Nạn đói năm Ất Dậu nhân tố thúc đẩy cuộc tổng khởi nghĩa giành chính quyền ở đồng bằng Bắc Kỳ thắng lợi trong Cách mạng Tháng Tám 1945
Nạn đói năm Ất Dậu 1945 là một trong những thảm họa nghiêm trọng nhất trong lịch sử Việt Nam hiện đại, diễn ra đặc biệt gay gắt ở đồng bằng Bắc Kỳ vào cuối năm 1944 và đầu năm 1945. Nạn đói là kết quả của sự tác động tổng hợp giữa thiên tai, mất mùa với chính sách khai thác, bóc lột và thu vét lương thực của thực dân Pháp và phát xít Nhật. Gánh nặng thuế khóa, địa tô, nợ nần, cùng với chính sách cưỡng bức thu mua thóc gạo và chuyển đổi diện tích trồng lúa sang các loại cây phục vụ chiến tranh đã làm suy giảm nghiêm trọng nguồn lương thực, đẩy đông đảo nông dân vào tình trạng thiếu đói.
Trong bối cảnh đó, nạn đói ngày càng trở nên nghiêm trọng, đồng thời những mâu thuẫn kinh tế - xã hội ở nông thôn đồng bằng Bắc Kỳ cũng ngày càng sâu sắc. Đời sống khốn quẫn của nông dân đã tạo nên những phản ứng xã hội mạnh mẽ, thúc đẩy các hình thức đấu tranh nhằm chống lại chính sách thu vét lương thực và đòi quyền được bảo đảm đời sống. Từ những cuộc đấu tranh giải quyết nhu cầu lương thực, phong trào cách mạng từng bước phát triển, gắn với quá trình xây dựng lực lượng, tổ chức quần chúng và đấu tranh giành chính quyền ở cơ sở.
Cùng với sự phát triển của cao trào cách mạng, tình hình chính trị ở Đông Dương có những chuyển biến nhanh chóng sau cuộc đảo chính Nhật - Pháp ngày 9 tháng 3 năm 1945. Chỉ thị “Nhật - Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta” ngày 12 tháng 3 năm 1945 đã tạo cơ sở để phong trào cách mạng chuyển mạnh sang thời kỳ chuẩn bị khởi nghĩa. Đến giữa tháng 8 năm 1945, khi thời cơ Tổng khởi nghĩa xuất hiện, phong trào đấu tranh ở các tỉnh, thành đồng bằng Bắc Kỳ đã phát triển mạnh mẽ; chính quyền lần lượt được giành về tay nhân dân trong những ngày từ 18 đến 24 tháng 8 năm 1945.
Sự diễn ra đồng thời và tác động qua lại giữa nạn đói, những biến động xã hội và cao trào cách mạng đã tạo nên một đặc điểm nổi bật của tình hình đồng bằng Bắc Kỳ năm 1945: từ những yêu cầu cấp thiết về đời sống, đặc biệt là vấn đề lương thực, đông đảo nông dân từng bước tham gia vào phong trào đấu tranh chính trị, trở thành lực lượng quan trọng trong quá trình khởi nghĩa giành chính quyền. Nói cách khác, nạn đói năm Ất Dậu 1945 là một trong những nhân tố thúc đẩy thắng lợi cuộc Tổng khởi nghĩa giành chính quyền ở đồng bằng Bắc Kỳ trong Cách mạng Tháng Tám 1945.
1. Nguyên nhân của nạn đói năm Ất Dậu (1945) ở đồng bằng Bắc Kỳ
Dưới chế độ cai trị của thực dân Pháp, hệ thống thuế khóa tại các làng xã đồng bằng Bắc Kỳ về hình thức vẫn duy trì một số loại thuế vốn tồn tại dưới triều Nguyễn, như thuế thân, thuế lao dịch và thuế điền; tuy nhiên, mức thu và phương thức tổ chức thu nộp có nhiều thay đổi theo hướng gia tăng, làm cho gánh nặng tài chính đối với người dân ngày càng lớn. Bên cạnh các khoản thuế khóa, bộ phận nông dân không có hoặc thiếu ruộng đất còn phải chịu thêm địa tô do phải thuê mướn ruộng đất để sản xuất. Sự cộng hưởng giữa nghĩa vụ thuế khóa và địa tô đã tạo nên áp lực kinh tế nặng nề đối với nông dân ở các làng xã đồng bằng Bắc Kỳ, đặc biệt đối với những hộ có ít ruộng đất hoặc không có tư liệu sản xuất.
