Không để ai bị bỏ lại phía sau: thúc đẩy quá trình chuyển đổi số vùng biên giới đất liền của nước ta
Tóm tắt
Việc thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị đang tạo ra những chuyển biến tích cực, giúp đồng bào các dân tộc thiểu số tại vùng biên giới đất liền nước ta từng bước tiếp cận và xây dựng cuộc sống số. Tiến trình chuyển đổi số đang có sự chchênh lệch lớn về tốc độ giữa các vùng miền. Vùng biên giới đất liền – nơi sinh sống chủ yếu của đồng bào các dân tộc thiểu số – đang đối mặt với nguy cơ tụt hậu do rào cản hạ tầng và năng lực số. Bài nghiên cứu này vận dụng cách tiếp cận khoa học xã hội và nhân văn để phân tích thực trạng chuyển đổi số vùng biên giới đất liền, đặt con người và văn hóa bản địa làm trung tâm. Nghiên cứu chỉ ra rằng, chuyển đổi số không thuần túy là cuộc cách mạng về công nghệ, mà là sự chuyển đổi về nhận thức, thói quen và thích ứng văn hóa. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất các giải pháp mang tính bao trùm nhằm hiện thực hóa cam kết chiến lược "Không để ai bị bỏ lại phía sau" trong kỷ nguyên số. Từ khóa: Nghị quyết số 57, chuyển đổi số; biên giới đất liền; khoa học xã hội và nhân văn; không để ai bị bỏ lại phía sau; dân tộc thiểu số
1.Đặt vấn đề
Ngày 22/12/2024, Tổng Bí
thư Tô Lâm đã ký ban hành Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị về đột phá
phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia. Phát
triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đang là yếu tố
quyết định phát triển của các quốc gia; là điều kiện tiên quyết, thời cơ tốt
nhất để nước ta phát triển giàu mạnh, hùng cường trong kỷ nguyên mới - kỷ
nguyên vươn mình của Dân tộc[1].
Vùng biên giới đất liền
của Việt nam có chiều dài hơn 5.000km đi qua 23 tỉnh, tiếp giáp với Trung Quốc,
Lào và Campuchia. Đây là địa bàn chiến lược về quốc phòng, an ninh. Địa hình
chia cắt, phần lớn là vùng núi cao, hiểm trở, hệ thống hang động và sông suối
dày đặc (đặc biệt là biên giới phía Bắc và Tây Nguyên); thường xuyên chịu ảnh
hưởng của thiên tai như lũ quét, sạt lở đất, giông lốc…; là nơi sinh sống chủ
yếu của 53 đồng bào dân tộc thiểu số, mỗi dân tộc có phong tục, tập quán và
ngôn ngữ, văn hóa riêng, người dân sống phân tán theo các bản, làng dọc đường
biên giới. Phương thức sản xuất chủ yếu vẫn là nông - lâm nghiệp truyền thống,
quy mô nhỏ lẻ. Tỷ lệ hộ nghèo dao động rất lớn, từ dưới 5% ở các vùng thuận lợi
đến trên 60%, các xã biên giới vẫn là lõi nghèo.
Nghị quyết số 57-NQ/TW
xác định chuyển đổi số là động lực quan trọng để thu hẹp khoảng cách phát triển
giữa các vùng miền, đồng thời hỗ trợ bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa của đồng
bào dân tộc thiểu số, nhưng lại đối mặt với nhiều rào cản thách thức làm nổi
bật tính cấp bách khi một bộ phận cư dân là đồng bào dân tộc thiểu
số sống dọc đường biên giới, có nguy cơ rơi vào trạng thái "nghèo đói kỹ thuật
số" và bị đẩy ra ngoài lề của sự phát triển.
Để khắc phục những hạn
chế của các dự án chuyển đổi số trước đây thường tiếp cận theo hướng "áp
đặt từ trên xuống", chú trọng quá mức vào các chỉ số kỹ thuật như: tỷ lệ
phủ sóng 4G/5G, số lượng điện thoại thông minh, hay tỷ lệ cài đặt ứng dụng công
trực tuyến. Cách tiếp cận này bỏ qua các yếu tố đặc thù về rào cản ngôn ngữ,
tâm lý e ngại công nghệ, cấu trúc gia đình truyền thống và thói quen văn hóa
bản địa của người dân biên giới. Bài nghiên cứu này vận dụng cách tiếp cận khoa
học xã hội và nhân văn để phân tích thực trạng chuyển đổi số vùng biên giới đất
liền, đặt con người và văn hóa bản địa làm trung tâm và đề xuất các giải pháp
phù hợp.
