Trong Văn hóa Óc Eo nói chung, nhẫn kim loại là một trong những loại hình có số lượng tìm thấy nhiều nhất với 195 hiện vật, bao gồm 148 nhẫn chất liệu hợp kim vàng, bốn nhẫn chất liệu bạc, 24 nhẫn chất liệu chì - thiếc và 19 nhẫn chất liệu đồng thau (Bùi Chí Hoàng 2018: 414-25). Trong đó, sưu tập nhẫn bằng chất liệu hợp kim vàng thể hiện hình bò Nandin có thể xem là loại hình đặc sắc nhất trong nhóm hiện vật nhẫn của văn hóa Óc Eo.
Dẫn luận
Sau khi nền văn hóa cổ Óc Eo được phát hiện, loại hình di vật này được các học giả Pháp ghi nhận, sưu tầm và nghiên cứu quy mô lần đầu vào thập niên 1940 của thế kỷ trước. Theo thống kê trong các công trình đã công bố, Louis Malleret (1962: 93-4) ghi nhận có 08 di vật nhẫn bằng hợp kim vàng thể hiện hình bò thần Nandin được tìm thấy ở vùng Transbassac, tức vùng Hậu Giang ngày nay
2
. Các di vật này sau đó đã được đưa về lưu giữ tại Bảo tàng Blanchard de la Brosse tại Sài Gòn, tức Bảo tàng Lịch sử Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay. Tuy nhiên, theo báo cáo thống kê vào năm 1984, nhóm di vật này chỉ còn 07 đơn vị (Lê Trung, Trịnh Thị Hòa 1984: 169), trong đó gồm:
- 03 di vật thể hiện hình bò Nandin có bướu trên lưng;
- 02 di vật thể hiện hình bò Nandin với tư thế nằm, hai chân trước co gập vào trong;
- 01 di vật thể hiện hình bò Nandin nằm duỗi thẳng chân;
- 01 di vật thể hiện hình bò Nandin không có sừng.
Đáng lưu ý là, các tư thế diễn đạt hình tượng bò Nandin được ghi nhận qua nhóm sưu tập này là một trong những yếu tố chính khiến cho các nhà nghiên cứu chưa thống nhất khi nhận định về nguồn gốc xuất xứ của chúng (Malleret 1962: 93-4). Chính Malleret, người đã sưu tầm được những di vật này, cũng không thể nhận định về niên đại của chúng; ông quan sát và nhận thấy chúng có nhiều điểm tương đồng với hình tượng bò thần Nandin, thường được thể hiện trên chất liệu đá với kích thước lớn, và nhận định rằng đó là biểu tượng vật cưỡi (
vāhana
) của thần Śiva được tìm thấy tại di tích Ba Thê, niên đại vào khoảng 300-500 Công nguyên (CN) (Malleret 1962: 93-4).
Đây là cơ sở để so sánh với một di vật nhẫn hợp kim vàng có hình bò Nandin được khai quật tại di tích Gò Giồng Cát, thuộc khu di tích Óc Eo-Ba Thê, trong khuôn khổ Đề án Khoa học
cấp Quốc gia
Nghiên cứu khu di tích khảo cổ học Óc Eo-Ba Thê, Nền Chùa (Văn hóa Óc Eo Nam Bộ)
do Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam thực hiện trong giai đoạn 2017-2020. Di vật đặc biệt này được các nhà khảo cổ học tìm thấy tại hố khai quật 2018.GGC.B.H2.L6 vào năm 2018. Nhẫn có đường kính 1,8cm với vòng đeo trang trí hình cánh sen quanh đế nhẫn, mặt nhẫn là hình bò Nandin, với chiều cao nhẫn khoảng 2,6cm, Nandin đặc tả trong tư thế nằm với chân trái duỗi về phía trước, đầu ngẩng cao thể hiện hướng nhìn thẳng có trang sức quanh cổ nhưng không che lấp chi tiết bướu trên lưng, thân mình hơi nghiêng về bên phải (Bùi Minh Trí, Nguyễn Gia Đối, Nguyễn Khánh Trung Kiên 2022: 123-4).
1. Ý nghĩa hình tượng Nandin trong tôn giáo truyền thống Ấn Độ
Hình tượng bò Nandin là chủ điểm quan trọng vốn hay bị giản lược hoặc ít đề cập trong các công trình nghiên cứu trước đây, chính là sự khác nhau về hình tượng bò (
Vṛṣabha
hay
Vṛṣa
) thường được đặt trước các ngôi đền thờ thần Śiva
được xem là biểu trưng cho các tín đồ
(
gaṇas
)
sùng bái
Śiva
, trong khi bò là vật cưỡi
(
vāhana
)
của
Śiva; mặc dù chúng đều được gọi chung là Nandin (hay Nandi) (Bhattacharya 1977: 1545; Marina và Marina 1997
: 233
). Tuy nhiên, sự nhập chung khái niệm
gaṇas
và Nandin diễn ra từ khi nào trong lịch sử thì vẫn còn là một ẩn số với các nhà nghiên cứu.
Trước tiên xét trong cổ thư Phạn ngữ, kinh thư
Śiva Purāṇas
- những câu chuyện linh thiêng liên quan đến giáo phái Śiva, Nandin xuất hiện như một
gaṇas
của Śiva
trong
Mahābhārata, thậm chí đôi khi những
gaṇas
này
còn được mô tả với khuôn mặt khỉ (monkey-faced/
Vanaramukham
?)
đã được đề cập trong cổ thư Ramayana (Bhattacharya 1977: 1545). Trong thiên anh hùng ca Kumārasaṃbhavam của Kālidāsa, là một trong những kinh thư tiếng Phạn quan trọng, trong đó Nandin lại được mô tả như một
thần giữ cửa/môn thần (door-keeper) của
Śiva; mặc dù không mô tả chi tiết về hình dạng Nandin, nhưng
Kālidāsa phân biệt rõ ràng khái niệm Nandin,
gaṇas
và
Vṛṣabha
, vật cưỡi của thần
Śiva (
Bhattacharya,
sđd.
