa danh xã, phường mà chúng tôi chưa đọc hết hoặc đọc không đầy đủ (khoảng 50 địa danh khác). Dưới đây là bảng tổng hợp số lượng các loại hình đơn vị hành chính xuất hiện trên gạch
(Bảng 4).
Bảng 4
: Tổng hợp số liệu loại hình đơn vị hành chính (
Nguồn
: Tác giả)
|
TT
|
Loại hình đơn vị
|
Số lượng
|
TT
|
Loại hình đơn vị
|
Số lượng
|
|
1.
|
trấn
|
2
|
7.
|
thôn
|
2
|
|
2.
|
trường
|
1
|
8.
|
làng
|
2
|
|
3.
|
giang
|
1
|
9.
|
trang
|
1
|
|
4.
|
châu
|
6
|
10.
|
kiều
|
1
|
|
5.
|
xã
|
96
|
11.
|
pháp
|
1
|
|
6.
|
phường
|
9
|
12.
|
đình
|
1
|
Bản dập 1: Dấu chữ Hán in trên gạch bìa kiểu 2- Ghi địa danh sản xuất.
Hiện vật khảo sát tại Thành Nhà Hồ các năm 2004-2010
Bản dập 2: Dấu chữ Hán in trên gạch bìa kiểu 2 - Ghi địa danh sản xuất.
Hiện vật khảo sát tại thành nhà Hồ các năm 2004-2010
Bản dập 3: Dấu chữ Hán in trên gạch bìa kiểu 2 - Ghi địa danh sản xuất
Hiện vật khảo sát tại thành nhà Hồ các năm 2004-2010
Bản dập 4: Dấu chữ Hán in trên gạch bìa kiểu 2 - Ghi địa danh sản xuất
Hiện vật khảo sát tại thành nhà Hồ các năm 2004-2010
Bản dập 5: Dấu chữ Hán in trên gạch bìa kiểu 2 - Ghi địa danh sản xuất
Hiện vật khảo sát tại thành nhà Hồ các năm 2004-2010
Bản dập 6: Dấu chữ Hán in trên gạch bìa kiểu 2 - Ghi địa danh sản xuất
Hiện vật khảo sát tại thành nhà Hồ các năm 2004-2010
Bản dập 7: Dấu chữ Hán in trên gạch bìa kiểu 2 - Ghi địa danh sản xuất
Hiện vật khảo sát tại thành nhà Hồ các năm 2004-2010
Bản dập 9: Dấu chữ Hán in trên gạch bìa kiểu 2 - Ghi địa danh sản xuất
Hiện vật khảo sát tại thành nhà Hồ các năm 2004-2010
Bản dập 10: Dấu chữ Hán in trên gạch bìa kiểu 2 - Ghi địa danh sản xuất
Hiện vật khảo sát tại thành nhà Hồ các năm 2004-2010
Bản dập 11: Dấu chữ Hán-Nôm in trên gạch bìa kiểu 2 - Ghi địa danh sản xuất
Hiện vật khảo sát tại thành nhà Hồ các năm 2004-2010
Bản dập 12: Dấu chữ Hán in trên gạch bìa kiểu 2 - Ghi địa danh sản xuất
Hiện vật khảo sát tại thành nhà Hồ các năm 2004-2010
Bản dập 13: Dấu chữ Hán in trên gạch bìa kiểu 2 - Ghi địa danh sản xuất
Hiện vật khảo sát tại thành nhà Hồ các năm 2004-2010
Bản dập 14: Dấu chữ Hán in trên gạch bìa kiểu 2 - Ghi địa danh sản xuất
Hiện vật khảo sát tại thành nhà Hồ các năm 2004-2010
Bản dập 15 Bản dập 16
Bản dập 17: Dấu chữ Hán in trên gạch bìa kiểu 2 - Ghi địa danh sản xuất
Hiện vật khảo sát tại thành nhà Hồ các năm 2004-2010
Bản dập 18: Dấu chữ Hán in trên gạch bìa kiểu 2 - Ghi địa danh sản xuất
Hiện vật khảo sát tại thành nhà Hồ các năm 2004-2010
Bản dập 19: Dấu chữ Hán in trên gạch bìa kiểu 2 - Ghi địa danh sản xuất
Hiện vật khảo sát tại thành nhà Hồ các năm 2004-2010
Bản dập 20: Dấu chữ Hán in trên gạch bìa kiểu 2 - Ghi địa danh sản xuất
Hiện vật khảo sát tại thành nhà Hồ các năm 2004-2010
Bản dập 23: Dấu chữ Hán in trên gạch bìa kiểu 2 - Ghi địa danh sản xuất
Hiện vật khảo sát tại thành nhà Hồ các năm 2004-2010.
(Nguồn: các tác giả tổng hợp)
Nhận xét
1. Trong số các di tích kiến trúc thời Trần-Hồ, thành nhà Hồ là di tích có nhiều gạch in/khắc địa danh nhất, số lượng lớn, chủng loại phong phú. Nhóm gạch có chữ Hán - Nôm ở thành nhà Hồ có một ý nghĩa quan trọng trong nghiên cứu về nguồn gốc vật liệu xây dựng thành.