2. Cách tiếp cận và
phương pháp nghiên cứu
2.1. Cách tiếp cận
- Tiếp
cận dưới góc độ của khoa học xã hội và nhân văn: lấy con người và văn hóa làm
trung tâm; mọi hoạt động số hóa không chỉ chạy theo công nghệ, mà phải phục vụ
trực tiếp cho nhu cầu, giá trị và bản sắc của cộng đồng. Người dân vừa là chủ
thể tham gia, vừa là đối tượng thụ hưởng; đảm bảo mọi thành phần trong xã hội,
không phân biệt địa lý, dân tộc, giới tính hay thu nhập, đều có cơ hội tiếp
cận, sử dụng và thụ hưởng công bằng các thành quả từ công nghệ số; văn hóa vừa
được bảo tồn, vừa được phát huy trong môi trường số.
- Cách tiếp cận phát
triển bền vững: Coi công nghệ là công cụ phục vụ con người, đặt người dân làm
trung tâm thay vì chỉ chạy theo tăng trưởng kinh tế hay số lượng phần mềm. Phát
triển bền vững trong chuyển đổi số vùng biên giới không chỉ là xây dựng hạ tầng
số hiện đại, mà còn là trao quyền kỹ năng số cho người dân, gắn
kết với quốc phòng – an ninh và kinh tế cộng đồng. Phát triển bền
vững là "đích đến" của quá trình chuyển đổi số (thu hẹp khoảng cách
số, nâng cao phương thức sản xuất bản địa và chất lượng sống cho người dân vùng
biên). Đây là cách tiếp cận toàn diện giúp vùng biên giới vừa hội nhập số, vừa
giữ vững chủ quyền và phát triển lâu dài.
2.2. Phương pháp nghiên
cứu
- Chủ yếu sử dụng phương
pháp nghiên cứu thứ cấp - desk research: thu thập, phân tích
dữ liệu có sẵn từ sách báo, tài liệu lưu trữ, văn bản lịch sử và các báo cáo đã
công bố trong lĩnh vực chuyển đổi số, các trang web và cổng thông tin điện tử
chính thống do cơ quan nhà nước vận hành nhằm quản lý, định hướng và hỗ trợ người
dân, doanh nghiệp, như báo Điện tử Chính phủ, Báo Nhân Dân, Tạp chí Quốc phòng,
cổng chuyển đổi số quốc gia… Phân tích tài liệu, chính sách phát triển kinh tế
- xã hội vùng biên giới. Nghiên cứu phối hợp liên ngành giữa dân tộc học, xã
hội học và kinh tế học phát triển…
3.Kết quả nghiên
cứu và thảo luận
3.1. Kết quả nghiên
cứu
- Thực trạng chuyển đổi
số vùng biên giới đất liền nước ta, những kết quả đạt được và nguyên nhân
Việc thực hiện Nghị quyết
số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới
sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia đang tạo ra những chuyển biến mạnh mẽ tại
vùng biên giới đất liền từng bước xây dựng cuộc sống số. Những dấu ấn nổi bật:
+ Hiện thực hóa hạ tầng
số và xóa vùng lõm sóng: Quá trình xóa vùng lõm sóng tại vùng biên giới đất
liền được triển khai thực tế thông qua chiến lược kết hợp hạ tầng "điện đi
trước, viễn thông theo sau", chuyển dịch từ rà soát trên giấy sang giải
quyết trực tiếp từng điểm nghẽn thực địa. Quy trình thực tế được các địa phương
biên giới phối hợp cùng Tập đoàn Điện lực Việt Nam và các tập đoàn viễn thông
lớn. Điện lưới là điều kiện tiên quyết để vận hành các trạm phát sóng bền vững,
với các địa hình đặc biệt hiểm trở chưa thể kéo điện ngay, giải pháp thay thế
là sử dụng pin năng lượng mặt trời hoặc máy phát điện độc lập để duy trì trạm
băng rộng di động.
