Dân số Việt Nam giai đoạn 2009-2025: Những xu hướng nổi bật và một số vấn đề chính sách đặt ra trong bối cảnh mới
Trong giai đoạn 2009-2025, dân số Việt Nam đã có những biến đổi đáng kể về quy mô, cơ cấu và các quá trình nhân khẩu học, nổi bật là dân số vượt 100 triệu người, mức sinh giảm xuống dưới mức sinh thay thế, tốc độ già hóa dân số gia tăng và các dòng di cư ngày càng gắn với quá trình đô thị hóa, công nghiệp hóa. Những biến đổi này đang đặt ra yêu cầu mới đối với chính sách dân số, từ duy trì mức sinh hợp lý, phát huy lợi thế cơ cấu dân số vàng đến thích ứng với già hóa và sự phân bố dân cư ngày càng không đồng đều giữa các vùng.
Trên cơ sở các nguồn dữ liệu và báo cáo thống kê về dân số giai
đoạn 2009-2025 của Cục Thống kê (trước đây là Tổng cục Thống kê), bài viết tập
trung làm rõ những xu hướng và biến đổi nhân khẩu học trên các phương diện chủ
yếu, gồm quy mô và cơ cấu dân số, mức sinh, mức chết, tuổi thọ trung bình và di
cư. Từ đó, bài viết gợi mở một số vấn đề chính sách dân số trong bối cảnh mới.
Dân số tăng nhưng tốc độ tăng đang chậm lại, trong khi đô thị
hóa diễn ra nhanh
Quy mô dân số của Việt Nam tiếp tục tăng trong giai đoạn
2009-2025 nhưng tốc độ tăng có xu hướng chậm lại. Cụ thể là năm 2009, dân số
Việt Nam đạt 85.846.997 người (Tổng cục Thống kê, 2010). Sau một thập kỷ, con
số này tăng lên 96.208.984 người vào năm 2019 (Tổng cục Thống kê, 2019), tiếp
tục tăng lên 101.112.656 người vào năm 2024 (Tổng cục Thống kê, 2024) và ước
tính đạt 102.345.320 người vào năm 2025 (Cục Thống kê, 2026). Như vậy, trong
giai đoạn 2009 - 2025, dân số Việt Nam tăng khoảng 16,45 triệu người, tương
đương tăng 16,08%, tuy nhiên, tốc độ gia tăng dân số có xu hướng chậm lại. Một
trong những thay đổi rõ nhất trong phân bố dân cư là sự gia tăng dân số thành
thị. Năm 2009, dân số thành thị chỉ chiếm 29,6% dân số cả nước (Tổng cục Thống
kê, 2010). Tỷ lệ này tăng lên 34,4% năm 2019 (Tổng cục Thống kê, 2019), tiếp
tục tăng lên 38,2% năm 2024 (Tổng cục Thống kê, 2024) và đạt 38,6% vào năm 2025
(Cục Thống kê, 2026). Sự gia tăng này là kết quả của nhiều quá trình diễn ra
đồng thời, bao gồm sự dịch chuyển dân cư từ nông thôn vào đô thị, sự phát triển
dân số của các khu vực đô thị và đặc biệt là quá trình mở rộng khu vực đô thị
trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội. Như vậy, trong giai đoạn
2009-2025, tỷ trọng dân số thành thị tăng 9 điểm phần trăm. Trong khi đó, dân
số nông thôn giảm tương ứng từ 70,4% xuống 61,4% (Tổng cục Thống kê, 2010; Tổng
cục Thống kê, 2019; Tổng cục Thống kê, 2024; Cục Thống kê, 2026). Điều này cho
thấy thách thức dân số của Việt Nam ngày càng ít tập trung vào quy mô dân số mà
chuyển dần sang vấn đề phân bố dân cư và không gian cư trú. Sự tập trung dân cư
tại các đô thị và khu công nghiệp có thể làm gia tăng áp lực lên nhà ở, giao
thông, giáo dục, y tế, việc làm và các dịch vụ, hạ tầng xã hội.
Việt Nam vẫn còn cơ cấu dân số vàng nhưng đang tiến nhanh đến
già hóa
Một trong những thay đổi quan trọng nhất trong giai đoạn
2009-2024 là sự chuyển dịch cơ cấu tuổi. Việt Nam vẫn đang trong thời kỳ cơ cấu
dân số vàng, song lợi thế này đang dần thu hẹp. Năm 2024, nhóm dân số từ 15-64
tuổi chiếm 67,4% tổng dân số, giảm 0,6 điểm phần trăm so với năm 2019. Ngược
lại, nhóm từ 65 tuổi trở lên tăng lên 9,3%, cao hơn 1,6 điểm phần trăm so với
năm 2019. Nhóm dưới 15 tuổi giảm còn 23,3%, thấp hơn 1,0 điểm phần trăm so với
năm 2019 (Tổng cục Thống kê, 2024). Cách phân nhóm 15-64 tuổi và từ 65 tuổi trở
lên được sử dụng để đánh giá cơ cấu dân số theo nhóm tuổi phụ thuộc và xác định
thời kỳ cơ cấu dân số vàng. Tuy nhiên, khi phân tích già hóa dân số và quy mô
người cao tuổi, ngưỡng từ 60 tuổi trở lên được sử dụng phù hợp với quy định của
Luật Người cao tuổi. Do đó, từ góc độ phân tích già hóa dân số, nhóm từ 60 tuổi
trở lên được sử dụng thống nhất trong các phân tích tiếp theo.
Những thay đổi trên không chỉ phản ánh sự biến động về quy mô
của từng nhóm tuổi mà còn cho thấy một sự chuyển dịch có cấu trúc trong nhân
khẩu học Việt Nam. Sự thay đổi này có ý nghĩa lớn hơn những con số tuyệt đối.