Từ những địa danh in trên gạch, chúng ta có thể thấy rằng gần như tuyệt đại bộ phận gạch dùng để xây thành là do nhân dân địa phương sản xuất đóng góp, nhóm này có niên đại chính xác khoảng 1397-1403. Việc các địa phương đóng góp gạch xây thành được phản ánh phần nào trong chính sử: năm 1401, “Hán Thương hạ lệnh cho các lộ nung gạch để dùng vào việc xây thành. Trước đây xây thành Tây Đô, tải nhiều đá tới xây, ít lâu sau lại bị sụp đổ, đến đây mới xây trên bằng gạch, dưới bằng đá” (
Đại Việt sử ký toàn thư:
tờ 40a).
Nhóm gạch thứ hai gồm gạch
Vĩnh Ninh trường
và các loại khác như:
Khoái châu Thiên Đông xã
;
Tiên Lữ huyện Quách xã Đặng làng
;
Mộc châu Nguyễn Xá xã Trịnh thôn
;
Tam Đới châu
và
Tuyên Quang giang Vị Long châu
. Những viên gạch loại này vốn là gạch các địa phương sản xuất và dùng để xây dựng ở các cung điện của Thăng Long, đến năm 1397 được đưa vào xây dựng thành nhà Hồ và Ly Cung
28
.
Đây chính là cách giải quyết và sử dụng vật liệu linh hoạt để hình thành kinh đô mới trong một thời gian rất ngắn. Tất nhiên, việc hoàn thiện thành Tây Đô trong thời gian ngắn như sử chép có thể là khoảng thời gian xây dựng gấp rút khi nguyên vật liệu đã được chuẩn bị sẵn sàng và chủ yếu chỉ xây dựng các công trình quan trọng như: tường thành đá, các cổng thành, một số công trình quan trọng trong nội thành... Còn việc hoàn thành công trình cơ bản là trong hơn 1 năm, từ mùa xuân năm 1397 đến ngày 15 tháng 3 năm 1398 khi Hồ Quý Ly chính thức rời đô từ Ly Cung vào thành mới và làm lễ khánh thành (Đại Việt sử ký toàn thư: tờ 32b), sau đó vẫn còn tiếp tục hoàn thiện hơn nữa cho đến năm 1403 như: năm 1399 trồng tre gai ở xung quanh thành (
Đại Việt sử ký toàn thư:
tờ 36a); năm 1402 đắp sửa đường thiên lý (
Đại Việt sử ký toàn thư:
40b); năm 1402 đắp đàn Giao ở Đốn Sơn (
Đại Việt sử ký toàn thư:
tờ 41b-42a); năm 1403 dựng Đông Thái Miếu và Tây Thái Miếu (
Đại Việt sử ký toàn thư:
tờ 43b)...
2. Những địa danh in trên gạch chính là nguồn tư liệu xác thực cho việc nghiên cứu vật liệu và các vùng sản xuất vật liệu kiến trúc thời Trần-Hồ. Những viên gạch
Vĩnh Ninh trường
xuất hiện ở một số di tích thuần Trần cho thấy, ít nhất đến đầu thời Trần thì loại gạch này mới phổ biến. Trước đấy chưa hề có gạch ghi địa danh sản xuất (nếu không tính đến
Giang Tây chuyên
được cho là gạch do đội quân Giang Tây, Trung Quốc sản xuất hồi thế kỷ IX). Sau đó, suốt thời Trần tại hầu hết các cung điện, thành quách, lăng tẩm, chùa tháp... đều có sự xuất hiện ít nhiều gạch
Vĩnh Ninh trường
. Đó là một trong những cơ sở quan trọng để triều Hồ yêu cầu các xã thuộc vùng này sản xuất gạch xây dựng kinh đô. Chính vì vậy bên cạnh phát hiện gạch
Vĩnh Ninh trường
còn thấy nhiều viên gạch ghi cụ thể đến đơn vị xã của trường Vĩnh Ninh, như xã
Bôi
, xã
Diệp
, xã
Hòa Lạc
, xã
Đầu Trại
, xã
Trần Xá
, xã
Thủy Nham
, xã
Yên Định
và nhiều đơn vị khác cũng thuộc địa danh Vĩnh Ninh thời Trần. Từ đó trường Vĩnh Ninh trở thành một trung tâm sản xuất gạch lớn nhất thời Hồ, mà hơn 100 địa danh của khu vực này xuất hiện trên gạch đã chứng minh điều đó. Đây rõ ràng là sự phát triển mạnh mẽ của trào lưu mà chúng tôi tạm gọi là
trào lưu Vĩnh Ninh trường
.
3. Sự nở rộ các con dấu ghi tên địa phương sản xuất gạch cho thấy bước phát triển mới của một phong cách kỹ thuật vốn có từ thời Đinh – tiền Lê.