+ Thiết lập mô hình
chuyển đổi số cấp xã, chuẩn hóa dịch vụ công để đồng bào dễ dàng làm thủ tục
hành chính trực tuyến mà không cần đi xa. Người dân biên giới có thể giải quyết
các thủ tục hành chính trực tuyến thông qua định danh điện tử mà không cần phải
di chuyển lên trung tâm tỉnh. Tính đến năm 2026, hàng ngàn trạm phát sóng (BTS)
đã được triển khai tại các xã biên giới biên viễn. Tỷ lệ người dân trưởng thành
tại vùng biên giới đất liền có điện thoại thông minh ngày càng tăng. Tại các
địa bàn thí điểm chuyển đổi số hoặc khu trung tâm vùng biên: Nhờ các mô hình
như "Tổ công nghệ số cộng đồng" hay chiến dịch “Bình dân học vụ số”
của lực lượng Bộ đội Biên phòng và Thanh niên, nhiều bản làng vùng biên đã đạt
tỷ lệ từ 80% đến 90% hộ dân hoặc người trưởng thành có điện thoại
thông minh, tạo nền tảng vững chắc cho một "xã hội số" vùng biên.
+ Thúc đẩy kinh tế số,
thay đổi phương thức sinh kế và phát triển tri thức bản địa: Việc phát triển
chợ số và nông thôn số tại vùng biên giới đất liền đang được triển khai mạnh
mẽ, chuyển từ giai đoạn thí điểm sang diện rộng. Đây là chiến lược trọng tâm
nhằm thu hẹp khoảng cách số, thúc đẩy kinh tế biên mậu và cải thiện sinh kế cho
đồng bào dân tộc thiểu số. Thông qua chương trình "Mỗi xã một sản
phẩm", gần 10.000 sản phẩm OCOP (phần lớn là đặc sản, tri thức bản địa của
vùng miền núi, biên giới) đã được đưa lên các sàn thương mại điện tử lớn
(PostMart, Voso, Shopee, Lazada). Hơn 5 triệu hộ sản xuất nông nghiệp tại các
vùng nông thôn, miền núi được đào tạo kỹ năng số, tự mở tài khoản thanh toán và
livestream bán hàng trên mạng xã hội. Việc này giúp phá vỡ thế độc quyền của
thương lái trung gian - vốn là nguyên nhân cốt lõi gây nghèo đói kéo dài.
+ Các mô hình "Chợ
số" được vận hành đồng bộ theo tiêu chí 4T bao gồm: Tiểu thương – Thương
mại điện tử – Thanh toán không dùng tiền mặt – Tiết kiệm số. 100% hộ kinh doanh
tại các chợ trung tâm xã biên giới được trang bị mã VietQR, tài khoản ví điện
tử (như Viettel Money hoặc VNPT Money) để giao dịch không dùng tiền mặt; người
dân tại các xã biên giới (như xã Ia Lốp - Đắk Lắk, Bát Xát - Lào Cai, hay La
Dêê - Quảng Nam) tự mở các phiên livestream ngay tại bản làng để quảng bá đặc
sản đại ngàn, lúa nếp, thổ cẩm. Chợ số vùng biên được thiết kế để hỗ trợ xuất
khẩu tại chỗ, giúp giao thương với cư dân biên giới nước bạn thuận tiện và minh
bạch hơn
+ Số hóa nông nghiệp
tại các vùng biên giới đất liền được thực hiện thông qua việc ứng dụng công
nghệ số để vượt qua rào cản địa hình, kết nối giao thương xuyên biên giới và
tối ưu hóa tài nguyên bản địa. Hoạt động này được triển khai đồng
bộ từ khâu quản lý, canh tác cho đến khâu tiêu thụ, xuất nhập khẩu chính ngạch.