Cụ thể là sự suy giảm tỷ trọng trẻ em đồng thời với sự gia tăng tỷ trọng người
cao tuổi cho thấy cơ cấu dân số đang chuyển dần từ một xã hội tương đối trẻ
sang một xã hội ngày càng già hóa, với chỉ số già hóa năm 2024 đạt 60,2%, tăng
11,4 điểm phần trăm chỉ trong vòng 5 năm và tăng 16,9 điểm phần trăm so với năm
2014 (Tổng cục Thống kê, 2024).
Quy mô người cao tuổi cũng có xu hướng tăng nhanh. Năm 2024,
Việt Nam có khoảng 14,2 triệu người từ 60 tuổi trở lên, tăng 2,8 triệu người so
với năm 2019 và tăng 4,7 triệu người so với năm 2014. Dự báo đến năm 2030, nhóm
dân số này sẽ đạt xấp xỉ 18 triệu người (Tổng cục Thống kê, 2024). Điều này tạo
ra một chuyển đổi quan trọng về bản chất của vấn đề dân số. Nếu trước đây Việt
Nam phải ưu tiên giải quyết các vấn đề liên quan đến dân số trẻ như giáo dục,
việc làm và mở rộng lực lượng lao động thì trong tương lai gần, chính sách sẽ
phải đồng thời giải quyết các vấn đề của xã hội già hóa như chăm sóc dài hạn,
lương hưu, bảo hiểm xã hội, y tế và tổ chức lại thị trường lao động. Nói cách
khác, Việt Nam đang đứng trước một thách thức kép, vừa phải tận dụng tiềm năng
từ cơ cấu dân số vàng, vừa phải giải quyết các thách thức liên quan đến già hóa
dân số và tiến tới là xã hội già hóa khi tỷ trọng dân số phụ thuộc, đặc biệt là
người cao tuổi ngày càng có xu hướng tăng lên đáng kể.
Chất lượng dân số được cải thiện nhưng khoảng cách đáng kể giữa
thành thị - nông thôn
Một biến đổi tích cực trong giai đoạn 2009-2024 là sự gia tăng
về trình độ học vấn và chuyên môn kỹ thuật của dân số. Năm 2009, chỉ 20,8% dân
số từ 15 tuổi trở lên có trình độ học vấn từ THPT trở lên (Tổng cục Thống kê,
2010). Đến năm 2019, tỷ lệ này tăng lên 36,5% (Tổng cục Thống kê, 2019) và năm
2024 đạt khoảng 40% (Tổng cục Thống kê, 2024). Như vậy, trong khoảng 15 năm, tỷ
lệ dân số có trình độ học vấn từ THPT trở lên gần như tăng gấp đôi. Tuy nhiên,
sự cải thiện này không diễn ra đồng đều. Năm 2019, tỷ lệ dân số từ 15 tuổi trở
lên có trình độ THPT trở lên ở thành thị đạt 54,0%, cao gấp đôi khu vực nông
thôn, nơi chỉ đạt 27,0% (Tổng cục Thống kê, 2019). Điều này cho thấy quá trình
nâng cao chất lượng dân số vẫn gắn chặt với không gian cư trú và điều kiện phát
triển kinh tế - xã hội.
Xét riêng lực lượng lao động, trình độ học vấn cũng có sự cải
thiện rõ rệt. Năm 2024, lực lượng lao động đã tốt nghiệp THPT trở lên chiếm
39,1%, tăng 13,5 điểm phần trăm so với năm 2009 (Tổng cục Thống kê, 2019). Tỷ
lệ này cao hơn tỷ lệ 36,5% của toàn bộ dân số từ 15 tuổi trở lên do hai chỉ
tiêu được tính trên hai nhóm đối tượng khác nhau. Cụ thể là tỷ lệ 36,5% được
tính trên toàn bộ dân số từ 15 tuổi trở lên, trong khi tỷ lệ 39,1% chỉ được
tính trên lực lượng lao động. Bên cạnh trình độ học vấn, tỷ lệ lực lượng lao
động đã qua đào tạo có bằng hoặc chứng chỉ từ sơ cấp trở lên đạt 23,1%, trong
đó, tỷ lệ ở khu vực thành thị đạt 39,3%, cao gấp 2,5 lần khu vực nông thôn
(15,6%). Như vậy, mặc dù trình độ học vấn và trình độ đào tạo của lực lượng lao
động đã được cải thiện, song sự chênh lệch đáng kể giữa thành thị và nông thôn
vẫn tồn tại (Tổng cục Thống kê, 2019).Những năm gần đây, trình độ đào tạo của
lực lượng lao động tiếp tục có sự cải thiện. Tính chung năm 2025, tỷ lệ lao
động qua đào tạo có bằng, chứng chỉ đạt 29,2%, tăng so với mức 23,1% năm 2019
(Cục Thống kê, 2026). Kết quả này cho thấy xu hướng tăng tỷ lệ lao động có
trình độ chuyên môn kỹ thuật và góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực của
nước ta, tuy nhiên, với trên 70% lao động chưa có bằng hoặc chứng chỉ cũng cho
thấy trình độ chuyên môn kỹ thuật của lực lượng lao động vẫn còn những hạn chế
nhất định. Điều này đặt ra yêu cầu tiếp tục đẩy mạnh đào tạo nghề, nâng cao kỹ
năng và tăng cường khả năng thích ứng của người lao động trước những biến đổi
của thị trường lao động.
