Thích ứng với biến đổi khí hậu - nguyên tắc quan trọng nhằm bảo đảm quyền con người ở Việt Nam hiện nay
Tóm tắt: Thích ứng với biến đổi khí hậu là một quá trình qua đó con người giảm những tác động bất lợi của khí hậu và sử dụng những cơ hội thuận lợi mà khí hậu mang lại để phục vụ hoạt động sống và sản xuất của mình. Thích ứng với biến đổi khí hậu là một trong những nguyên tắc quan trọng và cần thiết để bảo đảm quyền con người, đặc biệt với nhóm đối tượng dễ bị tổn thương hiện nay. Hiện các giải pháp thích ứng với biến đổi khí hậu đã và đang được triển khai tại những vùng bị tác động mạnh mẽ ở nước ta và bước đầu cho kết quả khả quan, mở ra cơ hội và tiềm năng phát triển đất nước trong giai đoạn mới.

Từ khóa: Biến đổi khí hậu, thích ứng với biến đổi khí hậu, quyền con người.

Tôn trọng và bảo đảm quyền con người là mục tiêu luôn được chú trọng từ trong quá trình xây dựng Hiến pháp và các văn bản pháp luật đến quá trình giám sát thực thi trong thực tiễn ở nước ta. Bảo đảm quyền con người không nằm ngoài ý nghĩa phát triển con người - mục tiêu cao nhất của sự phát triển. Điều kiện tự nhiên khác biệt và sự chênh lệch về mặt kinh tế được cho là nguyên nhân nội tại dẫn đến việc các quyền của con người chưa được đảm bảo như nhau. 

Việt Nam hiện nằm trong số những quốc gia chịu tác động mạnh từ biến đổi khí hậu. Tác động của biến đổi khí hậu, như nước biển dâng và nguy cơ xâm nhập mặn, bão lũ, sạt lở, sa mạc hóa đất đai,… đang là những nguyên nhân trực tiếp dẫn đến tình trạng mất nơi ở, không ổn định sinh kế của một bộ phận người dân. Những tác động này nếu kéo dài sẽ dẫn đến nhiều hệ lụy khác, ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền con người trên mọi phương diện, từ kinh tế, xã hội đến môi trường…

Như vậy, rõ ràng là trong bối cảnh chịu tác động của biến đổi khí hậu, quyền của con người sẽ bị ảnh hưởng và khó có thể được đảm bảo. Do đó, thực thi các biện pháp nhằm giảm thiểu, cải thiện những tác động bất lợi từ biến đổi khí hậu có ý nghĩa rất quan trọng trong bảo đảm quyền con người. Những giải pháp này cần phải được xây dựng trên cơ sở những nguyên tắc nhất định, mà quan trọng nhất ở đây chính là Nguyên tắc thích ứng với biến đổi khí hậu.

Thích ứng với biến đổi khí hậu.

Về bản chất, thích ứng biểu thị một cách thức phát triển của sự vật, diễn ra trong quá trình phủ định liên tục của cái mới đối với cái cũ. Chính vì vậy, thích ứng chính là quá trình dẫn tới sự tiến hóa, tiến bộ của tự nhiên và xã hội. Hoạt động thích ứng giống như quy luật của sự phát triển. Nó không chỉ chi phối toàn bộ sinh vật trong tự nhiên mà còn chi phối cả xã hội thông qua quá trình sinh hoạt và sản xuất của con người. Bởi, theo C.Mác, con người vốn là sản phẩm của tự nhiên và giới tự nhiên chính là thân thể vô cơ của con người. Vậy nên, mỗi khi tự nhiên (với các yếu tố vật chất trong đó) vận động thì cũng đồng nghĩa với việc sinh vật và con người tiếp tục quá trình thích ứng của mình. Sau những lần như vậy bản thân con người cũng tiến lên một nấc thang mới của sự phát triển. Con người được hoàn thiện hơn cả về tri thức, hiểu biết và kỹ năng, trong đó đặc biệt là những tri thức về giới tự nhiên, hiểu biết về những quy luật phát triển. Chính vì lẽ đó, thích ứng trở thành hoạt động tất yếu của con người trước bất cứ tác động nào của ngoại cảnh, kể cả tác động của biến đổi khí hậu.