Ứng dụng định vị toàn cầu (GPS) và nhật ký điện tử để cấp mã vùng trồng cho
nông sản, hỗ trợ truy xuất nguồn gốc sản phẩm từ vùng cao. Do đặc thù biên giới
phục vụ mục tiêu xuất khẩu sang các nước láng giềng như Trung Quốc, Lào,
Campuchia, số hóa tập trung mạnh vào tính minh bạch. Các địa phương biên giới
như Sơn La, Lạng Sơn, Lai Châu chuẩn hóa dữ liệu đáp ứng tiêu chuẩn xuất khẩu
chính ngạch. Một số địa phương, xã biên giới tiêu biểu và các mặt hàng nông sản
đã được cấp mã số vùng trồng xuất khẩu, như mận hậu, nhãn Miền Thiết, chè, dâu
tây chanh leo (Sơn La); chuối, dứa, cam, quýt (Lào Cai); thạch đen, chanh rừng
Mẫu Sơn (Lạng Sơn); sầu riêng, xoài, chuối xuất khẩu (Đắk Lắk, Gia Lai); thanh
long, mít, xoài hạt lép và lúa chất lượng cao (Long An, An Giang, Đồng Tháp)…
Để hỗ trợ hoạt động tiêu thụ nông sản do đồng bào tự sản xuất, các thành viên
của Tổ công nghệ số cộng đồng kết hợp với lực lượng Biên phòng, Đoàn thanh niên
đến từng sạp chợ, từng nhà dân để hướng dẫn chụp ảnh sản phẩm, viết bài giới
thiệu và tạo gian hàng số. Để giúp người nghèo chuyển đổi sang nông nghiệp
chính xác và bền vững, các giải pháp công nghệ số đã tập trung vào các giải
pháp chi phí thấp, dễ vận hành và mang tính chia sẻ cộng đồng.
+ Hiện thực hóa các dịch
vụ công số và an sinh xã hội số: Thực hiện hành chính công đơn giản hỗ trợ
người nghèo giải quyết thủ tục bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế hoàn toàn trực
tuyến để giảm chi phí đi lại.
- Một số nguyên nhân của
thành công trong chuyển đổi số vùng biên giới đất liền trong thời gian qua:
Một là, chính
sách hỗ trợ dòng vốn để phát triển chợ số và nông thôn số tại vùng biên giới
đất liền đang được thúc đẩy mạnh mẽ thông qua gói lồng ghép các Chương trình
mục tiêu quốc gia (CTMTQG) và hệ thống tín dụng chính sách ưu
đãi. Nội dung hỗ trợ trọng tâm: Phát triển hạ tầng internet, nâng
cấp chợ truyền thống thành chợ số, chuyển giao công nghệ, triển khai cho vay ưu
đãi vốn mồi thương mại điện tử, đầu tư thiết bị livestream, phát triển sản phẩm
OCOP, đổi mới công nghệ, xây dựng chuỗi cung ứng nông sản số, mã vùng trồng…
Hai là, tại
các địa phương (từ miền núi phía Bắc, miền Trung cho đến Tây Nam Bộ), việc đưa
dịch vụ công số đến với người nghèo và người yếu thế đã chuyển từ giai đoạn
"thử nghiệm" sang triển khai diện rộng với nhiều mô hình sáng tạo.
Chính phủ và chính quyền các tỉnh biên giới đang áp dụng triết lý số hóa thực
chất để tháo gỡ rào cản công nghệ cho đồng bào. Đối với người khuyết tật, người
già neo đơn hoặc người dân sống tại các bản làng xa xôi cách trở, việc đi lại
lên UBND xã là một trở ngại lớn. Nhiều địa phương (như Thanh Hóa, Quảng Trị)
đang vận hành hiệu quả các Tổ dịch vụ công lưu động. Cán bộ tư pháp, công an và
tình nguyện viên mang theo máy tính, thiết bị kết nối mạng di động đến tận nhà
giải quyết trực tiếp tại chỗ các thủ tục cốt lõi như đăng ký khai sinh, cấp thẻ
bảo hiểm y tế hộ gia đình, làm thủ tục trợ cấp xã hội, định danh tài khoản
VNeID giúp người dân tiết kiệm toàn bộ chi phí và thời gian đi lại.
Ba là, xây
dựng phát triển các mô hình đột phá tại vùng biên giới "Bộ đội Biên phòng
đồng hành chuyển đổi số nơi biên giới", lực lượng biên phòng phối hợp với
chính quyền địa phương lập các tổ công nghệ số cộng đồng để hướng dẫn người dân
“theo hình thức trực tiếp – cầm tay chỉ việc”; phát động phong trào "Bình
dân học vụ số", thực hành phổ cập kỹ năng số cơ bản cho đồng bào dân tộc
thiểu số, xóa mù công nghệ và hướng dẫn sử dụng điện thoại thông minh an toàn.