Như vậy, Việt Nam đã đạt được tiến bộ rõ rệt về chất lượng dân
số nhưng sự gia tăng chất lượng chưa hoàn toàn đồng nghĩa với sự thu hẹp bất
bình đẳng. Khoảng cách về giáo dục và kỹ năng giữa thành thị và nông thôn vẫn
tồn tại và có thể tiếp tục tác động đến khả năng tiếp cận việc làm có chất
lượng, thu nhập và cơ hội dịch chuyển xã hội.
Chuyển dịch mức sinh và những biến đổi trong hành vi sinh đẻ ở
Việt Nam
Nếu cơ cấu tuổi phản ánh kết quả tích lũy của quá trình sinh -
chết - di cư trong nhiều thập kỷ thì mức sinh phản ánh trực tiếp hơn những thay
đổi trong hành vi sinh đẻ của các gia đình. Từ năm 2009 đến năm 2019, tổng tỷ
suất sinh (TFR) của Việt Nam tương đối ổn định quanh mức sinh thay thế, lần
lượt đạt 2,03 và 2,09 con/phụ nữ (Tổng cục Thống kê, 2011; Tổng cục Thống kê,
2019). Tuy nhiên, mức sinh giảm xuống dưới mức thay thế trong những năm gần
đây, đạt 1,91 con/phụ nữ năm 2024 và 1,93 con/phụ nữ năm 2025 (Tổng cục Thống
kê, 2024; Cục Thống kê, 2026). Xu hướng này cho thấy Việt Nam đang bước vào
giai đoạn mức sinh thấp với những hệ quả đáng chú ý đối với quy mô và cơ cấu
dân số trong dài hạn.
Sự khác biệt về mức sinh giữa các nhóm xã hội cũng khá rõ. Năm
2019, TFR ở thành thị chỉ đạt 1,83 con/phụ nữ, thấp hơn mức 2,26 con/phụ nữ ở
nông thôn. Phụ nữ có trình độ đại học có mức sinh 1,85 con/phụ nữ, thấp hơn
đáng kể so với mức 2,59 con/phụ nữ ở nhóm phụ nữ chưa bao giờ đi học (Tổng cục
Thống kê, 2019).
Những khác biệt về mức sinh cho thấy đây không chỉ là kết quả
của các yếu tố kinh tế - xã hội như đô thị hóa, giáo dục, việc làm, chi phí
nuôi dạy con, sự thay đổi các giá trị gia đình và vai trò giới mà còn chịu ảnh
hưởng của chính sách dân số. Trong một thời gian dài, chính sách dân số của
Việt Nam tập trung vào duy trì mức sinh thay thế và ổn định quy mô dân số ở mức
hợp lý, với định hướng “mỗi cặp vợ chồng trong độ tuổi sinh đẻ chỉ có một hoặc
hai con” (Thủ tướng Chính phủ, 2007). Định hướng này đã góp phần thúc đẩy quá
trình chuyển đổi từ mức sinh cao xuống mức sinh thay thế. Mặc dù Việt Nam đã
đạt được những thành tựu quan trọng trong việc duy trì mức sinh quanh vùng mức
sinh thay thế trong một thời gian dài, tuy nhiên, tình trạng mức sinh dưới mức
sinh thay thế ngày càng xuất hiện rõ ở nhiều khu vực và vùng miền. Trước thực
tế đó, chính sách dân số từng bước chuyển từ định hướng kiểm soát mức sinh
chung sang điều chỉnh mức sinh phù hợp với đặc điểm của từng vùng và nhóm đối
tượng. Cụ thể là Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định phê duyệt “Chương
trình Điều chỉnh mức sinh phù hợp các vùng, đối tượng đến năm 2030”, với mục
tiêu “Duy trì vững chắc mức sinh thay thế trên toàn quốc, phấn đấu tăng mức
sinh ở những địa phương đang có mức sinh thấp, giảm mức sinh ở những địa phương
đang có mức sinh cao góp phần thực hiện thành công Chiến lược Dân số Việt Nam
đến 2030, bảo đảm phát triển nhanh, bền vững đất nước” (Thủ tướng Chính phủ,
2020).
Trong bối cảnh mức sinh của Việt Nam đã giảm xuống dưới mức sinh
thay thế, định hướng chính sách tiếp tục có sự chuyển dịch từ kiểm soát mức
sinh sang duy trì mức sinh thay thế và khuyến khích sinh con tại những khu vực
có mức sinh thấp. Theo Cục Thống kê (2026), tổng tỷ suất sinh của Việt Nam năm
2025 đạt 1,93 con/phụ nữ, tăng 0,02 con so với mức 1,91 con/phụ nữ năm 2024.
Tuy nhiên, mức sinh này vẫn thấp hơn mức sinh thay thế. Để bảo đảm mức sinh
thay thế trên toàn quốc, ngày 13/02/2026, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết
định phê duyệt “Chương trình Bảo đảm mức sinh thay thế trên toàn quốc đến năm 2030”,
với mục tiêu “tăng tỷ lệ sinh để đạt và duy trì mức sinh thay thế trên toàn
quốc đáp ứng yêu cầu về nguồn nhân lực, góp phần thực hiện thành công Chiến
lược Dân số Việt Nam đến năm 2030, bảo đảm phát triển nhanh, bền vững đất nước”
(Thủ tướng Chính phủ, 2026). Chương trình này hướng tới việc tạo dựng môi
trường thuận lợi hơn cho các cá nhân và cặp vợ chồng hiện thực hóa việc sinh
con thông qua việc vận động, khuyến khích và hỗ trợ sinh con, nuôi con, đồng
thời rà soát và hoàn thiện các chính sách liên quan. Theo đó, các chính sách hỗ
trợ có thể góp phần giảm bớt những khó khăn và rào cản mà các cá nhân, cặp vợ
chồng gặp phải trong quá trình sinh và nuôi con, đặc biệt tại các tỉnh, thành
phố và địa phương có mức sinh thấp.
