Hội thảo khoa học “Các biện pháp bảo vệ lợi ích công cộng trong các cam kết quốc tế về đầu tư của Việt Nam”
Hội thảo là hoạt động khoa học của Đề tài cấp Bộ thực hiện trong 02 năm 2025-2026 do TS. Nguyễn Thu Hương làm chủ nhiệm, “Bảo vệ lợi ích công cộng trong các cam kết quốc tế về đầu tư của Việt Nam”. Hội thảo diễn ra ngày 28/7/2026 tại Hội trường tầng 2, trụ sở 27 Trần Xuân Soạn, Hai Bà Trưng, Hà Nội.
TS. Nguyễn Thu Hương, Chủ nhiệm đề tài, phát biểu mở đầu hội thảo
Tham dự
hội thảo có các thành viên đề tài và các nhà khoa học trong Viện. TS. Nguyễn
Thu Hương chủ trì hội thảo.
Phát
biểu mở đầu, TS. Nguyễn Thu Hương cho biết, Việt Nam là thành viên của nhiều
hiệp định thương mại tự do. Ngoài những lợi ích như thúc đẩy tăng trưởng kinh
tế, thu hút đầu tư thì Việt Nam cũng phải đối mặt với những thách thức như sự
cân bằng giữa lợi ích của nhà đầu tư nước ngoài với lợi ích của quốc gia. Do
đó, việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật để đảm bảo cơ sở pháp lý cũng như
phòng ngừa, hạn chế những rủi ro gặp phải khi xảy ra tranh chấp và bảo vệ các
lợi ích công cộng là cần thiết. Đây là mục tiêu mà Ban chủ nhiệm đề tài hướng
tới cho việc tổ chức hội thảo này.
Tham
luận đầu tiên trình bày tại hội thảo là của ThS. Trịnh Phương Thảo (Trường Đại
học Ngoại giao) có tiêu đề “Quy định về xác định lợi ích công cộng
trong các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới (FTAs) mà Việt Nam là thành
viên”. Bài trình bày phân tích khái niệm lợi ích công cộng trong
luật đầu tư quốc tế, nhấn mạnh quyền của quốc gia được ban hành các biện pháp
điều tiết nhằm bảo vệ các mục tiêu chính sách công thiết yếu như môi
trường, sức khỏe, lao động, văn hóa, đạo đức công cộng và an sinh xã hội.
Hội đồng trọng tài thường dành mức độ tôn trọng nhất định đối với quyết định
điều tiết của quốc gia, tuy nhiên quyền điều tiết này không phải là tuyệt đối.
Mặc dù
nguyên tắc này được công nhận rộng rãi, nhưng việc xác định thế nào là “điều
tiết vì lợi ích công cộng” vẫn là một vấn đề gây nhiều tranh luận. Tác giả đã
dẫn chứng một số vụ kiện điển hình đã từng xảy ra, trong đó có vụ tập đoàn dầu
khí Rockhopper của Anh kiện Chính phủ Ý xoay quanh
việc Ý từ chối cấp phép khai thác mỏ dầu ngoài khơi Ombrina Mare. Bài
viết cũng giới thiệu cách các hiệp định đầu tư và FTAs thế hệ mới mà
Việt Nam tham gia, như EVIPA (Hiệp định Bảo hộ Đầu tư Việt Nam – Liên minh
Châu Âu) và RCEP (Hiệp định Đối tác Kinh tế Toàn diện Khu vực), ghi
nhận và bảo đảm quyền điều tiết của Nhà nước vì lợi ích công cộng. Từ
đó, ThS. Trịnh Phương Thảo đề xuất ba tiêu chí để xác định lợi
ích công cộng, gồm tính phù hợp (suitability), tính cần
thiết (necessity) và tính tương đối (proportionality), nhằm bảo
đảm sự cân bằng giữa quyền điều tiết của Nhà nước và quyền, lợi ích hợp pháp
của nhà đầu tư.
Tiếp
theo, hội thảo lắng nghe phần trình bày của TS. Chu Thị Thanh An (Viện Nhà nước
và Pháp luật) với tham luận “Quy phạm pháp luật bảo vệ lợi ích công
cộng trong các cam kết quốc tế về đầu tư của Việt Nam”. Khác với
nhóm quy phạm xác định lợi ích công cộng, nhóm quy phạm bảo vệ lợi
ích công cộng trả lời cho câu hỏi: Những lợi ích công cộng đã
được điều ước thừa nhận được bảo vệ bằng cơ chế nào và cơ chế đó tạo ra hậu quả
pháp lý gì. Xét theo vị trí và hậu quả pháp lý của quá trình áp dụng cam kết
đầu tư, có thể phân thành 4 nhóm quy phạm chính:
- Bảo
vệ thông qua loại trừ, bảo lưu và giới hạn phạm vi áp dụng;
- Bảo
vệ thông qua định hướng giải thích và giới hạn nội tại của nghĩa vụ bảo
hộ;
- Bảo
vệ thông qua các điều khoản ngoại lệ;
- Bảo
vệ thông qua phân bổ nghĩa vụ và trách nhiệm.