Bốn là, chiến
dịch "Đại sứ số": Sử dụng các tri thức trẻ, học sinh, sinh viên vùng
cao làm nòng cốt để phổ cập kỹ năng số cho gia đình và người lớn tuổi trong bản
làng. Bộ Tư lệnh Bộ đội Biên phòng phát động chiến dịch "Cột mốc số", nhằm
huy động sức dân cùng chiến sĩ biên phòng bảo vệ biên giới gắn liền với quản lý
dữ liệu số…
3.2. Những thách thức
Việc triển khai thực hiện
Nghị quyết số 57-NQ/TW đối với các đối tượng là các hộ nghèo vùng đồng bảo dân
tộc thiểu số ở biên giới đất liền đang vấp phải 5 nhóm thách thức cốt lõi:
Một là, rào
cản về ngôn ngữ và trình độ tiếp cận (năng lực số): Nhiều người
nghèo DTTS vùng biên giới đất liền (đặc biệt là phụ nữ và người lớn tuổi) chưa
thành thạo tiếng phổ thông (tiếng Kinh), trong khi hầu hết giao diện phần mềm,
ứng dụng dịch vụ công trực tuyến và các sàn số đều dùng tiếng Việt. Trình độ
học vấn của hộ nghèo còn hạn chế, dẫn đến kỹ năng số cơ bản như thao tác ứng
dụng, bảo mật thông tin hay quét mã QR còn rất yếu. Đồng bào quen với phương
thức tương tác truyền thống "mắt thấy, tai nghe, tay sờ", có tâm lý
sợ sai, sợ bị lừa đảo khi thao tác trực tuyến.
Hai là, khó
khăn trong chuyển đổi số kinh tế và sinh kế: Tập quán canh tác lạc hậu, việc
ứng dụng khoa học công nghệ, quy trình canh tác số (như truy xuất nguồn gốc)
đòi hỏi ghi chép dữ liệu, đây là điều rất khó khăn đối với các hộ nghèo. Thương
mại điện tử khó khả thi, dù có thể livestream bán sản phẩm, hộ nghèo biên giới
khó duy trì do sản lượng nông sản nhỏ lẻ, chất lượng không đồng đều, thiếu kỹ
năng đóng gói và logistics. Hạ tầng giao thông kìm hãm, chi phí vận
chuyển nông sản từ vùng biên giới biệt lập ra trung tâm rất cao, triệt tiêu lợi
thế cạnh tranh về giá khi đưa sản phẩm lên sàn thương mại điện tử.
Ba là, thách
thức về hạ tầng số và thiết bị đầu cuối: Địa hình biên giới hiểm
trở, núi cao che khuất khiến nhiều bản làng xa xôi vẫn chưa có sóng di động ổn
định, sóng di động và mạng Internet băng rộng chưa bao phủ toàn diện/hoặc chưa
tiếp cận được Internet cáp quang tốc độ cao. Nhiều cụm dân cư vùng
cao biên giới vẫn đối mặt với tình trạng thiếu điện sinh hoạt hoặc điện chập
chờn, gây khó khăn cho việc duy trì thiết bị và vận hành trạm phát sóng (tạo
nhiều vùng lõm sóng viễn thông). Các vùng lõm sóng chủ yếu nằm dọc dãy Trường
Sơn, khu vực Tây Bắc, Tây Nguyên và biên giới Tây Nam. Cuối năm 2024, toàn quốc
ghi nhận còn 761 thôn, bản chưa có sóng (trong đó có 543 địa bàn đặc biệt khó
khăn dọc tuyến biên giới và miền núi chia cắt)[2]. Mặc dù sóng di động cơ bản đã phủ đến
trung tâm các xã biên giới, tình trạng lõm sóng, sóng yếu, chập chờn vẫn diễn
ra phổ biến ở quy mô cấp thôn, bản, khu dân cư phân tán (chiếm khoảng 3% dân số
vùng cao). Thực trạng các vùng lõm sóng viễn thông hiện nay là một "nút
thắt" lớn, ảnh hưởng trực tiếp đến mục tiêu đưa Nghị quyết số 57-NQ/TW của
Bộ Chính trị vào đời sống đồng bào dân tộc thiểu số.
Về thiết bị đầu cuối: Tuy
hiện nay điện thoại thông minh đã được sử dụng phổ biến trong dân cư, tuy nhiên
đại bộ phận người dân thuộc diện hộ nghèo không có kinh phí để tự trang bị điện
thoại thông minh hoặc máy tính dẫn đến tình trạng thiếu thiết bị đầu cuối thông
minh (smartphone, máy tính) đối với các hộ yếu thế là các hộ nghèo.