Nhìn chung, có thể thấy Việt Nam đã từng bước ban hành và điều
chỉnh các chính sách dân số theo hướng duy trì và đưa mức sinh trở lại mức sinh
thay thế. Tuy nhiên, vấn đề đặt ra là cần nhận diện rõ những rào cản đang chi
phối ý định và hành vi sinh đẻ của cá nhân, cặp vợ chồng và các nhóm xã hội
khác nhau. Trên cơ sở đó, chính sách dân số cần tiếp tục được điều chỉnh theo
hướng phù hợp hơn với sự đa dạng về điều kiện kinh tế - xã hội, nhu cầu và lựa
chọn sinh đẻ của người dân.
Mất cân bằng giới tính khi sinh: xu hướng và những thách thức đặt
ra
Trong khi mức sinh giảm đang trở thành vấn đề mới nổi thì mất
cân bằng giới tính khi sinh tiếp tục là một vấn đề kéo dài trong gần 2 thập kỷ
qua. Năm 2025, tỷ số giới tính khi sinh đạt 110 bé trai/100 bé gái (Cục Thống
kê, 2026), còn năm 2024, tỷ số giới tính khi sinh đạt 111,4 bé trai/100 bé gái
(Tổng cục Thống kê, 2024), cao hơn đáng kể so với mức cân bằng sinh học tự
nhiên khoảng 105 bé trai/100 bé gái (Cục Thống kê, 2026). Năm 2019, tỷ số này
là 111,5 bé trai/100 bé gái, mặc dù đã giảm so với 114,8 của năm 2018, nhưng
vẫn ở mức cao (Tổng cục Thống kê, 2019) và qua 10 năm, tình trạng này vẫn không
có sự thay đổi đáng kể khi năm 2009 là 111 bé trai/100 bé gái (Tổng cục Thống
kê, 2010). Như vậy, có thể thấy, trong dài hạn, tỷ số giới tính khi sinh ở Việt
Nam vẫn duy trì ở mức cao và chưa trở về ngưỡng cân bằng sinh học.
Điều đáng chú ý là tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh có
tính chất vùng miền rất rõ, trong đó, Đồng bằng sông Hồng là vùng có tỷ số giới
tính khi sinh cao nhất, đạt 115,5 bé trai/100 bé gái vào năm 2019 , trong khi
Đồng bằng sông Cửu Long có mức thấp nhất, 106,9 bé trai/100 bé gái (Tổng cục
Thống kê, 2019). Đồng bằng sông Hồng cũng là vùng có tình trạng thiếu hụt nữ
giới khi sinh cao nhất của cả nước (Tổng cục Thống kê, 2020).
Nếu mức sinh thấp tạo ra những tác động chủ yếu trong dài hạn
thông qua sự thu hẹp quy mô các thế hệ trẻ thì mất cân bằng giới tính khi sinh
có thể tạo ra những hệ quả khác đối với cấu trúc hôn nhân, thị trường hôn nhân
và quan hệ giới. Cụ thể là tình trạng dư thừa nam thanh niên đối với hệ thống
hôn nhân, do đó, nhiều nam giới sẽ buộc phải trì hoãn hôn nhân, thậm chí từ bỏ
hôn nhân do không tìm được người kết hôn; nguy cơ gia tăng tình trạng bạo lực
trên cơ sở giới; ảnh hưởng đến chất lượng nguồn nhân lực,…(Tổng cục Thống kê,
2020). Do đó, hai quá trình này cần được xem xét đồng thời trong hoạch định
chính sách dân số.
Mức chết giảm và tuổi thọ tăng: thành tựu nhân khẩu học nổi bật
Trái với xu hướng giảm mức sinh và tăng tuổi thọ, các chỉ báo về
mức chết lại cho thấy những cải thiện đáng kể. Tỷ suất chết trẻ em dưới một
tuổi (IMR) giảm từ 16,0 trẻ tử vong/1.000 trẻ sinh sống năm 2009 xuống 14,0 năm
2019 và tiếp tục giảm còn 11,3 vào năm 2024 (Tổng cục Thống kê, 2011; Tổng cục
Thống kê, 2019; Tổng cục Thống kê, 2024). Như vậy, trong vòng 15 năm, IMR giảm
khoảng 29%.
Khoảng cách thành thị - nông thôn cũng thu hẹp đáng kể. Năm
2009, IMR ở nông thôn là 18,7 trẻ tử vong/1.000 trẻ sinh sống, cao gần gấp đôi
mức 9,4 của thành thị (Tổng cục Thống kê, 2011). Đến năm 2024, các tỷ lệ tương
ứng là 12,1 và 7,0 (Tổng cục Thống kê, 2024). Mặc dù khoảng cách giữa thành thị
và nông thôn vẫn còn tồn tại, song mức chênh lệch đã giảm đáng kể.
Tuổi thọ trung bình cũng tăng liên tục trong giai đoạn
2009-2025. Năm 2009, tuổi thọ trung bình của người Việt Nam là 72,8 tuổi (Tổng
cục Thống kê, 2011), đến năm 2019 đạt 73,6 tuổi (Tổng cục Thống kê, 2019) và
đạt 74,7 tuổi vào năm 2025 (Cục Thống kê, 2026). Như vậy, từ năm 2009 đến năm
2025, tuổi thọ trung bình tăng từ 72,8 lên 74,7 tuổi, cho thấy sự cải thiện lâu
dài về điều kiện sống và sức khỏe của dân số. Tuy nhiên, tuổi thọ trung bình
vẫn có sự khác biệt đáng kể giữa nam và nữ. Theo Cục Thống kê (2026), năm 2025,
tuổi thọ trung bình của nam giới là 72,3 tuổi và của nữ giới là 77,3 tuổi.