Thích ứng với biến đổi khí hậu là một quá trình qua đó con người giảm nhẹ những tác động bất lợi của khí hậu đến sức khoẻ và đời sống và sử dụng những cơ hội thuận lợi mà môi trường khí hậu mang lại [ Xem: 4, tr.4]. Thích ứng với biến đổi khí hậu là việc làm sống còn của các quốc gia trên thế giới trước diễn biến ngày càng phức tạp và sự tác động ngày càng dữ dội của hiện tượng này. Việt Nam cũng không là ngoại lệ. Nhận thức được tầm quan trọng và ý nghĩa của việc thích ứng với biến đối khí hậu trong công cuộc phát triển đất nước, Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa XI (2013) đã thông qua Nghị quyết chuyên đề số 24-NQ/TW về “Chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, tăng cường quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường”, trong đó nhấn mạnh: Biến đổi khí hậu là thách thức nghiêm trọng, phải tiến hành đồng thời thích ứng và giảm nhẹ, trong đó thích ứng là ưu tiên, chủ động phòng, tránh thiên tai là trọng tâm [Xem 8].

Nguyên tắc thích ứng với biến đổi khí hậu trong đảm bảo quyền con người.

Quyền con người là một giá trị luôn được đề cao và là thước đo trong phát triển con người. Đảm bảo quyền con người vì thế được xem là một tiêu chí đánh giá chất lượng của phát triển. Trong quản lý xã hội, trách nhiệm của nhà nước là phải bảo đảm quyền con người, quyền của mỗi công dân. Cùng với đó, quá trình bảo vệ, bảo đảm quyền con người còn được thực hiện bởi các tổ chức xã hội và toàn thể cộng đồng. Nói như thế không có nghĩa là mỗi cá nhân thờ ơ, trông chờ vào sự trợ giúp từ bên ngoài. 

Trước khi trở thành một giá trị đánh giá chất lượng của sự phát triển thì quyền con người vốn là những nhu cầu chính đáng, đời thường tự trong mỗi cá nhân khi tham gia các quan hệ sản xuất, quan hệ xã hội. Bởi vậy, không ai khác, chính mỗi cá nhân là một “người chủ” của chính mình, có vai trò bảo vệ những quyền chính đáng của mình một cách thiết thực nhất, kịp thời và bền vững nhất, trước khi có sự trợ giúp từ bên ngoài. Muốn vậy, tự trong mỗi cá nhân phải hình thành được tâm thế chủ động trước những hiện tượng thiên tai bất thường do tác động của biến đổi khí hậu đưa lại. Chính vì vậy, ý nghĩa lớn nhất của hoạt động thích ứng với biến đổi khí hậu đối với việc bảo đảm quyền con người ở nước ta nói riêng và đối với các quốc gia chịu ảnh hưởng nói chung chính là giúp thay đổi tâm thế, vị trí của con người từ bị động sang chủ động. Sở dĩ như vậy là vì:

Thứ nhất, các hiện tượng tự nhiên và sự vận động của vũ trụ vốn là kho tàng bí ẩn rộng lớn mà con người chưa khám phá hết được. Mặc dù ngày nay, với sự tiến bộ vượt bậc của khoa học công nghệ, việc dự báo, phỏng đoán về sự xuất hiện các hiện tượng tự nhiên là khá chính xác, song, khi chu kỳ cũng như tần suất của nhiều hiện tượng thiên tai bị thay đổi do khí hậu trái đất nóng lên thì công tác dự báo luôn gặp nhiều khó khăn. Tri thức kinh nghiệm mà con người có được qua lao động sản xuất trong quá khứ cũng không đủ để giúp con người chống đỡ lại sự tác động của biến đổi khí hậu, bởi biến đổi khí hậu đã làm thực tiễn thay đổi nhanh chóng. Trên thực tế, thiên tai hàng năm ngày càng dữ dội đã thực sự khiến những con người kiên cường, chịu khó bị vơi cạn ý chí và sức lực, còn quốc gia, cộng đồng cũng hao mòn sức người, sức của. Bên cạnh đó, việc con người còn thiếu những tri thức, kinh nghiệm về biến đổi khí hậu, cộng thêm những thiệt hại nhãn tiền mà biến đổi khí hậu đang gây ra,… tất cả những yếu tố đó khiến con người thực sự “nhỏ bé” và thụ động, bị động trước hiện tượng này. Tâm lý thụ động biểu hiện ra ở trạng thái hoang mang, lo sợ, mất phương hướng trong ứng phó, khiến con người bị động trong hành động thực tiễn. Những biểu hiện như tính ỷ lại, không biết nên làm gì, trông chờ vào hoạt động cứu trợ từ bên ngoài,… trong các tình huống bị ảnh hưởng thiên tai cho thấy tâm lý này.

Bản chất của hoạt động thích ứng là làm cho người dân hiểu và chấp nhận đương đầu với những thay đổi tự nhiên mà biến đổi khí hậu gây ra. Sau đó, chính họ sẽ là những chủ thể trực tiếp cải tạo, khai thác những lợi ích, khắc phục những khó khăn do biến đổi khí hậu gân ra sau khi có những hiểu biết, nhận thức đầy đủ về hiện tượng. Nói cách khác, hoạt động thích ứng với biến đổi khí hậu là hoạt động trong đó con người được trang bị tri thức và kinh nghiệm về biến đổi khí hậu để tồn tại và phát triển. Thực tiễn luôn vận động và biến đổi, ở một khía cạnh nhất định, sự tác động của biến đổi khí hậu đã làm cho thực tiễn trở nên sinh động hơn, buộc hoạt động thực tiễn của con người cũng phải bắt nhịp để thích nghi và tiến hóa. Cũng từ đây, nhận thức của con người về thế giới càng ngày càng phát triển phong phú và hoàn thiện.

Nhận thức của con người về thế giới ngày càng đầy đủ sẽ giúp con người tự tin và chủ động hơn trong lao động sản xuất. Trong các tình huống thiên tai, thay vì lo âu, sợ hãi, không biết phải làm gì thì con người tìm được các kỹ năng sinh tồn, biết được các biện pháp khắc phục và quan trọng nhất là có được tâm lý ổn định, vững vàng. Tâm lý và tri thức, kết hợp với nguồn hỗ trợ tài chính phù hợp từ chính quyền và các tổ chức liên quan là nền tảng cần thiết giúp con người, ở những vùng bị tổn thương bởi biến đổi khí hậu có thể nâng cao khả năng tự bảo vệ chính mình và thụ hưởng cuộc sống tốt đẹp. Bởi vậy, thích ứng với biến đổi khí hậu là cần thiết để bảo đảm quyền con người một cách bền vững trước tác động của biến đổi khí hậu.

Tuy nhiên, tính chất tác động của hiện tượng biến đổi khí hậu làm con người khó thoát ra khỏi thế bị động. Quá trình tích tụ khí nhà kính suốt giai đoạn phát triển công nghiệp, trong các “phân xưởng” khổng lồ của thế giới từ cuối thế kỷ XVIII cho đến nay khiến chúng ta đang phải gánh chịu nhiều thảm họa thiên tai do nhiệt độ trái đất nóng lên. Và, nếu hiện tại hoạt động sinh hoạt và sản xuất của con người không cắt giảm được lượng khí thải nhà kính cần thiết thì thế hệ con cháu chúng ta trong tương lai sẽ còn phải gánh chịu những thảm họa khôn lường gấp nhiều lần. Chúng ta đã không thể đoán định được những hiểm nguy được tạo ra từ trong quá khứ, vì thế chúng ta dễ bị rơi vào tâm thế bị động. Thế hệ tương lai của chúng ta cũng sẽ vấp phải vấn đề tương tự như vậy.