).
Trong Viṣṇudharmottara, được biết đến như một trong những bách khoa toàn thư Phạn ngữ về nhiều chủ đề thế tục và tôn giáo trong các truyền thống của Ấn Độ giáo, trong đó mô tả Nandi có ba mắt và bốn tay, sắc thân màu đỏ, quấn quanh mình tấm da hổ, tay cầm đinh ba (
triśūla
) và một cây lao ngắn (
bhindipāla
), tay thứ ba giơ cao qua đầu, còn tay thứ tư như trong tư thế ra lệnh? [the fourth held as though he is commanding a host of people?] (Bhattacharya 1977).
Cho đến nay, cũng có nhiều câu chuyện khác nhau về nguồn gốc Nandin và
gaṇas
được ghi lại trong các cổ thư
purāṇas
Ấn Độ, trong đó cổ thư văn xuôi
Varāha Purāṇa
có các chương dành riêng để ngợi ca Śiva và
Śakti
cùng các nữ thần
Brāhmī
,
Vaiṣṇavī
và
Raudrī
, các ghi chép đó đồng thời đưa ra nhiều lý giải khác nhau về nguồn gốc Nandin. Nội dung thứ nhất kể rằng nhà hiền triết muni-Śālaṅkāyana/muni-Śilāda (
muni-
còn gọi là
sage-
để chỉ hiền nhân theo cổ thư Ấn Độ), vốn ngưỡng mộ thần Śiva, vì vậy chuyên tâm sám hối và cầu nguyện chư thần gia hộ để có một người con như Īśāna (Śiva), nhà hiền triết gởi lời khấn nguyện đó trước hình ảnh Nandin đẹp nhất, được tin đó chính là hóa thân của thần Maheśvara (Śiva).
Câu chuyện thứ hai ghi lại trong cổ thư
Kūrmapurāṇa
đề cập trong chương 41, phần II kể rằng, nhà hiền triết muni-Śilāda đã không ngừng cầu nguyện và sám hối, cũng như tôn vinh công đức của thần qua muôn nghìn kiếp, để cuối cùng khiến thần Śiva cảm động và xuất hiện, nhân thời điểm đó muni-Śilāda đã cầu nguyện để có một con trai được sinh ra mang nguồn gốc Ayonijā, được biết đến như một đặc ân ở những vị thần không sinh ra từ bụng mẹ, và do đó, có thể bỏ qua vòng sinh tử (
amṛtyu
) giống như thần Śiva. Do vậy, Nandin được thần Śiva ban cho sự bất tử, trở thành thần chủ của mọi
gaṇas
(Gupta 1972).
Trong tạo hình nghệ thuật nói chung, hình ảnh bò Nandin sớm nhất được cho là gắn liền với hình tượng thần
Śiva
có niên đại vào khoảng thế kỷ II Trước Công nguyên
(
Banerjea
1941: 109
). Tạo hình bò
Vṛṣabha
là biểu trưng cho vật cưỡi của thần
Śiva được biết đến dưới triều đại vua
Vima Kadphises niên đại vào khoảng năm 65-75 Công nguyên, và triều đại vua Vāsudeva vào khoảng năm 152-176 Công nguyên (
Bhattacharya 1977: 1556
). Con bò
Vṛṣabha
gắn với thần
Śiva còn được mô tả với hình dáng mình người
-
đầu bò, mà minh chứng là các di vật nghệ thuật thị giác còn lưu lại tại phức hợp di tích trong hang động Badami, Aihole và khu vực miền Nam Ấn Độ, niên đại của chúng khoảng thế kỷ VI - VII
Công nguyên
, có tên gọi
Nandikeśvara
(
Bhattacharya 1977: 1556
;
Jouveau-Dubreuil 1914: 56-8;
Marina và Marina 1997
:
233).
Trên đây, các hình tượng và cổ thư Phạn ngữ đã được viện dẫn nhằm minh họa cho sự đa dạng trong việc thể hiện hình tượng và tên gọi liên quan đến Nandin và
gaṇas
trong Ấn Độ giáo. Qua đó xác nhận lại các hình ảnh liên quan đến Nandin, đó không chỉ là biểu trưng duy nhất của thần Śiva, mà còn là biểu tượng cho các tín đồ Śivaite, và là thần chủ của các
gaṇas
-
-
tín đồ trường phái Śiva giáo;
đồng thời Nandin cũng là đại diện cho giáo lý thuộc tín ngưỡng Śiva (Śivadharma); và là biểu trưng vật cưỡi của thần Śiva.
Nội dung trên là cơ sở để lần tìm sự lý giải trong cổ thư Ấn Độ về ý nghĩa biểu tượng của chiếc bướu lớn trên lưng Nandin, là vật tượng trưng chính của Nandin. Vasundhara Filliozat
3
đã dịch cổ thư
Shiva-purana
- một trong mười tám
puranas
chính mô tả chi tiết về tín ngưỡng và nghi thức thờ cúng thần
Śiva;
và chỉ ra các lý giải về chiếc bướu trên lưng Nandin trong Chương 31, nhan đề
Vāyavīyasaṃhitā-uttarabhāga
, như sau: “Vị vua của sự huy hoàng và vĩ đại, tựa như ánh sét từ các đám mây lớn, người sánh ngang với đỉnh Meru, Kailāsa… với chiếc bướu khổng lồ như những đỉnh mây trắng…”
(“The king of great splendour, thundering like the great cloud, who is comparable to the peaks of Meru, Kailāsa, etc., whose hump is huge in size like the white peaks of clouds…”) (Filliozat: 126). Điều này lý giải chiếc bướu trên lưng Nandin được ví như đỉnh Meru và Kailāsa là những hình ảnh tiêu biểu của tín ngưỡng
Śiva
; và, do đó khẳng định vai trò nổi bật của Nandin trong tín ngưỡng này.