Điều đáng chú ý là chính những thành tựu về mức chết giảm, tuổi
thọ tăng này lại góp phần làm gia tăng tốc độ già hóa. Nói cách khác, giảm tử
vong và tăng tuổi thọ vừa là thành tựu phát triển, vừa tạo ra yêu cầu thích ứng
mới đối với xã hội. Đây là một đặc điểm quan trọng của quá trình chuyển đổi
nhân khẩu học Việt Nam hiện nay.
Tái cấu trúc di cư nội địa: từ di cư nông thôn - thành thị đến
di chuyển giữa các đô thị
Di cư nội địa Việt Nam trong 15 năm qua đang chuyển từ xu hướng
gia tăng mạnh sang thu hẹp quy mô, ưu tiên di cư khoảng cách ngắn và tái phân
bố dân cư theo hướng đô thị hóa. Theo Cục Thống kê (2025), mặc dù di cư liên
tỉnh vẫn chiếm tỷ trọng cao nhất (trên 42%) nhưng quy mô đã giảm từ 2,8 triệu
xuống 1,6 triệu người. Trong khi đó, di cư trong nội huyện giảm về số lượng từ
2,4 triệu xuống 1,5 triệu người nhưng tỷ trọng lại tăng từ 26,3% lên 38,4%, cho
thấy xu hướng di cư với khoảng cách gần ngày càng rõ nét. Cục Thống kê (2025)
cho rằng xu hướng này gắn với việc tìm kiếm việc làm hoặc thay đổi nơi cư trú
trong phạm vi quen thuộc, ổn định hóa nơi cư trú và giảm chi phí di chuyển.
Cùng với sự gia tăng của đô thị hóa, cấu trúc các luồng di cư
cũng thay đổi đáng kể. Tỷ lệ dân số đô thị đã tăng lên gần 40% vào năm 2024,
trong khi di cư thành thị - thành thị đang trở thành luồng di cư lớn nhất. Tỷ
trọng luồng này tăng từ 31,2% giai đoạn 2009-2014 lên 37,5% giai đoạn
2019-2024. Ngược lại, di cư nông thôn - thành thị giảm từ 1,6 triệu người xuống
1 triệu người, đồng thời tỷ trọng giảm từ mức đỉnh 35,7% xuống 26,4% (Cục Thống
kê, 2025). Sự chuyển dịch này cho thấy di cư nội địa không còn chủ yếu là quá
trình di cư từ nông thôn ra thành thị mà ngày càng gắn với sự phân tầng và tái
cấu trúc không gian đô thị, bao gồm di chuyển giữa các đô thị và từ đô thị
trung tâm tới các khu vực ngoại vi, đô thị vệ tinh.
Xét theo địa bàn, người di cư vẫn tập trung chủ yếu ở những khu
vực có nhiều cơ hội việc làm và phát triển kinh tế. Sáu địa phương gồm TP. Hồ
Chí Minh, Hà Nội, Bình Dương, Đà Nẵng, Bắc Ninh và Đồng Nai thu hút hơn 51%
tổng số người di cư trong giai đoạn 2019-2024. Riêng Đông Nam Bộ, mặc dù vẫn là
vùng nhập cư lớn nhất, song số người nhập cư giảm từ hơn 1,3 triệu xuống 531
nghìn người. Tương tự, luồng di cư từ Đồng bằng sông Cửu Long tới Đông Nam Bộ
giảm từ 710 nghìn xuống 293 nghìn người, tương đương giảm khoảng 59%. Những
biến động này phản ánh sự suy giảm tương đối về sức hút của các trung tâm công
nghiệp truyền thống, đồng thời cho thấy sự hình thành những điểm đến mới và xu
hướng gia tăng di cư nội vùng (Cục Thống kê, 2025).
Người di cư vẫn chủ yếu là lực lượng dân số trẻ và trong độ tuổi
lao động, song cơ cấu nhân khẩu học đang thay đổi theo hướng đa dạng hơn. Nhóm
20-34 tuổi tiếp tục chiếm ưu thế nhưng số người di cư trong nhóm 20-24 tuổi đã
giảm từ gần 1,5 triệu xuống 0,8 triệu người. Trong khi đó, tỷ trọng nhóm 35-44
tuổi tăng lên, cho thấy di cư ngày càng không chỉ gắn với quá trình gia nhập
thị trường lao động của thanh niên mà còn với chiến lược việc làm và sinh kế
của các hộ gia đình. Tỷ trọng người chưa kết hôn tăng mạnh từ 28,3% lên 36,4%,
trong khi nhóm đã kết hôn giảm từ 67,8% xuống 57,9%, phản ánh sự kết hợp giữa
xu hướng kết hôn muộn và việc người trẻ chủ động di chuyển để tìm kiếm cơ hội
học tập, việc làm và lập nghiệp (Cục Thống kê, 2025). Đồng thời, tỷ trọng người
dân tộc thiểu số trong tổng số người di cư tăng từ 9,0% lên 12,2%, cho thấy di
cư đang trở thành một chiến lược sinh kế ngày càng quan trọng đối với các nhóm
dân cư trước đây có mức độ di động thấp hơn (Cục Thống kê, 2025).