Thứ hai, khả năng dịch chuyển vùng tác động bất kể không gian và thời gian chính là vấn đề đáng lưu tâm nhất của hiện tượng biến đổi khí hậu. Vùng tác động của biến đổi khí hậu có thể dịch chuyển linh hoạt trong không gian quá khứ - hiện tại - tương lai. Nó cũng có thể dịch chuyển trong không gian, vượt ra ngoài phạm vi lãnh thổ quốc gia. Chính vì thế, biến đổi khí hậu không chỉ ảnh hưởng đến một quốc gia khu vực, mà còn ảnh hưởng trên phạm vi toàn cầu. Song, những quốc gia bị tác động sớm nhất sẽ là những quốc gia nằm trong vùng trũng thấp, giáp biển. Về mặt xã hội, đối tượng dễ bị tổn thương nhất sẽ là nhóm có tiềm lực kinh tế kém, nằm ở những vùng nhạy cảm sinh thái. Việt Nam không phải là quốc gia có lượng phát thải khí nhà kính lớn trên thế giới, song chúng ta đang nằm trong danh sách những quốc gia bị tác động nặng nề nhất là một ví dụ điển hình cho hiện trạng dịch chuyển vùng tác động của hiện tượng này. Chính vì thế, rơi vào thế bị động dẫn đến lúng túng trước biến đổi khí hậu là điều khó tránh khỏi, không ngoại trừ bất kỳ quốc gia nào. Có thể thấy, với biến đổi khí hậu, con người không thể trốn chạy hay dùng tư duy chinh phục để làm chủ tự nhiên, mà chỉ có thể chinh phục để hiểu và hài hòa với tự nhiên bằng cách thích ứng thật nhanh và hiệu quả với tình trạng này. Chính vì vậy, thích ứng với biến đổi khí hậu được coi là nguyên tắc trong phát triển kinh tế, xã hội và phát triển con người của Việt Nam.

Thứ ba, bảo vệ và phát huy các quyền cơ bản của con người luôn đến từ hai phía song hành với nhau. Một bên là sự bảo vệ đến từ các cơ quan công quyền, các tổ chức xã hội hoạt động vì mục tiêu phát triển con người và một bên là sự chủ động của mỗi cá nhân. 

Pháp luật của Nhà nước và hệ thống quyền lực mềm hình thành trong xã hội có vai trò bảo vệ mỗi cá nhân trong quá trình giao tiếp xã hội, đồng thời cũng ràng buộc mỗi cá nhân vào khuôn khổ pháp lý và trách nhiệm tôn trọng, bảo vệ quyền của các cá nhân khác trong cộng đồng của mình. Sự bảo vệ từ phía Nhà nước và sự trợ giúp từ các tổ chức xã hội là những tác động từ bên ngoài đối với bảo vệ quyền con người. Sự tác động từ bên ngoài này có ý nghĩa rất lớn, đặc biệt là đối với nhóm đối tượng yếu thế. Tuy nhiên, quan hệ xã hội giữa người với người vốn diễn ra dưới nhiều hình thức và biểu hiện phong phú, sinh động, có khi trực tiếp giữa các cá nhân, cũng có khi gián tiếp thông qua một lăng kính khác là giới tự nhiên. Lúc này, việc nhìn nhận và đánh giá sự việc sẽ phức tạp và khó khăn hơn. Cụ thể, đối với những tác động bất thường của hiện tượng biến đổi khí hậu đến quyền con người, thì người ta không thể lập một phiên tòa xét xử hay lên án giới tự nhiên được; song, người ta có thể truy cứu được nguyên nhân dẫn đến những biến đổi đó của tự nhiên do con người gây ra. Tuy nhiên, truy cứu đến cùng trách nhiệm thuộc về tổ chức, cá nhân nào là công việc vô cùng khó khăn, tốn nhiều thời gian, công sức. Chính vì thế, vấn đề bảo vệ quyền con người còn cần đến nhận thức và khả năng chủ động từ chính mỗi cá nhân trong bảo vệ những quyền chính đáng của mình. Trong hoàn cảnh của biến đổi khí hậu, mỗi cá nhân chủ động bảo vệ, bảo đảm quyền của mình là điều hết sức quan trọng. Muốn vậy, phải hoàn thiện, nâng cao kiến thức, kỹ năng thích ứng trước những thay đổi ngày càng bất thường, khắc nghiệt của thời tiết để điều tiết cuộc sống và duy trì, phát triển sản xuất.