Trong điều kiện thu nhập từ sản xuất nông nghiệp thấp và không ổn định, nhiều hộ nông dân phải thường xuyên vay mượn để trang trải các khoản thuế, địa tô và nhu cầu sinh hoạt thiết yếu. Tình trạng vay nợ kéo dài khiến một bộ phận nông dân ngày càng phụ thuộc vào chủ nợ và có nguy cơ mất thêm tư liệu sản xuất, đặc biệt là ruộng đất. Quan hệ tín dụng nông thôn vì vậy trở thành một yếu tố góp phần làm sâu sắc thêm tình trạng bần cùng hóa của một bộ phận cư dân nông thôn đồng bằng Bắc Kỳ. Cơ chế vay nợ với mức lãi suất cao và các hình thức ràng buộc khắt khe đã làm gia tăng tính chất bất bình đẳng trong quan hệ kinh tế ở làng xã, qua đó góp phần làm trầm trọng thêm những khó khăn kinh tế - xã hội của người nông dân dưới chế độ thuộc địa. “Vay cầm ruộng đất, cầm đồ đạc, cầm con cái (những đứa này phải làm mướn không công cho họ), “mua thóc non” (trước mùa gặt) bằng một giá rất hạ. Cho vay một thúng thóc để đến vụ gặt gạt thành một thúng rưỡi (vay chiêm giả mùa) hay hai thúng (vay mùa giả chiêm)”[1]... Người nông dân phải trả một mức lãi xuất rất cao để có thể vay được từ chủ nợ. “Ở làng Hà Cát, huyện Giao Thuỷ (Nam Định) địa chủ có kể tháng hai cho vay 10 thùng, tháng Mười phải trả 15 thùng, lãi 50%. Ở Thái Bình, người ta cho vay lãi 100%... Ở Quất Lâm (Nam Định) cho vay một thùng lấy hai thùng, lãi 100%.” [2].
Theo nhà nghiên cứu Pháp Paul Bernard tính bình quân trong năm 1930, mỗi người dân ở Bắc Kỳ phải đóng 6 đồng bạc tiền thuế, chiếm 17% tổng thu nhập của mỗi người dân[3]. Nhưng trên thực tế, người dân ở đồng bằng Bắc Kỳ phải đóng tổng mức thuế cao hơn rất nhiều: thuế thân và ngoại phu khác khoảng 6 đồng, thuế ruộng 2 đồng, thuế gián thu các khoản (muối 0,20 đồng, rượu 0,45 đồng, thuốc phiện 0,35 đồng)…. Có thể nói, chính sách thuế của thực dân Pháp “là những chiếc cùm đóng chặt nông dân vào sự phá sản, bần cùng, là những khối tạ đánh vào sụn lưng họ. Nó là một trong những tai hoạ khủng khiếp nhất đối với dân quê. Gia đình li tán vì thuế, tù tội cũng vì thuế, đi đồn điền cao su, đi Tân thế giới xa xôi lại cùng vì thuế”[4].
Bên cạnh các khoản thuế do chính quyền thuộc địa quy định, bộ máy chức dịch ở làng xã còn lợi dụng việc thu thuế để phụ thu, lạm bổ và nhũng nhiễu, làm gia tăng gánh nặng đối với người dân. Để đáp ứng nghĩa vụ thuế khóa, nhiều nông dân phải vay nợ, dẫn đến tình trạng chịu địa tô, nợ lãi và mất đất, qua đó thúc đẩy quá trình bần cùng hóa ở nông thôn đồng bằng Bắc Kỳ. Tình trạng này càng trở nên nghiêm trọng từ khi Nhật Bản vào Đông Dương và từng bước chi phối các nguồn lực kinh tế, đặc biệt là nhân lực, tài sản và lương thực. Trong bối cảnh đó, thực dân Pháp buộc phải ký kết các thỏa thuận với Nhật Bản về việc cung cấp thóc gạo, làm gia tăng áp lực huy động và thu gom lương thực tại Đông Dương.