Nhìn chung, các số liệu cho thấy di cư nội địa Việt Nam đang
bước vào một cấu trúc mới với quy mô giảm nhưng tính chọn lọc tăng; di cư liên
tỉnh và nông thôn - thành thị giảm tương đối, trong khi di cư gần và di cư giữa
các đô thị gia tăng. Đây không đơn thuần là sự suy giảm của tính di động dân cư
mà có thể được xem là quá trình tái cấu trúc chiến lược di cư trong bối cảnh đô
thị hóa, biến đổi thị trường lao động và thay đổi chi phí sinh hoạt. Người di
cư ngày càng phải cân nhắc đồng thời giữa cơ hội thu nhập, chi phí di chuyển,
khả năng duy trì mạng lưới xã hội và mức độ ổn định của sinh kế. Do đó, xu
hướng di cư trong khoảng cách gần và sự gia tăng di cư thành thị - thành thị là
những chỉ báo quan trọng cho thấy quan hệ giữa di cư, đô thị hóa và phát triển
xã hội ở Việt Nam đang chuyển sang một giai đoạn mới.
Di cư quốc tế của Việt Nam: Những đặc điểm và xu hướng chính
Nội dung này khái quát những đặc điểm và xu hướng chính của di
cư quốc tế Việt Nam trong giai đoạn 2017-2023, dựa trên các số liệu cập nhật từ
Cục Lãnh sự, Bộ Ngoại giao, được công bố trong ấn phẩm Hồ sơ di cư Việt
Nam 2023, xuất bản năm 2024.
Di cư lao động tiếp tục là hình thức di cư quốc tế chủ yếu của
Việt Nam. Hằng năm, có trên 100.000 người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước
ngoài theo hợp đồng, ngoại trừ hai năm 2020-2021 do tác động của đại dịch
Covid-19. Năm 2023 ghi nhận 159.986 người, mức cao nhất từ trước đến nay. Các
thị trường tiếp nhận lao động chủ yếu là Nhật Bản, Đài Loan (Trung Quốc) và Hàn
Quốc. Lao động nữ chiếm khoảng 30-40% tổng số lao động đi làm việc ở nước
ngoài, đạt tỷ lệ cao nhất gần 41% vào năm 2022, tập trung chủ yếu tại thị
trường Nhật Bản và Đài Loan (Trung Quốc) (Cục Lãnh sự, Bộ Ngoại giao, 2024).
Bên cạnh di cư lao động, du học và di cư kết hôn có yếu tố nước
ngoài cũng là những hình thức di cư quốc tế đáng chú ý. Số lượng du học sinh
Việt Nam ở nước ngoài hiện được ước tính trên 250.000 người, chủ yếu tại Hàn
Quốc, Nhật Bản, Ô-xtrây-li-a, Hoa Kỳ, Đài Loan (Trung Quốc), Ca-na-đa, Trung
Quốc, Anh và Đức; phần lớn là du học sinh tự túc. Trong giai đoạn này, kết hôn
có yếu tố nước ngoài cũng ghi nhận 102.929 trường hợp, trong khi có 2.103
trường hợp trẻ em Việt Nam được cho nhận làm con nuôi ở nước ngoài (Cục Lãnh
sự, Bộ Ngoại giao, 2024).
Ở góc độ phát triển, di cư quốc tế có thể tạo ra nhiều đóng góp
tích cực như mở rộng cơ hội việc làm và thu nhập, thúc đẩy giao lưu và trao đổi
văn hóa, đồng thời góp phần điều chỉnh sự phân bố lao động và dân cư giữa các
quốc gia. Tuy nhiên, sự gia tăng và đa dạng hóa các dòng di cư cũng đặt ra
nhiều thách thức như di cư trái phép, mua bán người, xâm phạm quyền và lợi ích
của người di cư, “chảy máu chất xám”, cũng như những vấn đề về an ninh, trật tự
và quản lý xã hội. Bên cạnh đó, di cư quốc tế có thể làm phát sinh hoặc làm sâu
sắc thêm các vấn đề về giới, trẻ em và gia đình có người di cư, đồng thời, sự
phát triển của công nghệ số và trí tuệ nhân tạo đang tạo điều kiện cho sự xuất
hiện của những phương thức mới trong đưa người di cư trái phép, mua bán người
và các loại hình tội phạm liên quan đến di cư (Cục Lãnh sự, Bộ Ngoại giao,
2024).
Nhìn chung, giai đoạn 2017-2023 cho thấy các hình thức và quy mô
di cư quốc tế của Việt Nam ngày càng đa dạng, trong đó di cư lao động vẫn giữ
vai trò chủ đạo. Đại dịch Covid-19 đã tạo ra sự gián đoạn đáng kể đối với các
dòng di cư quốc tế trong 2 năm 2020-2021, tuy nhiên, từ năm 2022, các dòng di
cư có xu hướng phục hồi và tăng trở lại. Đặc biệt, sự gia tăng mạnh của số
người đi làm việc ở nước ngoài trong năm 2023 cho thấy nhu cầu và xu hướng tham
gia di cư lao động quốc tế của người Việt Nam tiếp tục ở mức cao. Điều này
không chỉ mở ra những cơ hội phát triển mới mà còn đặt ra những thách thức nhất
định đối với vấn đề quản trị di cư.