Bốn là, thách
thức về thiếu hụt nguồn lực hỗ trợ tại cơ sở: Cán bộ xã biên giới
thường phải kiêm nhiệm nhiều việc, năng lực công nghệ và số hóa còn hạn chế,
chưa đủ thời gian để cầm tay chỉ việc cho từng hộ dân. Các tổ công nghệ số cộng
đồng chủ yếu hoạt động kiêm nhiệm, tình nguyện, thiếu công cụ hỗ
trợ và các nguồn hỗ trợ thường xuyên để duy trì hoạt động lâu dài tại các bản
làng xa xôi.
Năm là, nguy
cơ mất an toàn thông tin và tái nghèo số: Tỷ lệ biết chữ và trình
độ học vấn ở một số vùng biên giới còn thấp. Nhận thức của một bộ phận người
dân về chuyển đổi số còn mơ hồ, dẫn đến tâm lý e ngại tiếp cận công nghệ mới.
Đặc biệt đối với hộ nghèo, họ thường thiếu kiến thức bảo mật, dễ trở thành nạn
nhân của tội phạm công nghệ cao (lừa đảo trúng thưởng, vay tín dụng đen qua
app, lôi kéo cài phần mềm độc hại)...
Hệ quả đối với tiến trình
chuyển đổi số là:
- Kìm hãm sinh kế nông
nghiệp, do không có mạng/hoặc mạng không ổn định, đồng bào không thể cập nhật
kỹ thuật canh tác mới, không thể quét mã truy xuất nguồn gốc sản phẩm và hoàn
toàn đứng ngoài luồng quay của kinh tế số hay thương mại điện tử.
- Làm sâu sắc thêm
"khoảng cách số", người dân tại các vùng lõm sóng hầu như bị ngắt kết
nối với các tiện ích số thiết yếu. Họ gặp khó khăn khi nộp hồ sơ trực tuyến,
không thể tích hợp định danh điện tử VNeID và không tiếp cận được giáo dục trực
tuyến hay y tế số. Nếu không được hỗ trợ kịp thời, nhóm đối tượng này sẽ rơi
vào "vùng trũng số", mất đi cơ hội tiếp cận y tế, giáo dục trực tuyến
và các chính sách an sinh, khiến cái nghèo càng bám dai dẳng.
Bối cảnh trên vừa là
thách thức nhưng cũng làm nổi bật tính cấp bách của việc triển khai thực hiện
Nghị quyết 57 tại vùng biên giới.
4. Kết luận và kiến nghị
giải pháp
- Kết luận
Thúc đẩy quá trình chuyển
đổi số vùng biên giới đất liền với tinh thần "không để ai bị bỏ lại phía
sau" là một chiến lược mang tính toàn diện và dài hạn. Dưới lăng kính của
khoa học xã hội và nhân văn, chuyển đổi số tại địa bàn đặc thù này không dừng
lại ở việc đầu tư hạ tầng kỹ thuật hay số hóa thủ tục hành chính, mà cốt lõi
nằm ở sự tương thích văn hóa và bình đẳng cơ hội. Công nghệ chỉ thực sự phát
huy giá trị khi nó tôn trọng sự đa dạng tộc người, thấu hiểu những rào cản về
mặt ngôn ngữ, nhận thức và thích ứng linh hoạt với sinh kế của đồng bào vùng
biên. Do đó, việc đặt con người làm trung tâm, lấy các giá trị nhân văn và đặc
trưng xã hội làm gốc sẽ giúp thu hẹp khoảng cách số một cách bền vững. Đây
không chỉ là đòn bẩy phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao dân trí mà còn là
nền tảng vững chắc để xây dựng thế trận lòng dân, bảo vệ chủ quyền biên giới
quốc gia trong kỷ nguyên số.
- Kiến nghị giải pháp
Để giải quyết các rào cản
đặc thù tại các vùng biên giới đất liền để bảo đảm "Không để ai bị
bỏ lại phía sau", xin kiến nghị các nhóm giải pháp sau:
(1) Phổ cập hạ tầng số và
xóa các "vùng lõm" sóng
Xóa điểm lõm sóng viễn
thông: Triển khai các giải pháp hạ tầng công nghệ kết nối để đảm
bảo toàn bộ người dân vùng biên giới tiếp cận được dịch vụ mạng viễn thông ổn
định, hỗ trợ trang bị các thiết bị đầu cuối thông minh (như điện thoại thông
minh) cho các hộ nghèo, cận nghèo người DTTS. Tại các địa bàn biên
giới hiểm trở, việc kéo cáp quang mặt đất bất khả thi triển khai nghiên cứu và
thử nghiệm thay thế bằng giải pháp kết nối vệ tinh (như chùm vệ tinh tầm thấp)
để phủ sóng băng thông rộng.