Bảng 1: Số lượng thóc gạo mà Pháp cam kết nộp cho Nhật theo hiệp định từ năm 1941-1945
Đơn vị tính: nghìn
|
TT
|
Ngày tháng ký hiệp định
|
Số lượng thóc gạo phải nộp
|
Thời hạn giao nộp
|
Ghi chú
|
|
1
|
Hiệp ước ngày 20-1-1941
|
700.000 gạo trắng, gồm 500.000 tấn gạo trắng loại I (25% tấm) và 200.000 tấn gạo trắng loại II (40% tấm)
|
Giao trước ngày 30-9-1941
|
|
|
2
|
Hiệp định ngày 19-7-1942
|
1.05 triệu tấn gạo và tấm
|
Giao trước ngày 31-10-1942
|
Ngoài ra còn phải giao 45.000 tấn bột gạo trắng trước ngày 31-12-1942
|
|
3
|
Hiệp định ngày 25-01-1943
|
1,050 triệu tấn gạo, tấm và 66.000 tấn bột trắng
|
Giao trước ngày 31-12-1943
|
Còn 75.904 tấn chưa giao của năm 1942 phải giao nốt trong năm 1943
|
|
4
|
Hiệp định ngày 05-01-1944
|
900.000 tấn gạo và tấm
|
Giao trước ngày 31-12-1944
|
|
Nguồn: Ban chỉ đạo kinh tế Đông Dương, Phúc trình về các hiệp ước kinh tế, Hội thuộc địa Pháp. A.O.M.Fond/NS, hộp 571, hồ sp 4095 (Aix-en Provence) trích lại, GS.Văn Tạo, GS.Furuta Motoo, Nạn đói năm 1945 ở Việt Nam, (tái bản lần thứ tư). Nxb Chính trị Quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2022, tr. 55-60.
Vụ mùa năm 1944 ở Bắc Kỳ chịu thiệt hại nghiêm trọng do bão, lũ. Trong tác phẩm Cách mạng đã chiến thắng nạn đói như thế nào[5]. Hoàng Văn Đức cho biết sản lượng thóc toàn Bắc Kỳ năm 1944 chỉ đạt khoảng 1 triệu tấn, thấp hơn đáng kể so với mức 1,88 triệu tấn của những năm bình thường. Theo tính toán của tác giả, sản lượng bình quân chỉ khoảng 125 kg thóc/người trong sáu tháng, tương đương khoảng 21 kg/người/tháng. Thiên tai tiếp tục tác động bất lợi trong vụ đông năm 1944 khi thời tiết giá rét kéo dài, có thời điểm xuất hiện băng giá, gây thiệt hại lớn đối với cây trồng và làm suy giảm thêm nguồn cung lương thực.
Trong bối cảnh đó, chính quyền Pháp tại Đông Dương đẩy mạnh thực hiện chính sách “Kinh tế chỉ huy”, trong đó chú trọng kiểm soát và thu mua lương thực nhằm phục vụ nhu cầu thời chiến. Hệ thống thu mua được tổ chức từ trung ương đến cơ sở, huy động bộ máy hành chính và lực lượng tay sai tiến hành thu gom thóc, gạo tại các làng xã; đồng thời áp dụng cơ chế thu mua theo giá quy định và hạn chế hoạt động mua bán tự do trên thị trường. Sự kết hợp giữa sản lượng nông nghiệp sụt giảm do thiên tai và chính sách thu gom lương thực quy mô lớn đã làm gia tăng tình trạng thiếu đói ở nông thôn. Theo Hoàng Văn Đức, mặc dù vụ mùa năm 1944 bị thiệt hại nặng nề, một bộ phận lớn chủ ruộng vẫn bị buộc phải bán thóc gạo cho chính quyền Pháp - Nhật, làm cho khả năng tự bảo đảm lương thực của người dân tiếp tục suy giảm.