2. Chất liệu, kỹ thuật chế tác hình tượng bò Nandin trên loại hình hiện vật nhẫn bằng hợp kim vàng được ghi nhận trong Văn hóa Óc Eo
Như đã nêu ở trên, việc sử dụng và biểu đạt hình tượng bò Nandin ghi nhận qua các di vật trang sức cổ đã đặt ra một thách thức trong việc phân định chúng là biểu trưng mang ý nghĩa tôn giáo, hay còn mang ý nghĩa khác. Đối với nhẫn đeo tay có hình Nandin có thể thiên về ý nghĩa tôn giáo, điều đó có nghĩa là nó còn gắn liền với các quy định và luật lệ tôn giáo
(
Dutt 1917: 84;
Kunz 1917: 77, 249
).
Trước hết, cần lưu ý việc sử dụng hợp kim vàng trong tạo hình các loại trang sức, các tín đồ Ấn Độ giáo tin rằng vàng là kim loại linh thiêng, vì vậy nếu dùng để đeo ở chân sẽ làm ô uế ý nghĩa và biểu tượng linh thiêng của nó (Dave 2017: 85). Chủ điểm này có thể xác nhận lý do hầu hết nhẫn được tạo hình bò thần Nandin được tìm thấy tại các di tích thuộc Văn hóa Óc Eo đều được chế tác từ kim loại vàng. Tiếp theo đó, khảo sát luật lệ tôn giáo cổ đại Ấn Độ, đặc biệt là Ấn Độ giáo quy định về việc các loại trang sức đeo tay chế tác từ kim loại quý, cổ thư Ấn giáo nêu rõ rằng nếu nhẫn chế tác từ vàng nên được đeo ở ngón trỏ (Kunz 1917: 77). Như vậy, nhẫn vàng được tìm thấy ở văn hóa Óc Eo thể hiện hình bò Nandin có thể được đeo ở ngón trỏ, theo như kinh thư đã đề cập.
Một điều cần lưu ý, nếu một chiếc nhẫn đeo tay được chế tác từ kim loại quý cùng kỹ thuật chế tác tinh xảo, điều đó ngầm chuyển tải thông điệp về vị thế của chủ nhân và vị thế của người đeo trong chính cộng đồng mà họ sinh sống; đôi khi, sự sang trọng toát ra từ chất liệu và kỹ thuật của chiếc nhẫn còn thể hiện vai trò của tầng lớp quý tộc thương gia, hoặc tầng lớp thống trị, đại diện cho cộng đồng ở cấp độ liên bang, hoặc một chính thể quốc gia (Demandt 2015: 306). Điểm cần lưu ý tiếp theo, vàng luôn là chất liệu được ưa chuộng để làm trang sức ở Ấn Độ (Kunz 1917: 155), do vậy trang sức bằng vàng còn là một loại hình sản phẩm mang thông điệp ngoại giao của cá nhân sở hữu nó, đặc biệt là khi chủ nhân kết hợp nhẫn đeo với trang phục được may bằng chất liệu sang trọng và thiết kế cầu kỳ (Demandt 2015: 306).
|
Stt
|
Ký hiệu
|
Đường kính
(cm)
|
Chiều cao
(cm)
|
Trọng lượng
(gram)
|
Địa điểm
phát hiện
|
|
1
|
MBB.3458
|
1,45 - 1,8
|
|
5,871
|
Khu Nam di chỉ Óc Eo, giữa Hòn Trám và Gò Óc Eo, độ sâu khoảng 0,5m
|
|
2
|
MBB.4510
|
|
4,624
|
|
3
|
MBB.4523
|
|
6,597
|
Khu Tây di chỉ Óc Eo, cách Gò Cây Kè không xa
|
|
4
|
MBB.3957
|
|
3,99
|
Phía Bắc di chỉ Óc Eo,
cách thôn Giồng Cát khoảng 100m về phía Tây,
độ sâu 0,6m
|
|
5
|
MBB.4008
|
|
11,289
|
|
6
|
MBB.3063
|
|
5,328
|
|
7
|
MBB.4024
|
|
2,681
|
|
|
8
|
MBB.4726
|
|
4,632
|
|
|
9
|
2018.GGC.B.H2.L6
|
1,5
|
1,9
|
8,7
|
Gò Giồng Cát
|
Đối chiếu các nhận định nêu trên với bộ sưu tập di vật tìm thấy trong văn hóa Óc Eo ở Đồng bằng sông Cửu Long, các thống kê cho thấy một số lượng khiêm tốn về hình tượng bò thần Nandin được sử dụng trên nhẫn
(Bảng 1)
trên tổng số hơn 148 tiêu bản nhẫn chế tác từ hợp kim vàng (theo phân loại của Malleret, có khoảng 82 chiếc được tạo hình mặt nhẫn, trong đó có 42 chiếc với mặt nhẫn làm bằng vàng và 40 chiếc nạm đá quý). Cho đến nay, chỉ có 8 chiếc được Malleret sưu tầm vào giai đoạn trước năm 1975
(Hình 1)
, và chúng đều được ghi nhận là tìm thấy tại di chỉ Óc Eo (Malleret 1962: phụ lục XXVII-XXVIII), cùng một chiếc được khai quật tại di tích Gò Giồng Cát vào năm 2018
(Hình 2
)
4
.
|
|
|
|
Hình 1.
Nhẫn tạo hình bò Nandin
trong Văn hóa Óc Eo, sưu tập của Malleret
(Nguồn:
Malleret 1962: PL. XXVII)
|
Hình 2.
Nhẫn tạo hình bò Nandin tìm thấy tại Gò Giồng Cát
(Nguồn:
Nguyễn Hoàng Bách Linh)
|
Số lượng khiêm tốn này
đưa đến giả thiết rằng nhẫn hợp kim vàng có hình bò Nandin có thể chỉ được một số ít các thủ lĩnh, quý tộc, lãnh chúa sử dụng (?!). Chúng có thể từng là một loại hình trang sức thể hiện vai trò xã hội của người đeo nó; họ có thể thuộc tầng lớp cai trị hoặc có vai trò quan trọng về tôn giáo trong cộng đồng đó.