Chia sẻ hạ tầng dùng
chung: Buộc các nhà mạng (Viettel, VNPT, MobiFone) phải dùng chung cột ăng-ten,
trạm phát sóng tại khu vực tuần tra biên giới để tối ưu hóa chi phí đầu tư. Ưu
tiên hạ tầng băng thông rộng, tập trung đầu tư, nâng cấp hạ tầng mạng viễn
thông, mạng internet băng rộng, đặc biệt là phủ sóng 4G/5G và tập
trung ưu tiên cho các thôn, bản vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới có đông đồng
bào DTTS sinh sống.
(2) Phát triển kinh tế số
nông thôn và kết nối thị trường cho nông sản
Mô hình "chợ số -
nông thôn số": Nhân rộng mô hình chợ công nghệ, sàn thương mại điện tử
phục vụ riêng cho nông sản và sản phẩm thủ công truyền thống (sản phẩm OCOP)
của đồng bào DTTS và vùng biên giới.
Số hóa chuỗi cung ứng sản
phẩm: Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số trong việc đăng ký thương hiệu, quản lý
chất lượng và truy xuất nguồn gốc nông - lâm sản vùng biên giới, giúp đồng bào
dễ dàng trực tiếp kết nối và tìm kiếm khách hàng trên các nền tảng số mà không
cần qua trung gian thương lái.
(3) Nâng cao năng lực và
"Bình dân học vụ số" tại cộng đồng
Phát huy vai trò tổ công
nghệ số cộng đồng: Thành lập và duy trì hoạt động của các tổ công nghệ số cộng
đồng đi từng ngõ, gõ từng nhà. Lực lượng cốt lõi bao gồm thanh niên, cán bộ xã
và đặc biệt là các giáo viên cắm bản để trực tiếp "cầm tay chỉ việc",
hướng dẫn đồng bào sử dụng công nghệ số. Chuyển đổi mô hình các tổ công nghệ số
cộng đồng tại các bản làng biên giới thành các "Trạm điều hướng năng lực
số". Xây dựng tài liệu hướng dẫn kỹ năng số bằng ngữ âm và hình ảnh trực
quan, dịch sang tiếng tộc người để dạy đồng bào cách nhận biết tin giả, phòng
chống lừa đảo mạng và bảo mật thông tin cá nhân.
Phổ cập kỹ năng công dân
số: Hướng dẫn người dân làm quen với các ứng dụng công nghệ cơ bản phục vụ đời
sống như: Định danh điện tử (VNeID), tài khoản bảo hiểm y tế, mở tài khoản
thanh toán không dùng tiền mặt và nộp hồ sơ dịch vụ công trực tuyến đối với các
thủ tục thiết thực.
(4) Số hóa dữ liệu an
sinh xã hội
Chuyển
đổi các thông tin, hồ sơ, giấy tờ truyền thống về chính sách xã hội, bảo hiểm
và trợ cấp đối với đồng bào vùng biên giới sang dạng dữ liệu số. Dữ liệu này
được tích hợp, liên thông trên các nền tảng công nghệ quốc gia (như VNeID)
nhằm giải quyết thủ tục nhanh chóng và chi trả trợ cấp minh bạch. Các
hoạt động trọng tâm, xây dựng cơ sở dữ liệu tập trung về các đối
tượng chính sách, người có công, hộ nghèo và người tham gia bảo hiểm; tích hợp
tài khoản và lịch sử thụ hưởng an sinh xã hội lên ứng dụng định danh điện tử;
kết nối và chia sẻ dữ liệu giữa các cơ quan lao động, bảo hiểm xã hội, công an
và ngân hàng.
(5) Số hóa giáo dục và y
tế
Đẩy mạnh ứng dụng nền
tảng hỗ trợ khám, chữa bệnh từ xa cho các trạm y tế xã. Phát triển các nền tảng
dạy và học trực tuyến, kho học liệu số để nâng cao chất lượng giáo dục vùng
cao.
Ứng dụng công nghệ thông
tin và chuyển đổi số để lưu trữ, số hóa tư liệu, di sản, tiếng nói và chữ viết
của các dân tộc thiểu số vùng biên giới đất liền, biến di sản văn hóa thành tài
nguyên số có giá trị phục vụ du lịch và giáo dục.