Trong
đó, ba nhóm quy phạm đầu chủ yếu tác động đến nghĩa vụ của Nhà nước
đối với nhà đầu tư. Nhóm quy phạm thứ tư thì đi theo một hướng cải cách
khác là phân bổ nghĩa vụ bảo vệ lợi ích công cộng cho chính nhà đầu tư và đặt
nghĩa vụ tích cực hoặc nghĩa vụ không thoái lui lên quốc gia thành viên.
Tác giả
làm rõ cách các hiệp định như CPTPP, RCEP, ACIA và EVIPA vừa bảo đảm quyền điều
chỉnh chính sách của Nhà nước vì các mục tiêu công cộng như sức khỏe, môi
trường, an sinh xã hội và an ninh, vừa duy trì nghĩa vụ bảo hộ đầu tư trong
những giới hạn nhất định. Bài viết cũng phân tích nhiều án lệ quốc tế để minh
họa cách các cơ quan tài phán giải thích các tiêu chuẩn như đối xử công bằng và
thỏa đáng (FET), truất hữu gián tiếp và quyền lực quản lý của Nhà nước. Đồng
thời, TS. Chu Thị Thanh An chỉ ra xu hướng tăng cường trách nhiệm của
nhà đầu tư thông qua các yêu cầu về đầu tư hợp pháp, trách nhiệm xã hội, bảo vệ
môi trường và khả năng phản tố hoặc giảm mức bồi thường khi nhà đầu tư có hành
vi vi phạm. Trên cơ sở đó, báo cáo khẳng định việc kết hợp hài hòa các cơ
chế bảo vệ lợi ích công cộng với bảo hộ đầu tư là hướng tiếp cận cần thiết nhằm
bảo đảm cân bằng giữa thu hút đầu tư nước ngoài và quyền điều chỉnh chính sách
của Nhà nước trong bối cảnh hội nhập quốc tế.
Sau đó,
PGS.TS. Lê Mai Thanh (nguyên Tổng Biên tập Tạp chí Nhà nước và Pháp luật) trình
bày tham luận “Giải quyết tranh chấp đầu tư giữa nhà đầu tư nước
ngoài và nước tiếp nhận đầu tư (ISDS) theo điều khoản bảo hộ lợi ích công cộng”.
Đến lúc này, Chính phủ Việt Nam đã từng đối mặt với 13 vụ kiện tranh chấp giữa
nhà đầu tư nước ngoài với nước tiếp nhận đầu tư, tuy nhiên, chưa có vụ tranh
chấp nào viện dẫn điều khoản bảo vệ lợi ích công cộng. Vì thế, tác giả đã chia
sẻ thông tin về các vụ kiện đã xảy ra ở một số nước trong khu vực ASEAN và
Trung Quốc. Với Singapore, một trong những quốc gia quản lý và điều hành hàng
đầu thế giới, có 7 vụ kiện đã xảy ra thì không có vụ nào mà ISDS liên quan đến
nhà đầu tư kiện Nhà nước Singapore mà ngược lại, các nhà đầu tư Singapore kiện
các quốc gia khác, trong đó có Việt Nam.
Muốn
khởi động cơ chế ISDS thì cần có điều kiện là hành vi vi phạm từ phía Nhà nước
nói chung, có thể là trung ương hoặc địa phương và dựa trên các căn cứ khác
nhau như vi phạm các nguyên tắc cơ bản trong hiệp định đầu tư như FET hoặc liên
quan đến điều tiết. Nhưng trước đó, nhà đầu tư sẽ cần thực hiện một thủ tục
trước khi tiến hành cơ chế ISDS, đó là việc hòa giải, thương lượng trong khoảng
thời gian nhất định.