Malleret (1962: 108-10) cho rằng, chỉ ở vùng Hậu Giang
mới xuất hiện kiểu nhẫn này, tạo hình với tư thế vật cưỡi của thần Śiva tương tự trên pho tượng đá tìm thấy ở núi Ba Thê và hiện lưu giữ tại Bảo tàng Quốc gia Phom Penh. Về tạo hình, hình tượng bò thần Nandin trên nhẫn của văn hóa Óc Eo được thể hiện đa dạng. Ba tiêu bản MBB.3458, 4510 và 4523 có chân phải đưa về phía trước còn chân trái gấp lại; hai tiêu bản MBB.3957 và 4008 thể hiện ngược lại với chân trái đưa về phía trước còn chân phải gấp lại. Trong khi đó, hai tiêu bản MBB.3063 và 4726 có hai chân đưa về phía trước. Tiêu bản còn lại, MBB.4124 thể hiện vị trí hai chân không nhận diện rõ. Phần bướu luôn được thể hiện nổi rõ, trong đó hai tiêu bản MBB.4510 và 4523 được thể hiện như bướu đôi (?) như là một hình thức trang trí. Tiêu bản MBB.4726 thể hiện hình ảnh vòng cổ che phủ phần ức và bướu lưng. Tiêu bản MBB.3957 với chi tiết phần đầu đặt nghiêng 3/4 về một bên. Đặc biệt, tiêu bản MBB.4510 có chi tiết duy nhất ở mắt trái như khảm đá màu xanh (?). Ngoài ra,
vòng đeo nhẫn quanh ngón tay đều được điểm xuyến bằng các đường gờ nổi tạo hoa văn dạng hình học.
Về kỹ thuật chế tác, cho đến nay, tại các di tích thuộc Văn hóa Óc Eo, vẫn chưa tìm thấy loại hình khuôn dùng để chế tác trang sức nhẫn hình bò Nandin, điều này đưa đến một số
giả thiết như sau:
- Thứ nhất:
Chúng là sản phẩm được chế tác và nhập khẩu từ các quốc gia bên ngoài khu vực Óc Eo, đáp ứng nhu cầu sử dụng của một số ít những cá nhân có vai trò quan trọng trong xã hội, hoặc trong cộng đồng tôn giáo.
- Thứ hai:
Những chiếc nhẫn có hình Nandin có thể được chế tác ngay tại Óc Eo bởi những người thợ kim hoàn tay nghề cao chế tác phỏng theo nguyên mẫu, dành riêng cho tầng lớp cai trị hoặc thủ lĩnh tôn giáo, nên số lượng phiên bản giới hạn.
Bộ sưu tập hiện vật chế tác từ vàng nói chung được ghi nhận trong các di tích thuộc văn hóa Óc Eo
chiếm một số lượng không nhiều so với các loại hình khác, nhưng đa dạng trong cách tạo hình, điều này cũng phản ánh kỹ thuật chế tác đa dạng và phức tạp; Malleret (1962: 8) nhận định rằng “thợ thủ công thành thạo về các phương pháp cổ truyền trong chế tác đồ kim hoàn vào thời kỳ Óc Eo cổ đại.” Các di vật nhẫn đeo tạo hình bò Nandin cho phép nhận định một số kỹ thuật chế tác như sau:
- Kỹ thuật dát:
Có thể nhận thấy trên
bề mặt của các sản phẩm trang sức nói chung,
dấu vết
còn lưu lại phản ánh kỹ thuật dùng búa kim hoàn để kéo sợi kim loại vàng, do đặc tính mềm dễ dát mỏng hay kéo sợi, khi chiết xuất từ vàng nguyên liệu.
- Kỹ thuật uốn:
Dùng để tạo dáng ban đầu cho vòng nhẫn, có thể thực hiện bằng tay hoặc kết hợp với các dụng cụ chuyên dụng. Đây được ghi nhận là một trong những kỹ thuật cơ bản và phổ biến đối với thợ kim hoàn.
- Kỹ thuật chạm thúc, gò nổi:
Có thể ghi nhận qua hình ảnh bò Nandin và các chi tiết trang trí, và tùy theo yêu cầu thẩm mỹ mà lựa chọn công cụ chế tác phù hợp.
- Kỹ thuật khắc:
Mặc dù đều dùng các dụng cụ giống với kỹ thuật chạm thúc và gò nổi nhưng thợ kim hoàn thường dùng các dụng cụ sắc hơn để khắc trực tiếp lên mặt nhẫn, với điều kiện đó phải là khối kim loại đặc ruột để sản phẩm được định dạng với đường khắc sắc sảo và tinh tế.
- Kỹ thuật hàn:
Để hàn các mối nối ở vòng, các chi tiết của mặt nhẫn. Qua quan sát trang sức vàng của Óc Eo, Malleret cho rằng thợ kim hoàn Óc Eo dường như sử dụng nhiều
Borax (Na
2
B
4
O
7
, còn được gọi là hàn the) được pha theo tỉ lệ với nước, để tạo thành dung dịch trợ chảy trong khi hàn các kim loại quý như vàng hay bạc; và không dùng bạc để hàn các các chi tiết trên đồ vàng, mặc dù vậy một số chi tiết kim loại màu đỏ cho thấy đồng có thể cũng được dùng để hàn (Malleret 1962: 9).
Căn cứ vào trọng lượng của bộ sưu tập nhẫn tạo hình bò Nandin cho thấy, chúng được chế tác bằng vàng đặc ruột với hình tượng bò Nandin được nhận định chế tác không mối nối. Riêng tiêu bản MBB.4024 ghi nhận kỹ thuật chạm thúc và hàn ghép vào vòng nhẫn, căn cứ vào lỗ đục ở mặt trong vòng đeo (Malleret 1962: 108-10).