(6) Xây dựng và phát
triển các mô hình triển khai thực tế nổi bật hiện nay
Mô hình "Thôn
số", "Bản làng số": Được áp dụng hiệu quả tại các tỉnh biên giới
phía Bắc (Lào Cai, Sơn La, Tuyên Quang) giúp cụ thể hóa chuyển đổi số bằng các
việc như xử lý hồ sơ nhanh hơn, đưa nông sản lên sàn số, số hóa dữ liệu cư trú.
Mô hình "Đại sứ
số": Đào tạo chính các học sinh hoặc người có uy tín là người đồng bào
DTTS trở thành các tuyên truyền viên, giúp gạt bỏ tâm lý e ngại công nghệ của
thế hệ lớn tuổi trong bản làng.
Mô hình công nghệ chi phí
thấp và "Bình dân học vụ số"; Mô hình kinh tế chia sẻ (Dùng chung
công nghệ), mô hình thực hành quy trình canh tác thông minh, bền vững (Ít tốn
chi phí) ứng dụng kỹ thuật canh tác chính xác, hướng dẫn các tổ hợp tác dán tem
QR code (khởi tạo miễn phí trên các nền tảng hỗ trợ của nhà nước) lên nông sản
để chứng minh nguồn gốc sạch, giúp bán được giá cao hơn; Bán hàng qua
livestream, đào tạo thanh niên trong các hộ nghèo thực hành livestream bán đặc
sản (như mật ong, măng rừng, gạo nếp...) trực tiếp trên TikTok, Facebook nhằm
cắt giảm chi phí trung gian.
Mô hình đội kỹ thuật số
bám bản: Lực lượng khuyến nông và Tổ công nghệ số cộng đồng trực tiếp xuống tận
vườn, hướng dẫn theo kiểu "một kèm một" cho đến khi người dân thuần
thục thao tác./.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1.Bộ chính trị,
Nghị quyết 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo
và chuyển đổi số quốc gia; truy cập từ
https://xaydungchinhsach.chinhphu.vn › toan-van-nghi-..., ngày
19/08/2026.
2. Báo vietnamnet, ngày 02/9/2024:
761 thôn chưa có sóng di động, truy cập từ https://vietnamnet.vn ›
Nông thôn mới,.
3. Báo Lào Cai điện
tử, ngày 15/12/ 2025: Lào Cai quyết tâm xóa dứt điểm các vùng lõm sóng,
truy cập từ https://baolaocai.vn › lao-cai-quyet-tam-xoa-dut-diem-c...
4. Bộ Thông tin và Truyền
thông. (2020). Quyết định số 749/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ: Phê duyệt
"Chương trình Chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm
2030". Cổng thông tin điện tử Chính phủ.
5. Chính phủ. (2021).
Quyết định số 1719/QĐ-TTg: Phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển
kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn
2021–2030. Cổng thông tin điện tử Chính phủ.
6. Trần Hữu Sơn
(2023), Mạng xã hội với
vấn đề tuyên truyền vùng đồng bào dân tộc thiểu số, truy cập từ https://www.bienphong.com.vn ›
Chính trị, ngày 17/5/ 2023
7. Ủy ban Dân tộc (2024).
Báo cáo tình hình thực hiện ứng dụng công nghệ thông tin và chuyển đổi số tại
vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi. Văn phòng Ủy ban Dân tộc.
8. Chu Hiệu/TTXVN
(baotintuc.vn, 2026), Những cách làm hay trong chuyển đổi số ở vùng đồng bào
dân tộc thiểu số, truy cập từ https://dantocmiennui.baotintuc.vn ›
nhung-cach-lam-ha... ngày 24/6/2026.
9. Hương Thu/TTXVN
(2026), baotintuc.vn: Đột phá theo Nghị quyết 57: Khi đồng bào dân tộc
chuyển đổi số, truy cập từ https://dantocmiennui.baotintuc.vn ›
dot-pha-theo-nghi-... ngày 07/01/2026.
[1]https://xaydungchinhsach.chinhphu.vn ›
toan-van-nghi-..., ngày 18/08/2026.
[2] Nông
thôn mới : 761 thôn chưa có sóng di động, truy cập từ https://vietnamnet.vn ›
Nông thôn mới, ngày 02/9/2024.