Tình hình thích ứng với biến đổi khí hậu tại Việt Nam.

Đặc điểm địa lý tự nhiên và xã hội của nước ta dễ khiến con người rơi vào trạng thái bị động trước tác động của biến đổi khí hậu. Việt Nam là một quốc gia giáp biển, với đường bờ biển trải dài dọc lãnh thổ. Sản xuất nông nghiệp hiện vẫn chiếm tỷ trọng cao nhất, lao động chủ yếu hoạt động trong lĩnh vực nông, lâm, ngư. Năm 2017, Hội nghị lần thứ 23 của Liên Hợp Quốc về Biến đổi khí hậu (COP 23) diễn ra tại Đức đã thu hút sự tham gia của gần 200 quốc gia, trong đó có Việt Nam. Tại Hội nghị, một lần nữa, mức độ tác động nghiêm trọng của hiện tượng biến đổi khí hậu tại Việt Nam đã được báo cáo và cập nhật. Báo cáo của German Watch (một tổ chức phi lợi nhuận) nhấn mạnh, trong năm 2016, Việt Nam đứng ở vị trí thứ 5/10 quốc gia bị ảnh hưởng nghiêm trọng nhất và nhiều nhất bởi hiện tượng biến đổi khí hậu. Bão, lũ, xâm nhập mặn và hình thái thời tiết bất thường là những biểu hiện rõ rệt của việc biến đổi khí hậu tác động mạnh mẽ đến nước ta. Với hơn 40% dân số (trên 21 triệu người) hiện đang lao động sản xuất trong khu vực nông nghiệp [Xem 10] thì những ảnh hưởng bất lợi từ biến đổi khí hậu là rất lớn, mức độ và phạm vi tác động sâu rộng đến người dân. Trong điều kiện hiện tại của Việt Nam, đây là một thách thức lớn cho cả chính quyền và người dân trong quá trình phát triển. Bởi lẽ, thứ nhất, người nông dân Việt Nam với tư liệu sản xuất còn hạn chế, chủ yếu khai thác theo lối tận dụng từ tự nhiên. Thứ hai, quá trình sản xuất của họ còn phụ thuộc nhiều vào điều kiện thời tiết, khí hậu. Bên cạnh đó, tiềm lực tài chính và quy mô sản xuất nông nghiệp của nông dân trong nước còn yếu và nhỏ dẫn đến khả năng thích nghi bị hạn chế. Nền sản xuất phụ thuộc nhiều vào điều kiện tự nhiên nên đậm tính mùa vụ. Người dân chưa chủ động được các yếu tố đầu vào của quá tình sản xuất nên tất yếu ảnh hưởng đến cả đầu ra. Một quy trình sản xuất nông nghiệp như vậy khiến người nông dân dễ rơi vào nhóm những đối tượng bị tổn thương mỗi khi có biến động tự nhiên và xã hội. Trước sự tác động của biến đổi khí hậu, vùng đồng bằng thấp trũng như Đồng bằng sông Cửu Long có nguy cơ bị nhấn chìm hoàn toàn vào năm 2050. Hiện tại, biến đổi khí hậu đã bắt đầu gây ra những xáo trộn nhất định cho sinh hoạt và sản xuất của người dân do hiện tượng xâm nhập mặn và hạn hán. Sinh kế bấp bênh và khó khăn dẫn tới tình trạng hoang hóa và làn sóng di cư. Khoảng 10 năm trở lại đây đã có khoảng 1,7 triệu người di cư khỏi Đồng bằng sông Cửu Long. Tỷ lệ này cao gấp 2 lần trung bình của cả nước [Xem: 11].