3. Sự hiện diện của hình tượng bò Nandin thể hiện trên nhẫn bằng hợp kim vàng tại vương quốc cổ Phù Nam
Vương quốc cổ Phù Nam được ghi nhận là một trong những quốc gia cổ đại đầu tiên của khu vực Đông Nam Á với hai giai đoạn gồm:
Thời kỳ giao thương còn hạn chế, và quá trình xây dựng hệ thống thủy lợi phục vụ các mục đích nông nghiệp (trước thế kỷ III
Công nguyên
); tiếp theo đó là thời kỳ bùng nổ các hoạt động trao đổi hàng hóa với hầu khắp thương nhân đến từ vô số vương quốc cổ trên thế giới, trong đó giai đoạn Phù Nam từng phát triển đến đỉnh cao của nó với cảng thị Óc Eo sầm uất nằm ở khu vực Tứ giác Long Xuyên ngày nay. Nhiều công trình nghiên cứu đã dùng thuật ngữ “đế chế Phù Nam” khi đề cập đến vương quốc cổ này, mà thời gian tồn tại của nó song hành cùng với quá trình trao đổi văn hóa với Ấn Độ trong giai đoạn thế kỷ IV-V
Công nguyên
. Sự phát triển mạnh mẽ của trung tâm cảng thị đã tạo nên vị thế ngày càng lớn của Phù Nam (Manguin 2009: 103-18); và điều này đưa Phù Nam trở thành một trung tâm văn hóa và thương mại quan trọng, kết nối một số vương quốc Đông Nam Á sớm. Nổi bật như, khu vực thứ nhất có không gian trải dài từ hạ Miến Điện (Chin-lin) đến Phù Nam, là nơi sinh sống của các cộng đồng cư dân nói tiếng Mon-Khmer và Pyu đang trong giai đoạn phát triển; Khu vực thứ hai hình thành dựa trên mối liên hệ giữa cư dân Phù Nam với cộng đồng cư dân sinh sống dọc theo bờ biển Việt Nam, bao gồm lãnh thổ của nền văn minh Champa. Hơn thế nữa, các yếu tố văn hóa Phù Nam cũng có sự giao lưu tại khu vực cư dân Malayo sinh sống ở khắp quần đảo Java và Mã Lai đa đảo (Hall 1985: 66). Đế chế Phù Nam cũng được ghi nhận hiện diện ở khu vực vịnh Thái Lan, tham gia vào con đường giao thông huyết mạch từ Nam Đông Dương sang Ấn Độ qua eo đất
Kra Isthmus.
Sau một thời kỳ phát triển rực rỡ, đế chế Phù Nam dần suy yếu vào cuối thế kỷ VI
Công nguyên
như Tân Đường thư đã ghi nhận vào đầu niên hiệu Trinh Quán nhà Đường (627-649): “Vua nước Phù Nam trị vì ở thành phố Đặc Mục, nhưng thành phố ấy bất thần bị nước Chân Lạp chinh phục và vua nước Phù Nam phải lánh sang phía nam ở thành phố Na-phất-na” (Pelliot 1903: 299).
Các tàn tích kiến trúc thuộc văn hóa Óc Eo ghi nhận cho đến nay qua các cuộc khai quật khảo cổ phản ánh mối liên hệ gần gũi với các hoạt động tôn giáo nói chung; điều này đồng thời xác nhận giả thiết những nơi đó từng là “trung tâm thời trang” thu hút các nghệ sĩ và thợ kim hoàn hội tụ đến đây, nơi mà sở thích và vai trò những người giàu có với sức mạnh kinh tế và thế lực chính trị có thể bảo trợ và đảm bảo cho họ phát triển tài năng của mình.
Liên quan đến nhu cầu đeo trang sức trong văn hóa Ấn Độ,
Thomas H.
Hendley (1909: 1-2) đã phân tích rằng:
Thứ nhất
: những thương nhân/quý tộc có thói quen đeo đồ trang sức, chúng thường được chế tác cầu kỳ từ những vật liệu quý, vì thế nó không chỉ thể hiện vị thế của chủ nhân, mà còn được xem như một loại hình tài sản, và thường được chủ nhân đeo trên người trong các chuyến hành hương đến các trung tâm tôn giáo. Hiểu một cách đơn giản hơn, đó là một sự quy đổi từ hình thức tích lũy tiền tệ, sang hình thức tích trữ bằng trang sức kim loại quý;
Thứ hai
: xét về vị trí, các trung tâm tôn giáo được xây dựng quy mô, và ở địa điểm không xa các khu “thương mại”, nơi khách hành hương lưu trú và thực hiện hoạt động mua bán trao đổi mọi loại hình vật phẩm. Trong thực tế, những khách hành hương đeo trang sức trên người cũng là một cách thức mang theo chi phí cho chuyến đi của họ một cách gọn nhẹ và đơn giản, do kích thước nhỏ gọn của chúng nên dễ dàng vận chuyển và cất giấu trên cơ thể. Khi cần thiết, các món trang sức giá trị đó sẽ được bán đi để đổi lấy tiền tệ địa phương, sản vật hoặc thực phẩm, hoặc thậm chí là vật phẩm để cúng dường cho các ngôi đền địa phương nơi mà họ đến viếng thăm. Do vậy, tại hầu khắp những địa điểm có đền thờ tôn giáo còn được xem là trung tâm tiếp nhận và trao đổi các ý tưởng nghệ thuật nói chung, mà kết quả từ quá trình trao đổi đó là sản phẩm trang sức được chế tác đáp ứng mọi nhu cầu thuộc nhiều tầng lớp xã hội khác nhau với mẫu mã được mượn từ các trang sức được trao đổi nêu trên, và người tiêu dùng không quá để tâm đến nguồn gốc và mục đích mà chúng được chế tác.