Một số vấn đề chính sách dân số đặt ra trong bối cảnh mới
Những biến đổi nhân khẩu học đang đặt ra yêu cầu điều chỉnh
chính sách dân số theo hướng toàn diện hơn, từ quản lý quy mô dân số sang quản
trị chất lượng, cơ cấu và phân bố dân cư. Một số vấn đề chính sách chủ yếu cần
được quan tâm gồm:
Thứ nhất, nâng cao chất lượng dân số, chất lượng nguồn nhân lực
và phát huy hiệu quả của cơ cấu dân số vàng. Kết quả các cuộc điều tra quốc gia
cho thấy quy mô dân số trong độ tuổi lao động của Việt Nam có xu hướng thu hẹp
dần, trong khi trình độ chuyên môn kỹ thuật của lực lượng lao động còn khiêm
tốn với trên 70% lao động chưa qua đào tạo có bằng, chứng chỉ, đồng thời sự
chênh lệch về chất lượng lao động giữa thành thị và nông thôn ở nước ta vẫn ở mức
rất lớn. Thực trạng này có thể làm giảm năng lực cạnh tranh và có nguy cơ bỏ lỡ
dư địa của “thời kỳ cơ cấu dân số vàng”, đồng thời có thể làm gia tăng tình
trạng bất bình đẳng về cơ hội việc làm, thu nhập và dịch chuyển xã hội giữa các
khu vực. Do đó, định hướng chính sách trong thời gian tới cần tập trung nâng
cao chất lượng dân số và nguồn nhân lực thông qua việc đẩy mạnh đào tạo nghề,
trang bị kỹ năng thích ứng cho người lao động, đồng thời triển khai các giải
pháp đồng bộ nhằm thu hẹp bất bình đẳng về cơ hội tiếp cận giáo dục, đào tạo và
việc làm giữa các khu vực, vùng miền.
Thứ hai, bảo đảm mức sinh thay thế và tạo điều kiện để người dân
thực hiện mong muốn sinh con. Như đã đề cập ở trên, tổng tỷ suất sinh (TFR) của
Việt Nam đã giảm xuống dưới mức sinh thay thế vào năm 2024 và 2025, kèm theo sự
chênh lệch đáng kể giữa các vùng và các nhóm xã hội. Sự suy giảm mức sinh kéo
dài sẽ dẫn đến hệ quả thu hẹp quy mô các thế hệ trẻ trong dài hạn, suy giảm lực
lượng lao động tương lai và làm gia tăng tốc độ già hóa dân số. Điều này cho
thấy sự xuất hiện của khoảng trống lớn giữa định hướng chính sách khuyến khích
sinh con với các rào cản thực tế về kinh tế - xã hội như chi phí chăm sóc, nuôi
dạy con gia tăng, áp lực việc làm, nhà ở và sự biến đổi các giá trị gia đình.
Do đó, chính sách dân số cần chuyển dịch từ việc điều chỉnh mức sinh đơn thuần
sang việc đặt mục tiêu đảm bảo và duy trì mức sinh thay thế trong tổng thể các
chính sách kinh tế - xã hội, đồng thời, tập trung hoàn thiện hệ thống an sinh
xã hội, hỗ trợ việc làm, nhà ở, chăm sóc trẻ em,… nhằm tạo môi trường thuận lợi
để người dân hiện thực hóa mong muốn sinh con.
Thứ ba, tiếp tục giảm mất cân bằng giới tính khi sinh và thúc
đẩy bình đẳng giới. Các số liệu thống kê quốc gia cho thấy tỷ số giới tính khi
sinh tại Việt Nam tiếp tục duy trì ở mức cao kéo dài trong gần hai thập kỷ,
vượt xa ngưỡng cân bằng sinh học tự nhiên và thể hiện sự bất bình đẳng rõ rệt
theo vùng miền, đặc biệt cao tại Đồng bằng sông Hồng. Hệ quả xã hội của tình
trạng này là sự dư thừa nam giới đối với thị trường kết hôn trong tương lai,
buộc nhiều nam giới phải trì hoãn hoặc không thể kết hôn, đồng thời làm gia
tăng nguy cơ bạo lực trên cơ sở giới và ảnh hưởng tiêu cực đến chất lượng nguồn
nhân lực cũng như sự ổn định xã hội. Do đó, để giảm tình trạng mất cân bằng
giới tính khi sinh, cần tiếp tục triển khai các giải pháp can thiệp toàn diện,
quyết liệt hơn, kết hợp giữa nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước với tuyên
truyền thay đổi định kiến giới, nâng cao vị thế của phụ nữ và trẻ em gái trong
gia đình và xã hội.
Thứ tư, chủ động thích ứng với già hóa dân số và xây dựng hệ
thống chăm sóc dài hạn. Quá trình chuyển đổi nhân khẩu học chứng kiến tỷ suất
chết giảm và tuổi thọ trung bình tăng liên tục, kéo theo sự gia tăng nhanh
chóng về quy mô và tỷ trọng người cao tuổi. Tốc độ già hóa gia tăng nhanh chóng
đang tạo áp lực lớn lên hệ thống an sinh xã hội, lương hưu và y tế, đồng thời
làm bộc lộ sự suy giảm khả năng tự chăm sóc người cao tuổi trong mô hình gia
đình truyền thống do quy mô gia đình ngày càng thu nhỏ. Khoảng trống chính sách
hiện nay là hệ thống an sinh và dịch vụ chăm sóc dài hạn chưa phát triển tương
xứng với tốc độ già hóa, mô hình chăm sóc vẫn dựa chủ yếu vào gia đình. Do đó,
chính sách cần chủ động chuyển từ mô hình phụ thuộc chủ yếu vào gia đình sang
mô hình chăm sóc đa chủ thể. Trong đó, cần tập trung phát triển hệ thống y tế,
an sinh xã hội và dịch vụ chăm sóc dài hạn phù hợp, kết hợp thúc đẩy “già hóa
chủ động” nhằm phát huy vai trò, kinh nghiệm và sự đóng góp của người cao tuổi
cho xã hội.