Ý thức được điều này, Đảng, Nhà nước và Chính phủ đã đặc biệt quan tâm đến thích ứng với biến đổi khí hậu. Hoạt động thích ứng với biến đổi khí hậu bắt đầu được triển khai ở nước ta dưới hình thức tập trung thí điểm, thử nghiệm tại những địa phương bị tác động mạnh mẽ như khu vực Đồng bằng sông Cửu Long và bước đầu thu được những kết quả khả quan. Sau “Hội nghị của Chính phủ về chuyển đổi mô hình phát triển bền vững Đồng bằng sông Cửu Long thích ứng Biến đổi khí hậu” diễn ra tháng 9 - 2017 tại Cần Thơ, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết 120 về phát triển bền vững Đồng bằng sông Cửu Long thích ứng với biến đổi khí hậu. Nghị quyết này đánh dấu bước đi quan trọng, bắt đầu cho việc đẩy mạnh hành động thích ứng với biến đổi khí hậu tại khu vực này. Theo đó, hoạt động thích ứng tại Đồng bằng sông Cửu Long bắt đầu là việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi phù hợp với điều kiện biến đổi khí hậu. Điển hình, tại Vĩnh Long, việc chuyển đổi một số cây ăn quả trên đất trồng lúa năm 2017 đã đem lại hiệu quả kinh tế rõ rệt: Bưởi năm roi cho thu nhập gần 670 triệu đồng/hecta/năm, nhãn là 465 triệu đồng, xoài 446 triệu đồng và cam sành là 370 triệu đồng…[Xem: 12]. Hay tại Ấp Thành An, Hậu Giang đã có đến 70% diện tích trồng lúa đã và đang được chuyển đổi sang trồng dứa. Không những cây trồng mới sinh trưởng tốt trên đất nhiễm mặn, phèn mà lợi nhuận kinh tế mang lại còn cao gấp 4 lần [Xem: 13].

Việc chuyển đổi cây trồng vật nuôi phù hợp với điều kiện đất đai nhiễm mặn, nhiễm phèn và tình trạng khô hạn ở Đồng bằng sông Cửu Long là phù hợp.

Nó giúp người nông dân tại đây thu được nhiều lợi ích, cả về mặt nhận thức, kinh nghiệm đến hiệu quả kinh tế. Chính vì thế, quyền con người cũng được đảm bảo trước khi có những biện pháp bảo vệ từ chính quyền hay hỗ trợ từ phía các tổ chức xã hội. Tâm thế tự chủ trong sản xuất để vững chắc kinh tế cũng hình thành và là hành động thiết thực và cốt lõi của việc bảo đảm những quyền cơ bản của chính mình ở mỗi cá nhân. Việc làm và sinh kế ổn định là một trong những điều kiện để người nông dân không rơi vào cái bẫy “nhóm yếu thế” mà biến đổi khí hậu đưa lại. 

Thích ứng với biến đổi khí hậu là một quá trình đã và đang diễn ra ở Việt Nam. Những hành động và nhận thức trong ứng phó với biến đổi khí hậu theo hướng thích ứng với nó đã có những thành công nhất định, khẳng định tính đúng đắn của nguyên tắc thích ứng với biến đổi khí hậu trong đảm bảo quyền con người, do chỗ nó đã giúp con người có được một tâm lý tốt và một cơ sở kinh tế vững vàng cho bản thân và người thân của họ, cũng cho thấy tính hiệu quả của công tác thích ứng với biến đổi khí hậu trong sản xuất. Từ đây, có thể thấy, khi biến đổi khí hậu - một trong những vấn đề của an ninh phi truyền thống đã không chỉ gây mất an toàn cho con người, mà còn dẫn đến những bất ổn khác thì thích ứng là nguyên tắc quan trọng và càng là một nhiệm vụ cấp thiết. Chính vì thế, thích ứng với biến đổi khí hậu không chỉ được coi là một nguyên tắc, mà cần phải được hành động mạnh mẽ hơn nữa trên thực tiễn.