Các ý kiến trên có thể được vận dụng trong quá trình xem xét về lịch sử vùng đất và con người thời kỳ Óc Eo, giả thiết như sau: Vào thời kỳ Óc Eo, dân số khu vực Đồng bằng sông Cửu Long đã gia tăng đáng kể, chính điều này có thể tạo nền tảng cho sự phát triển của các trung tâm tôn giáo, các khu vực trao đổi thương mại, các loại hình dịch vụ nói chung; điều đó đã kéo theo nhu cầu về việc sử dụng vàng trong suốt thiên niên kỷ thứ Nhất
Công nguyên
ở vùng này. Theo báo cáo, Malleret đã thu thập ở khu vực phía tây sông Hậu một bộ sưu tập trang sức bằng vàng với 1311 hiện vật và nặng 1120 gram (Malleret 1962: 1).
Các loại hình di vật này tiếp tục được bổ sung từ sau năm 1975, với hơn 1000 hiện vật bằng vàng bao gồm trang sức và vàng lá, ghi nhận từ nhiều địa điểm khảo cổ ở Nam Bộ do các nhà khảo cổ học Việt Nam thực hiện (Lê Xuân Diệm, Đào Linh Côn, Võ Sĩ Khải 1995: 338)
5
.
Đó là lý do các loại hình đồ trang sức bằng vàng được tầng lớp thượng lưu địa phương ưa chuộng và sử dụng, cùng với đó là các yêu cầu về tính độc đáo và thẩm mỹ sẽ rất cao đối với những người thợ kim hoàn trong việc chế tác đồ trang sức (Demandt 2015: 321). Do đó, các loại hình đồ trang sức sẽ khác biệt với các sản phẩm thương mại thông thường, đặc biệt nếu đó là các sản phẩm mô phỏng theo kiểu dáng và các thiết kế nước ngoài, đòi hỏi kỹ thuật phức tạp và cầu kỳ hơn; cũng cần nhấn mạnh thêm, di vật nhẫn có hình bò Nandin được tìm thấy số lượng hạn chế trong các di tích Óc Eo nói chung, so với bộ sưu tập trang sức bằng hợp kim vàng hay các loại hình hiện vật khác cùng chất liệu trong nền văn hóa cổ này.
Về thực hành tôn giáo liên quan đến tín ngưỡng tôn thờ thần
Śiva
cũng cần được xem xét, nhằm góp thêm thông tin trong quá trình xác định thời gian xuất hiện của loại hình nhẫn bò thần Nandin cũng như các di tích Óc Eo có liên quan. Theo các nhà nghiên cứu, dấu vết xưa nhất về sự tiếp nhận và thực hành
Śiva giáo ở Đông Nam Á lục địa vào khoảng thế kỷ VII
Công nguyên
(Bhattacharya 1955: 479), còn được gọi là Pāśupatas có nghĩa là Śiva “Chúa tể của các linh hồn”, là giáo phái lâu đời nhất được biết đến của các tu sĩ khổ hạnh thuộc Śaivite (Acharya 2018). Triết lý chính của giáo phái Pāśupata chủ yếu là thực hành khổ hạnh và chú trọng thực hành “nghi quỹ” (
Sadhana
- trì tụng, quán tưởng, cầu nguyện) như một phương cách tiếp cận và đón nhận ân sủng từ bi của thần Śiva (karunā), để giải thoát khỏi mọi đau khổ. Các bậc tu hành theo phái Pāśupata không tu tập cố định mà thường xuyên di chuyển, mình họ phủ đầy tro bụi, mái tóc dài cuộn trên đầu, quấn quanh mình một mảnh vải thô hoặc da hươu, thần chú chính của họ là “
Om Namah Śivāya
”
6
. Các cổ thư về Pāśupatas là kinh Pāśupatasūtra (PS), được cho là của Lakulīśa, sáng tác vào khoảng thế kỷ II
Công nguyên
, và sau đó là nhiều công trình nghiên cứu đã chỉ ra thực hành tôn thờ Pāśupata, cùng các nghi thức và điều lệ, từng được ghi nhận qua các thời kỳ lịch sử Ấn Độ cổ đại (Chemburkar và Kapoor 2018: 45-7). Lần tìm các bằng chứng tài liệu thành văn liên quan đến Śiva giáo tại các quốc gia cổ đại ở Đông Nam Á, minh văn Champa C.96 được tìm thấy tại đền Mỹ Sơn E1, có lẽ cho niên đại sớm nhất, và có nội dung đề cập đến việc xây dựng đền thờ dâng hiến cho thần Śiva, niên đại năm 658
Công nguyên
; cùng với đó là các mối liên hệ hoàng gia giữa các vương quốc khu vực Đông Nam Á lục địa được thể hiện trên minh văn tìm thấy tại di chỉ Sambor Prei Kuk (Kampuchia), trong đó đề cập đến việc thực hành tín ngưỡng Pāśupata cũng trong thế kỷ VII
Công nguyên
(Chemburkar và Kapoor 2018,
sđd
).
Như vậy, các minh chứng về thực hành lễ nghi liên quan đến thờ thần Śiva được tìm thấy ở các di tích Óc Eo đặt trong bối cảnh rộng hơn của khu vực đã đưa đến giả thiết rằng hình bò thần Nandin được thấy trên nhẫn làm từ chất liệu vàng có thể có niên đại trong khoảng cuối thế kỷ VI đến thế kỷ VII
Công nguyên
. Bởi lẽ, các điêu khắc chất liệu đá thể hiện hình tượng
liṅgā
s được tìm
thấy ở vùng Transbassac, có niên đại phổ biến từ cuối thế kỷ V đến đầu thế kỷ VII CN (Malleret 1959: 377-88; O'Connor 1972: 24); đồng thời hình tượng
liṅga
đó là cở sở để đi đến nhận định về sự hiện diện của Ấn Độ giáo và việc thực hành tôn giáo này của cư dân cổ Óc Eo (Chaturvedi 2004: 11).