Thứ năm, quản trị phân bố dân cư, đô thị hóa và di cư nội địa
theo hướng phát triển cân bằng và bao trùm. Hiện nay, tỷ lệ đô thị hóa tăng
nhanh cùng với sự tái cấu trúc các dòng di cư, trong đó, di cư thành thị -
thành thị đang trở thành luồng di cư chủ đạo, di cư khoảng cách ngắn gia tăng
và người di cư tiếp tục tập trung cao độ vào một số trung tâm kinh tế, đô thị
lớn. Xu hướng này đang làm gia tăng áp lực lên hạ tầng đô thị, nhà ở, giao
thông, y tế, giáo dục và môi trường tại các nơi đến, đồng thời tạo ra nguy cơ
thiếu hụt lao động và mất cân bằng phát triển tại các khu vực xuất cư. Điều này
đặt ra những vấn đề trong công tác dự báo, quy hoạch không gian cư trú và quản
trị đô thị, cũng như các hạn chế trong việc bảo đảm quyền tiếp cận dịch vụ xã
hội cơ bản của người di cư. Do đó, chính sách cần tăng cường năng lực dự báo và
quản lý các dòng di cư, bảo đảm khả năng tiếp cận bình đẳng của người di cư đối
với nhà ở, việc làm, y tế và giáo dục, đồng thời gắn kết chặt chẽ chính sách
dân số với quy hoạch vùng, quy hoạch đô thị và phát triển thị trường lao động.
Thứ sáu, quản trị di cư quốc tế gắn với phát triển nguồn nhân
lực và bảo đảm quyền của người di cư. Như đã phân tích, di cư quốc tế phục hồi
và tăng mạnh sau Covid-19, trong đó di cư lao động vẫn là loại hình di cư chủ
đạo, bên cạnh các loại hình di cư khác. Một mặt, di cư đang đóng góp tích cực
vào kinh tế nhưng mặt khác, quá trình di cư cũng tiềm ẩn những rủi ro về vi
phạm quyền lao động, tranh chấp pháp lý hoặc không phát huy được kỹ năng khi trở
về. Do đó, cần nâng cao chất lượng đào tạo và kỹ năng cho lao động di cư, bảo
vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người di cư, đồng thời tăng cường phối hợp
liên ngành và hợp tác quốc tế trong quản trị di cư gắn với phát triển nguồn
nhân lực.
Tài liệu tham khảo
Cục Lãnh sự Bộ Ngoại giao. 2024. Hồ sơ di cư Việt Nam
2023. Nxb Thanh niên, Hà Nội.
Cục Thống kê. 2025. Di cư nội địa Việt Nam giai đoạn
2009-2024. Nxb Hà Nội, Hà Nội.
Cục Thống kê. 2026. Thông cáo báo chí về tình hình dân
số, lao động và việc làm quý IV và năm 2025. Truy cập tại https://www.nso.gov.vn/tin-tuc-thong-ke/2026/01/thong-cao-bao-chi-ve-tinh-hinh-dan-so-lao-dong-viec-lam-quy-iv-va-nam-2025/,
ngày truy cập 19/8/2026.
Thủ tướng Chính phủ. 2007. Quyết định phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia Dân số
và Kế hoạch hoá gia đình giai đoạn 2006 - 2010 (Quyết định số 170/2007/QĐ-TTg
ngày 08/11/2027).
Thủ tướng Chính phủ. 2020. Quyết định phê duyệt Chương
trình Điều chỉnh mức sinh phù hợp các vùng, đối tượng đến năm 2030 (Quyết định
số 588/QĐ-TTg ngày 28/4/2020).
Thủ tướng Chính phủ. 2026. Quyết định phê duyệt Chương
trình Bảo đảm mức sinh thay thế trên toàn quốc đến năm 2030 (Quyết định số
291/QĐ-TTg ngày 13/02/2026).
Tổng cục Thống kê. 2010. Thông cáo báo chí Tổng điều tra
dân số và nhà ở năm 2009: Công bố kết quả điều tra toàn bộ. Truy cập
tại https://www.nso.gov.vn/su-kien/2019/03/thong-cao-bao-chi-tong-dieu-tra-dan-so-va-nha-o-nam-2009-cong-bo-ket-qua-dieu-tra-toan-bo/,
ngày truy cập 19/8/2026.
Tổng cục Thống kê. 2011. Tổng điều tra dân số và nhà ở
năm 2009: Mức sinh và mức chết ở Việt Nam: Thực trạng, xu hướng và những khác
biệt. Tổng cục Thống kê và Quỹ Dân số Liên Hợp Quốc.
Tổng cục Thống kê. 2019. Thông cáo báo chí Tổng điều tra
dân số và nhà ở năm 2019. Truy cập tại https://www.nso.gov.vn/su-kien/2019/12/thong-cao-bao-chi-ket-qua-tong-dieu-tra-dan-so-va-nha-o-nam-2019/,
ngày truy cập 19/8/2024.
Tổng cục Thống kê. 2020. Mất cân bằng giới tính khi
sinh: Xu hướng, sự khác biệt và các nhân tố ảnh hưởng. Nxb Tài chính,
Hà Nội.
Tổng cục Thống kê. 2024. Kết quả chủ yếu điều tra dân số
và nhà ở giữa kỳ thời điểm 0 giờ 01/4/2024. Nxb Thống kê, Hà Nội.
Chú thích: Trong các bài viết tiếp theo, Phòng Xã
hội học Dân số, Sức khỏe và Môi trường, Viện Xã hội học và Tâm lý học sẽ tiếp
tục phân tích chuyên sâu từng phương diện của quá trình biến đổi nhân khẩu học,
trên cơ sở kế thừa và tổng hợp các kết quả nghiên cứu hiện có. Qua đó, các bài
viết sẽ góp phần làm rõ hơn các xu hướng, nguyên nhân và tác động đối với phát
triển kinh tế - xã hội cũng như chính sách dân số.