Tài liệu tham khảo

1.Lê Thị Thanh Hà (2013), Nhà nước Việt Nam với vấn đề bảo vệ môi trường, Nxb Chính trị - Hành chính.

2.Nguyễn Văn Phương (2009), “Quyền con người và vấn đề môi trường”, Quyền con người tiếp cận đa ngành và liên ngành khoa học xã hội, Nxb Khoa học xã hội.

3.Trần Thị Lệ Thu (chủ biên), Phan Thị Mai Hương, Nguyễn Thị Nhân Ái, Giang Thị Ngọc Hân, Vũ Thị Phương (2017), Tâm lý của cư dân vùng có nguy cơ thiên tai cao ở Việt Nam, Nxb Giáo dục Việt Nam.

4.Trần Thục, Lê Nguyên Tường, Nguyễn Văn Thắng, Trần Hồng Thái (2008), Thích ứng với biến đổi khí hậu và phát triển bền vững, Hội thảo “Tham vấn quốc gia về chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó với biến đổi khí hậu và nước biển dâng”, Tp. Hồ Chí Minh ngày 26/6/2008.

5.Lưu Ngọc Trịnh (2009), Tác động của biến đổi khí hậu toàn cầu phản ứng chính sách của một số nước và bài học cho Việt Nam, Nxb Khoa học xã hội.

6.Trung tâm Con người và Thiên nhiên (2009), Báo cáo Tìm kiếm nơi trú ẩn: ảnh hưởng của biến đổi khí hậu lên tình trạng di cư và mất chỗ ở của con người (biên dịch), bản pdf.

7.Viện Khoa học khí tượng thủy văn và môi trường (2011), Biến đổi khí hậu và tác động ở Việt Nam, Nxb Khoa học kỹ thuật.

8.Ban chấp hành Trung ương Đảng (Khóa XI, Hội nghị lần thứ 7, Nghị quyết số 24NQ/TW, ngày 03/6/2013), Chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, tăng cường quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường, Báo điện tử

9.Đảng Cộng sản Việt Nam (http://dangcongsan.vn/tu-lieu-van-kien/vankien-dang/nghi-quyet-hoi-nghi-bch-trunguong/khoa-xi/doc-5925201511184446.html).

10.Rebecca A.Tsosie, “Indigenous people and environmental justice:The impact of climate change”; Arizona State University (ASU)- Sandra Day O'Connor College of Law. (http://www.ssrn.com).

11.Số lượng và cơ cấu lao động từ 15 tuổi trở lên có việc làm chia theo khu vực kinh tế, số liệu năm 2017, Tổng cục thống kê, (https://www.gso.gov.vn/Default.aspx?tabid= 382&ItemID=18787).

12.Alex Chapman, Văn Phạm Đăng Trí, Climate change is triggering a migrant crisis in Vietnam,   9/1/2018, (https://theconversation.com/climate-change-istriggering-a-migrant-crisis-in-vietnam-88791).

13.Nam bộ sẽ chuyển đổi trên 120.000 ha cây trồng trên đất lúa, 19/03/2018,

(http://dantocmiennui.vn/chinh-sach/nam-bose-chuyen-doi-tren-120000-ha-cay-trongtren-dat-lua/172317.html).

14.Sản xuất thích ứng với biến đổi khí hậu tại Đồng bằng Sông Cửu Long, 22/11/2017, (http://vtv.vn/trong-nuoc/san-xuat-thich-ungvoi-bien-doi-khi-hau-tai-dbscl-20171122181116453.htm).

Phạm Thị Hường-Viện Triết học
Nguồn bài viết: Trang Thông tin điện tử Viện Triết học
Tin xem nhiều
Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tất cả: 1