Kết luận
Bài viết đã phân định các khái niệm liên quan
đến hình tượng con bò (
Vṛṣabha
hay
Vṛṣa
) thường thấy trước các ngôi đền thờ thần Śiva, vốn
là biểu trưng cho các tín đồ
(
gaṇas
) tôn thờ
thần
Śiva
, và con bò chính là vật cưỡi
(
vāhana
)
của thần
Śiva; mặc dù chúng đều được gọi là Nandin/Nandi. Từ đó, đi tìm nguồn gốc của việc thực hành tín ngưỡng Śiva trong giai đoạn sớm, còn gọi là Pāśupata, tại một số vương quốc cổ khu vực Đông Nam Á lục địa trong khoảng thế kỷ VII
Công nguyên
.
Bài viết cũng thảo luận về ý nghĩa và chức năng nhẫn đeo tay chế tác bằng hợp kim vàng có hình bò Nandin. Từ đó đi đến giả thiết các di vật này là hình ảnh đại diện của chủ nhân vốn là thủ lĩnh trong cộng đồng tôn giáo, hoặc cộng đồng dân cư cùng thực hành Śiva giáo; chủ nhân chiếc nhẫn có thể quen thuộc với vùng đất này, hoặc từng sinh sống tại nơi đó trong một khoảng thời gian vào thời kỳ Óc Eo. Điều này chứng tỏ một tư tưởng cởi mở của cư dân bản địa thời kỳ Óc Eo, bởi bên cạnh các minh chứng về thực hành tín ngưỡng tôn thờ thần Śiva, vô số tác phẩm nghệ thuật thể hiện hình tượng thần
Viṣṇu
và đức Phật cũng đã được các nhà khoa học tìm thấy trong gần một thế kỷ qua. Đó chính là đầu mối để minh định về vai trò của cảng thị Óc Eo trong mối giao thương quốc tế, trong suốt thiên niên kỷ thứ Nhất
Công nguyên
. Đó cũng là những chủ đề nghiên cứu mà chúng tôi sẽ tiếp tục thảo luận trong các chuyên khảo tiếp theo.
Chú thích:
1. Bài viết là một phần kết quả nghiên cứu thuộc nhiệm vụ Khoa học và Công nghệ tỉnh An Giang năm 2023-2025:
“
Nghiên cứu phát huy giá trị bộ sưu tập hiện vật văn hóa Óc Eo tại An Giang (trong đó có nghệ thuật Phật giáo và Hindu giáo)”.
2. ‘Le Trans-bassac’ là một thuật ngữ tiếng Pháp để chỉ vùng Hậu Giang, được xác định từ bờ Nam bến phà Mỹ Thuận (cầu Mỹ Thuận ngày nay); ‘Le Cis-bassac’ cũng là một từ tiếng Pháp chỉ vùng Tiền Giang ở bờ bắc cầu Mỹ Thuận (Malleret 1959: 1-5, 1963: 1-4; Trịnh Hoài Đức 1820: 4, 18).
3. Tham khảo:
Vasundhara Filliozat, n.d.
‘
Śaiva Monuments at Paṭṭadakal
’
(Vāyavīyasaṃhitā-uttarabhāga, chapter 31, verses 53-57, p.2038).
Nguồn: <
https://asi.nic.in/wp-content/uploads/2015/12/Pattadakal_16_0516.pdf
>. Truy cập 02/09/2023.
4.
Malleret (1962: 109) cũng từng đề cập đến hai tiêu bản nhẫn trang trí bò thần Nandin khác thuộc sở hữu tư nhân.
Ngoài ra, trong khoảng đầu thế kỷ
XXI
, cán bộ Bảo tàng tỉnh An Giang còn ghi nhận một hiện vật tương tự được người dân tìm thấy tại khu di tích Óc Eo - Ba Thê, tuy nhiên đã bị mua bán và thất lạc không rõ (Bùi Chí Hoàng (chủ biên) 2018: 416)
.
5. Malleret (1962: 5-6) đã chỉ ra rằng, khu vực Đồng bằng sông Cửu Long không có các mỏ vàng, mà chỉ có dạng sa khoáng với một lượng rất ít, hoặc với dấu vết rất ít trong các mạch thạch anh, lẫn trong khoáng sulfur. Với vai trò từng là một trung tâm giao thương ở khu vực, thì việc nhập khẩu các nguồn nguyên liệu phục vụ chế tác kim hoàn là hoàn toàn có thể xảy ra, và thực hiện dễ dàng.
6.
Swami Tadananda,
Pāśupata Śaivism
.
Nguồn: <
https://www.hindupedia.com/en/P%C4%81%C5%9Bupata_%C5%9Aaivism
>, truy cập ngày 28/06/2023
TÀI LIỆU DẪN
ACHARYA, DIWAKAR 2018. ‘Pāśupatas’.
Brill’s Encyclopedia of Hinduism Online
.
Editor-in-Chief Associate Editors Knut A. Jacobsen, Helene Basu, Angelika Malinar, Vasudha Narayanan. First published online 2018, consulted on 08 March 2021
http://dx.doi.org/10.1163/2212-5019_BEH_COM_9000000056
. 25/06/2023.
BANERJEA, JITENDRA NATH 1941.
The Development Of Hindu Iconography.
India:
The University of Calcutta.
BHATTACHARYA, GOURISWAR. 1977. ‘Nandin and Vṛṣabha’.
Zeitschrift der Deutschen Morgenländischen Gesellschaft
, Supplement III, 2, XIX: 1543
-
67. Deutscher Orientalistentag.
BHATTACHARYA, KAMALESWAR
1955.
‘La Secte Des Pāçupata dans L’ancien Cambodge’,
Journal Asiatique
, Vol. 243, No. 2
:
479
.
BÙI CHÍ HOÀNG (chủ biên) 2018.
Khảo cổ học Nam Bộ thời Sơ sử.
Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội.
BÙI MINH TRÍ, NGUYỄN GIA ĐỐI, NGUYỄN KHÁNH TRUNG KIÊN
2022.
Văn hóa Óc Eo - Những phát hiện mới khảo cổ học tại di tích Óc Eo - Ba Thê và Nền Chùa 2017-2020
. Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội.
CHATURVEDI, B. K. 2004.
Shiva Purana
. New Delhi: Diamond Pocket Books. (2006 ed.)