Việc áp đặt giá cưỡng bức để thu vét và giao nộp lương thực của Uỷ ban thóc gạo thấp hơn rất nhiều so với giá bán trên thị trường đã góp phần làm cho đời sống của nông dân ở làng xã ngày càng rơi vào cảnh khó khăn. Giá thóc năm 1940, chính quyền Pháp-Nhật định giá thu mua 11,50 đồng/tạ. Năm 1943 nhà nước định giá 14.50 đồng/tạ tức là tăng lên 26%. Tuy nhiên, giá vật liệu và tiền thuê nhân công tăng lên tới 300%. Như vậy, do chi phí sản xuất tăng nên giá thóc phải tăng lên gấp ba, nghĩa là giá thóc trung bình phải là 35 đồng/tạ, giá gạo 57 đồng/ tạ[6], nhưng chính phủ Pháp chỉ thu mua với mức 14,50 đồng và người nông dân đã phải chịu lỗ vốn hơn một nửa. Năm 1943, giá thóc, gạo bán trên thị trường ở đồng bằng Bắc Kỳ (xem bảng) do Túc Mễ Cục ấn định. Trên thực tế, giá mua thóc, gạo ở “chợ đen” còn cao hơn rất nhiều lần.
Bảng 2: Giá thóc, gạo bán trên thị trường ở đồng bằng Bắc Kỳ năm 1943
Đơn vị tính: đồng
|
TT
|
Tỉnh
|
Thóc
|
Gạo
|
|
1
|
Vĩnh Yên
|
25
|
47
|
|
2
|
Bắc Ninh
|
28,40
|
36,80
|
|
3
|
Nam Định
|
33,50
|
50
|
|
4
|
Thái Bình
|
25
|
42
|
|
5
|
Hà Đông
|
35
|
53
|
Nguồn: Vũ Đình Hoè, “Một chính sách bạo ngược của người Pháp: Giá thóc phải nộp cho nhà nước”,Tạp chí Thanh Nghị, số 110. 1945, tr. 10.
Đem đối chiếu giá thóc 14,50 đồng/tạ mà chính phủ thu mua của nông dân, nếu tính tổng chi phí không đủ vốn để gieo cấy và trả tiền công của người cày cấy. Nghĩa là giá nhà nước trả quá thấp so với chi phí để sản xuất ra một tạ thóc và người nông dân đã bị lỗ vốn hoặc nhiều hoặc ít. Đến năm 1945 đồng bạc Đông Dương bị mất giá nên “ở khắp xứ ta bây giờ mỗi người đều phải nhận thấy rằng với hai, ba nghìn đồng bạc, nông dân chẳng đủ để làm vốn tậu một con bò khoẻ, mua dăm ba mẫu ruộng và sắm sửa cày bừa thừng, chão mà cày cấy”[7]. Do đồng tiền bị mất giá, nhưng giá thu mua thóc gạo của chính quyền Pháp-Nhật ấn định không tăng, khiến cho người dân rơi vào tình cảnh khốn cùng. “Chính sách thu thóc của người Pháp tàn ngược đối với dân quê vì giá mua họ giả cho nông dân thật là tai hại: như vụ vừa qua tiền vốn 1 tạ tính ra mất 80 đồng mà giá bán cho nhà nước chỉ có 25 đồng một tạ, trong khi giá thị trường lên tới 200 đồng. Mà số thóc dân quê phải nộp thường là ¾ số thóc thu hoạch có khi quá cả số thóc gặt được, nghĩa là có khi nông dân phải đong thêm bằng giá 200 đồng về bán cho nhà nước và thu về 25 đồng. Thật là một sự chiếm đoạt không những hoa lợi mà cả vốn liếng của dân quê… !”[8]. Vào đầu năm 1945, do mất mùa giá thóc bán chui trên thị trường đã tăng vọt lên 200-300 rồi 500 đồng/tạ, trong khi đó Pháp-Nhật vẫn giữ giá thu mua của nông dân là 25 đồng/tạ[9].