Để nhìn
nhận được đâu là tranh chấp đầu tư và ai sẽ có quyền khởi kiện thì cần xác định
được khoản đầu tư và nhà đầu tư. Hiện nay, không chỉ ở Việt Nam mà còn ở nhiều
nước khác, việc xác định nhà đầu tư với tư cách được khởi kiện một cách rõ ràng
cũng không hề dễ dàng. PGS.TS. Lê Mai Thanh nhận định, mặc dù đến lúc này chưa
có nhưng trong tương lai, chúng ta hoàn toàn có thể phải đối mặt với cơ chế
ISDS và cần phải viện dẫn điều khoản bảo vệ lợi ích công cộng này để hướng đến
mục đích cuối cùng là Nhà nước Việt Nam thắng kiện. Cho nên, việc xác định rõ
được khoản đầu tư và nhà đầu tư là rất quan trọng.
Hội
thảo tiếp tục lắng nghe TS. Nguyễn Tiến Đức giới thiệu tham luận “Hoàn
thiện quy định pháp luật về phạm vi bảo vệ lợi ích công cộng của Việt Nam theo
các cam kết quốc tế về đầu tư”. Bài viết khẳng định, pháp luật
trong nước cũng đã ghi nhận nhiều căn cứ bảo vệ lợi ích công cộng. Tuy nhiên,
những căn cứ này chưa được phát triển thành một phạm trù pháp lý rõ ràng và một
cơ chế đầy đủ để chứng minh tính chính đáng của biện pháp điều chỉnh.
Trên cơ
sở phân tích các điều khoản loại trừ trong CPTPP, EVIPA, RCEP và
ACIA, tác giả chỉ ra rằng một biện pháp điều chỉnh hợp pháp của Nhà
nước cần đáp ứng bốn điều kiện: Không phân biệt đối
xử, nhất quán trong thiết kế và áp dụng, mục tiêu công cộng chính đáng,
đồng thời bảo đảm tính phù hợp và tương xứng. Cả bốn hiệp định
đều quy định rằng, một số biện pháp điều chỉnh vì lợi ích công cộng không bị
coi là tước quyền sở hữu gián tiếp, tuy nhiên, phạm vi bảo vệ là không giống
nhau. CPTPP vẫn để ngỏ khả năng biện pháp bị coi là tước đoạt trong “trường hợp
đặc biệt”. EVIPA xem xét liệu tác động của biện pháp có vượt quá mức cần thiết
hay không.
Nghiên
cứu cũng chỉ ra những khoảng trống trong pháp luật Việt Nam, đặc biệt ở Luật
Đầu tư và Luật Đất đai với các quy định về thu hồi đất vì
mục tiêu công cộng chưa được thể hiện rõ ràng. Từ đó, TS. Nguyễn Tiến
Đức đề xuất sử dụng bốn tiêu chí để lựa chọn các giải pháp cải cách
phù hợp, đó là: (i) Việt Nam phải có khả năng tự mình thực hiện giải
pháp; (ii) Không gây ảnh hưởng bất hợp lý đến môi trường đầu tư; (iii) Xây dựng
chứng cứ; (iv) Giải pháp phải phù hợp với cấu trúc pháp luật hiện hành.
Trong đó, với tiêu chí thứ hai, việc cải cách phải bảo vệ quyền điều chỉnh của
Nhà nước, nhưng không được biến quyền này thành một lá chắn tuyệt đối. Pháp
luật vẫn phải bảo đảm mức độ ổn định và khả năng dự đoán cần thiết cho nhà đầu
tư.
Cuối
cùng, tác giả nhấn mạnh, năng lực phòng vệ của Nhà nước trong
các tranh chấp đầu tư quốc tế cần được chuẩn bị từ quá trình thiết kế chính
sách, thay vì chỉ ứng phó khi tranh chấp đã phát sinh. Thách thức quan
trọng hơn là việc cần hoàn thiện pháp luật trong nước để Nhà nước có thể sử
dụng và bảo vệ không gian đó một cách chính đáng, nhất quán và có căn cứ.
Tham
luận cuối tại hội thảo là của TS. Nguyễn Thị Anh Thơ (Trường Đại học Luật Hà
Nội) có chủ đề “Hoàn thiện các quy định pháp luật về các biện pháp
bảo vệ lợi ích công cộng thương thích với các cam kết về đầu tư trong FTAs thế
hệ mới mà Việt Nam là thành viên”.