CHEMBURKAR, SWATI VÀ SHIVANI KAPOOR 2018. ‘
The Pāśupata sect in ancient Cambodia and Champa’,
in
Vibrancy in Stone
: Masterpieces of the Danang Museum of Cham Sculpture
(eds.
Trần Kỳ Phương; Võ V. Thắng, Peter D. Sharrock):
45-56.
Bangkok: River Books.
DAVE, DUSHYANT 2017.
Motifs in Ornamentation Special Reference to Rajasthani Kundan Meena Jewellery 16th to 21st Century
(PhD thesis).
India: Banasthali Univesity.
DEMANDT, MICHÈLE H. S. 2015. ‘Early Gold Ornaments of Southeast Asia: Production, Trade, and Consumption’,
Asian Perspectives
, Vol. 54, No. 2: 305-330. Honolulu: University of Hawai'i Press.
DUTT, C. ROMESH [trans.] 1917.
The Ramayana and the Mahabharata Condensed into English Verse by Romesh C. Dutt
. London & Toronto: J. M. Dent & Sons Ltd.
FILLIOZAT, VASUNDHARA [no date].
‘
Śaiva Monuments at Paṭṭadakal
’. Nguồn:
< https://asi.nic.in/wp-content/uploads/2015/12/Pattadakal_16_0516.pdf>
, truy cập 02/09/2023.
FLAMM, PETER et al. 1992.
Epic and Puranic Bibliography (Up to 1985) Annotated and with Indexes: Part I: A - R, Part II: S - Z, Indexes.
Note 2390, p. 435.
Wiesbaden
:
Otto Harrassowitz
Publishing house.
GUPTA, ANAND SWARUP (ed.).
1972.
The Kūrma Purāṇa: with English translation
. Translated by Ahibhushan Bhattacharya (pt. I); Satkari Mukherji, Virendra Kumar Varma, and Ganga Sagar Rai (pt. II). India: Varanasi - All-India Kashiraj Trust.
HALL, KENNETH R. 1985.
Maritime Trade and State Development in Early Southeast Asia
. Honolulu: University of Hawaii Press.
HENDLEY, THOMAS HOLBEIN 1909.
Indian Jewellery
. London: Extracted from the Journal of Indian Art.
https://64.media.tumblr.com
,
truy cập ngày 5/6/2023.
https://www.hindupedia.com/en/P%C4%81%C5%9Bupata_%C5%9Aaivism
, truy cập ngày 28/06/2023.
JOUVEAU-DUBREUIL, G. 1914.
Archaélogie du Sud de l'Inde
, Tome 11 (Iconographie). Paris: Laibrairie Paul Geuthner.
KUNZ, GEORGE FREDERICK 1917.
Rings for the Finger, from the Earliest Known Times, to the Present, with full Descriptions of the Origin, Early Making, Materials, the Archaeology, History, for Affection, for Love, for Engagement, for Wedding, Commemorative, Mourning, etc
.
Philadelphia-London: J.B. Lippincott Company.
LÊ TRUN
G,
TRỊNH THỊ HÒA 1984. ‘Những hiện vật văn hóa Óc Eo tàng trữ tại Bảo tàng Lịch sử Thành phố Hồ Chí Minh’.
Văn hóa Óc Eo và các Văn hóa cổ ở Đồng bằng Cửu Long
:
166-76. An Giang: Nxb. Sở Văn hóa và Thông tin An Giang.
LÊ XUÂN DIỆM, ĐÀO LINH CÔN, VÕ SĨ KHẢI 1995.
Văn hoá Óc Eo - Những khám phá mới.
Hà Nội: Nxb. Khoa học Xã hội.
MALLERET, LOUIS 1959.
L’Archéologie du Delta du Mékong - Tome Premier: L’exploration Archéologique Et Les Fouilles D’Oc-Èo.
Paris: École Française d’Extrême-Orient, Volume XLIII.
MALLERET, LOUIS 1962.
L’Archéologie du Delta du Mékong - Tome Troisième
: La Culture Du Fou-nan. Paris: École Française d’Extrême-Orient, Volume XLIII.
MALLERET, LOUIS 1963.
L’archéologie du Delta du Mékong - Tome Quatrième
:
Le Cisbassac
. Paris: École Française d’Extrême-Orient, Volume XLIII.
MANGUIN, P.-Y. 2009.
The Archaeology of Fu Nan in the Mekong River Delta: The Oc Eo Culture of Viet Nam. In Tingley N. (ed.),
Arts of Ancient Viet Nam - From River Plain to Open Sea
, pp. 103-18. London: Yale University Press.
MARINA, V. ORBLSKAYA VÀ MARINA, V. ORELSKAYA 1997. ‘Nandikeśvara in Hindu mythology’,
Annals of the Bhandarkar Oriental Research Institute
, Vol. 78, No. 1/4: 233-48. India: Bhandarkar Oriental Research Institute.
O'CONNOR, STANLEY 1972. ‘Hindu Gods of Peninsular Siam’,
Artibus Asiae
, Supplementum, Vol. 28
.
Pelliot, Paul. 1903. ‘Le Fou-nan’.
Bulletin de l’Ecole Francaise d’Extrême-Orient
, No.3, pp. 248-303.
SHASTRI, J. L. (ed.). 1951.
Liṅga Purāṇa
. Part 1. India: Delhi. [reprinted 1990]
.
SHASTRI, J. L. (ed.). 1981
.
‘Kurma Purana’. Vol. 20-21. Translated and Annotated by Ganesh Vasudeo Tag
o
re. Indological Publishers & Booksellers.
TRỊNH HOÀI ĐỨC 1820.
Gia Định
T
hành Thông chí
.
ĐỖ MỘNG KHƯƠNG, NGUYỄN NGỌC TỈNH, TU TRAI NGUYỄN TẠO, LÝ VIỆT DŨNG
(dịch và chú giải) năm 2004. Biên Hòa: Nxb. Tổng hợp Đồng Nai.