Vốn việc thu mua thóc tạ đã làm cho cuộc sống người dân vô cùng khốn khó, phát xít Nhật lại ban hành một chính sách nữa xuống các tỉnh đồng bằng Bắc Kỳ. Đó chính là bắt nhân dân nhổ lúa trồng đay, gai, bông và lạc, thầu dầu, vừng... Vì phát xít Nhật đang cần những nguyên liệu này để phục vụ cho chiến tranh.
Theo thống kê của Pháp, đến năm 1944, diện tích trồng đay, gai, bông, lạc, thầu dầu, vừng mà Nhật cưỡng bức nhân dân phải trồng đã tăng lên 9 lần so với năm 1940, từ 5.000ha lên 45.000 ha. Và như vậy, diện tích gieo trồng lúa và sản lượng lúa đã bị giảm đi khoảng 64.000 tấn[10]. Năm 1944, riêng tại Bắc Kỳ “đã có 4 vạn mẫu tây không trồng ngô, khoai, đậu, mà trồng những cây phục vụ cho chiến tranh…với diện tích ấy nhân dân Bắc Kỳ đã hụt mất 5 vạn tấn ngô, khoai, đậu là những thức ăn phụ vào cơm[11]. Việc bắt dân nhổ lúa trồng đay đã gây ra sự phẫn nộ mạnh mẽ trong nhân dân ta và góp phần làm cho nạn đói thêm trầm trọng.
Bên cạnh đó, thực dân Pháp còn tận thu thóc, gạo của nông dân để xuất khẩu và nộp cho quân Nhật nên đã dẫn đến tình trạng vét cạn nguồn lương thực ở Việt Nam nói chung và đồng bằng Bắc Kỳ nói riêng. Cùng với đó, các công ty nấu rượu của tư bản Pháp còn tăng thêm số gạo để nấu rượu cồn, nhằm thay thế dầu xăng do chiến tranh khan hiếm. Ở Bắc Kỳ cạn kiệt nguồn lương thực cùng với sự đầu cơ tích trữ gạo của nhóm tư bản là nguyên nhân chính đẩy giá gạo lên rất cao. Tháng 10-1944, một tạ gạo giá 150 đồng đến tháng 12 đã tăng lên 500 đồng, nhưng đến tháng 02-1945 giá gạo còn tăng lên tới 800 đồng/1 tạ gạo[12].
Tóm lại, với tất cả các chính sách về thuế, địa tô, thu mua thóc tạ của thực dân Pháp và sau năm 1940 thêm phát xít Nhật đã làm cho đời sống của người nông dân ở đồng bằng Bắc Kỳ vô cùng cực khổ. Nhận xét về thực trạng này báo Đời nay năm 1939 đã kết luận: “Thật dân nghèo ở nhà quê bị đục khoét đến tận xương, tuỷ. Họ là hạng người khốn nạn nhất trong xã hội ngày”[13]. Chính sách độc ác này là một trong những nguyên nhân đẩy cuộc sống người nông dân ở làng xã ở đồng bằng Bắc Kỳ rơi vào nạn đói khủng khiếp cuối năm 1944 đầu năm 1945. Họ chỉ cần một đốm lửa nhỏ là thổi bùng lên ngọn lửa đấu tranh đập tan xiềng xích của phát xít, thực dân.