TS. Nguyễn Thị Anh Thơ
(Trường Đại học Luật Hà Nội) trình bày tham luận tại Hội thảo
Bài
trình bày phân tích sự cần thiết phải hoàn thiện các quy định pháp luật về bảo
vệ lợi ích công cộng trong bối cảnh Việt Nam tham gia FTAs thế hệ mới, nhằm cân
bằng giữa bảo hộ nhà đầu tư và quyền điều tiết của Nhà nước. Tác giả làm rõ các
cơ chế bảo vệ lợi ích công cộng trong các FTA thế hệ mới như loại trừ
tước đoạt gián tiếp, giới hạn tiêu chuẩn đối xử công bằng và thỏa
đáng, cơ chế loại trừ (carve-out) và các ngoại lệ về môi trường, an
ninh. Đồng thời, chỉ ra những ưu điểm vượt trội trong các cơ chế
này so với các hiệp định đầu tư thế hệ cũ (trước năm 2010). Bài trình
bày cũng nhận diện các rủi ro pháp lý trong cơ chế ISDS, những
bất cập như hiện tượng “đóng băng chính sách”, bẫy
treaty-shopping (thủ thuật cấu trúc hoặc tái cơ cấu đầu tư qua nước thứ ba
nhằm hưởng ưu đãi thuế hoặc kiện quốc gia sở tại) thông qua việc viện dẫn, phân
tích các vụ kiện tranh chấp quốc tế.
Trên cơ
sở đó, TS. Nguyễn Thị Anh Thơ đề xuất hoàn thiện pháp luật trong
nước bằng việc làm rõ khái niệm lợi ích công cộng, luật hóa quy
trình Đánh giá tác động bảo hộ đầu tư (IPIA), đồng bộ các quy định về tình
trạng khẩn cấp. Đồng thời, bài viết kiến nghị cải cách nội dung đàm phán các
hiệp định đầu tư quốc tế theo hướng vô hiệu hóa bẫy
treaty-shopping, bắt buộc nghĩa vụ CSR/ESG (cam kết của doanh
nghiệp nhằm phát triển bền vững, bảo vệ môi trường, xã hội và quản trị minh bạch) của
nhà đầu tư, thiết lập cơ chế phản tố cho Chính phủ và xây dựng hệ
thống cảnh báo sớm nhằm bảo đảm hài hòa giữa thu hút đầu tư và bảo vệ lợi ích
công cộng.
Toàn cảnh hội thảo khoa học
Trao
đổi với TS. Nguyễn Thị Anh Thơ, TS. Nguyễn Tiến Đức đặt câu hỏi, khi xảy ra
xung đột giữa hai quy phạm là luật đầu tư quốc tế và luật quyền con người quốc
tế theo nghĩa rộng ở một chừng mực nhất định là lợi ích công cộng thì quy tắc
mà Hội đồng Trọng tài áp dụng là gì, sẽ ưu tiên áp dụng các quy định thuộc luật
đầu tư có tính chất chuyên ngành hay có sự cân nhắc những diễn giải trong quy
phạm luật khác dưới góc độ quyền con người quốc tế để bảo đảm hài hòa lợi ích
của các chủ thể.
TS. Anh
Thơ cho biết, thông thường thẩm quyền trọng tài phát sinh dựa trên thỏa thuận
trọng tài, còn trong tranh chấp quốc tế về đầu tư thì thẩm quyền trọng tài phát
sinh dựa trên các điều ước quốc tế về đầu tư. Trong quá trình giải quyết tranh
chấp đầu tư, Hội đồng Trọng tài xem xét các nguồn luật khác nhau để viện dẫn
căn cứ theo Điều 38 của Quy chế Tòa án Công lý Quốc tế (ICJ) quy định các nguồn
luật quốc tế mà Tòa án, Hội đồng Trọng tài phải áp dụng. Ngoài ra, Hội đồng
Trọng tài cũng có thể viện dẫn các điều ước quốc tế khác, ví dụ Điều ước quốc
tế giữa Chính phủ nhà đầu tư mang quốc tịch với Chính phủ tiếp nhận đầu tư hoặc
các hiệp định mà Chính phủ nước tiếp nhận đầu tư là thành viên. Trong những
trường hợp đó thì các nguồn luật này không phải là nguồn luật trực tiếp điều
chính mối quan hệ giữa nhà đầu tư với Chính phủ nước tiếp nhận đầu tư mà chủ
yếu để giải thích quy phạm trong các điều ước quốc tế.
TS. Anh
Thơ chia sẻ một vụ việc liên quan đến Chính phủ kiện nhà đầu tư với lập luận do
vi phạm quyền con người. Tuy nhiên, Hội đồng Trọng tài đã xác định việc bảo vệ
quyền con người đứng từ góc độ luật công với các điều ước quốc tế trong khi nhà
đầu tư không phải là thành viên. Vì thế, nhà đầu tư không có trách nhiệm bảo vệ
quyền con người trong trường hợp này.
Hội
thảo cũng đón nhận các ý kiến chia sẻ về các vụ kiện tranh chấp trên thực tế ở
nhiều quốc gia của các nhà khoa học khác.