Nhưng đến thời Trần, bên cạnh việc khắc niên đại triều vua trên gạch như:
Hưng Long thập nhị niên
ở chùa Báo Ân (Ngô Thế Bách (2005: ảnh 1-2, bản dập 1; Nguyễn Doãn Minh 2005: 344);
Hưng Long thập tam niên
ở tháp Phổ Minh (Nguyễn Quốc Hội, Nguyễn Xuân Năm (1998: 350-351; Hồ Thọ (1990: 138-139) … thì một số lượng lớn gạch ghi tên địa danh/khu lò sản xuất gạch, trong đó nổi tiếng nhất và xuất hiện ở nhiều công trình kiến trúc nhất phải kể đến gạch
Vĩnh Ninh trường
(như trên đã trình bày). Ngoài ra, xung quanh khu vực Vĩnh Ninh còn có nhiều địa phương khác sản xuất gạch mà cho đến nay mới chỉ tìm thấy các loại gạch trên tại khu vực thành nhà Hồ như
An Tôn thượng xã
;
Đông Sơn huyện, Lê Nguyễn Xá xã
và nhiều địa danh khác. Ngoài khu vực trường Vĩnh Ninh, thời Trần còn có một số lò gạch khác với các sản phẩm như gạch
Tuyên Quang giang Vị Long châu
và
Tuyên Quang trấn...
ở thành nhà Hồ; gạch
Đại Thông độ
và
Đại Thông độ ông
ở Thăng Long (Đỗ Văn Ninh (2008: 119). Việc ghi rõ địa danh làng xã sản xuất trên gạch, ngoài chức năng ban đầu để kiểm kê số lượng giao/nộp giữa chính quyền trung ương và địa phương, đã khởi tạo và phát triển một khuynh hướng mới trong sản xuất sản phẩm thủ công nghiệp:
sản phẩm gắn liền thương hiệu
. Về điều này, tài liệu khảo cổ học minh chứng bằng sự xuất hiện một số trường hợp tương tự trên đồ gốm men thời Trần như
Thiên Trường
và
Thiên Trường phủ chế
(Bùi Minh Trí, Trương Hữu Nghĩa, Nguyễn Văn Anh 2008: 439-440).
4. Những chữ Hán-Nôm trên gạch ở thành nhà Hồ có ý nghĩa trong việc nghiên cứu địa danh thời Trần-Hồ. Ví dụ địa danh
忙泥社改坊
nên đọc là
Mang Nê xã cải phường
(nghĩa là: xã Mang Nê đổi thành phường) hay đọc là
Mang Nê xã Cải phường
(nghĩa là: phường Cải xã Mang Nê). Nếu căn cứ theo địa danh
多忙泥社杲坊
đọc là
Đa Mang Nê xã Cảo phường
(nghĩa là: phường Cảo xã Đa Mang Nê) thì cách đọc
Mang Nê xã Cải phường
(nghĩa là: phường Cải xã Mang Nê) có nhiều khả năng hợp lý hơn. Nếu như thế, sẽ có một gợi ý rằng, thời Trần-Hồ
phường
có thể là đơn vị cấp dưới của
xã
! Điều này, chúng tôi cho rằng cần có thêm các cứ liệu khác mới có thể quả quyết được.
5. Chữ Hán-Nôm trên gạch ở thành nhà Hồ còn có ý nghĩa trong việc nghiên cứu ấn triện, thư pháp và văn tự thời Trần-Hồ. Một ví dụ như chữ THỔ (
土
) trong các con dấu này thường có thêm dấu chấm ở phía trên bên phải (
).
Chú thích
1. Theo Hoàng Văn Lâu, Cảnh Tuệ Linh (2002a):
Văn khắc Hán Nôm Việt Nam
, tập 2, quyển thượng, Viện Văn học Đại học Trung Chính và Viện Nghiên cứu Hán Nôm xuất bản, Gia Nghĩa-Hà Nội, tr. 129-142: trên tấm bia
Sùng Quang tự chung
(崇光寺鐘) có đơn vị hành chính
kiều
:
Hồng lộ Ma Lãng kiều Ỷ Lan xã
, có khả năng
kiều
là đơn vị hành chính cấp trên của xã.
TÀI LIỆU DẪN
ABOUT LOCATION NAMES ON BUILDING BRICKS
FROM THÀNH NHÀ HỒ (THANH HÓA)
Bricks with Hán - Nôm characters were found a lot in the area of Thành Nhà Hồ (Citadel of Hồ dynasty).They include two types based on materials and sizes: Vĩnh Ninh Trường (Vĩnh Ninh school) bricks and bricks from other locations.
So far, over 100 names of hamlets and communes have been found on the bricks indicating their production places that provided materials for the construction of the imperial city during 1397-1403. These locations are mainly some districts of Thanh Hóa province, including Vĩnh Lộc district where provided the most.
Vĩnh Ninh Trường (Vĩnh Ninh school) bricks and some other types, which had been supplied by some local areas for the construction of palaces in Thăng Long Imperial Citadel previously, were used to build Thành Nhà Hồ in 1397. Van Ninh school was actually a manufacturing centre of the Trần - Hồ period bricks and can be regarded as a famous brand for brick production at that time