2. Tổng khởi nghĩa ở đồng bằng Bắc Kỳ năm 1945
Trong bối cảnh nạn đói và lũ lụt diễn ra đồng thời, đời sống nhân dân đồng bằng Bắc Kỳ bị đẩy vào tình trạng đặc biệt khó khăn, qua đó làm gia tăng những mâu thuẫn và thúc đẩy phong trào đấu tranh cách mạng phát triển mạnh mẽ, lan rộng, từng bước chuyển sang cao trào khởi nghĩa giành chính quyền. Trước những biến chuyển nhanh chóng của tình hình chính trị, ngày 12 tháng 3 năm 1945, Ban Thường vụ Trung ương Đảng ban hành Chỉ thị “Nhật - Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta”, xác định những nhiệm vụ và phương hướng hoạt động nhằm đẩy mạnh phong trào cách mạng, chuẩn bị các điều kiện tiến tới khởi nghĩa giành chính quyền. Trong đó, các khẩu hiệu “Phá kho thóc, giải quyết nạn đói” và “Chính quyền cách mạng của nhân dân”[14] được đưa ra kịp thời, đáp ứng trực tiếp những yêu cầu cấp bách của đời sống xã hội và nhiệm vụ chính trị trong tình hình mới. Đây là những khẩu hiệu có ý nghĩa định hướng hành động rõ nét, góp phần gắn kết lợi ích kinh tế trước mắt của nông dân với mục tiêu chính trị của cách mạng; đồng thời kết hợp yêu cầu cấp thiết về giải quyết nạn đói với nhiệm vụ chiến lược là đấu tranh giành chính quyền và giải phóng dân tộc.
Việc Đảng đề ra khẩu hiệu “phá kho thóc, giải quyết nạn đói” trong bối cảnh nông dân đồng bằng Bắc Kỳ phải đối mặt với tình trạng thiếu đói nghiêm trọng đã đáp ứng trực tiếp yêu cầu cấp thiết của đời sống xã hội, qua đó góp phần tập hợp và huy động đông đảo lực lượng nông dân tham gia đấu tranh. Từ những yêu cầu kinh tế - xã hội trước mắt, phong trào đấu tranh từng bước chuyển sang hình thức đấu tranh trực diện với chính quyền đương thời, thúc đẩy các cuộc khởi nghĩa từng phần và quá trình giành chính quyền ở cấp làng, xã tại nhiều địa phương thuộc đồng bằng Bắc Kỳ.
Đứng trước thực trạng đó, các tờ báo cách mạng đã đăng liên tục những bài viết vừa tuyên truyền, cổ động và cũng là để định hướng đấu tranh cho người dân. Báo Cứu quốc, Cơ quan ngôn luận của Mặt trận Việt Minh viết:
“Hỡi đồng bào!
Chịu để quân giặc đẽo xương nạo tuỷ sao? Chịu khoanh tay chờ chết để quân giặc bở béo sao?
Các bạn chủ ruộng còn thóc bảo nhau đừng nộp cho giặc. Dân thành phố bảo nhau kéo đến Đốc lý, dân quê rủ nhau kéo đến phủ, huyện, tỉnh trưởng đòi cho phát gạo đủ ăn, bắt buộc giặc Nhật sẻ bớt kho thóc gạo đầy ních của chúng ra.
Những ai còn thóc không đủ ăn!. Những ai kiếm tiền không đủ đong gạo!. Những ai sống vất vưởng chờ ngày chết đói! Đừng rụt rè, đừng sợ giặc đàn áp. Phải tìm cái sống trong cái chết”[15].
Ngày 13-03-1945, hơn 1.000 nông dân ở các làng huyện Thuận Thành (Bắc Ninh) có vũ trang tấn công kho thóc chùa Dâu chia cho dân nghèo.
Ngày 15-03-1945, 3.000 người, chủ yếu là nông dân ở các làng xã thuộc huyện Nho Quan, Gia Viễn (Ninh Bình) phá 12 kho thóc chia cho cày nghèo.
Cuối tháng 03-1945, Mặt trận Việt Minh đã tổ chức tại các làng Quang Xán, Nghĩa Lễ (huyện Mĩ Lộc, Nam Định, nay là phường Đông A, tỉnh Ninh Bình) phá kho thóc của quân phiệt Nhật, thu hơn 30 tấn thóc chia cho dân nghèo. Tại các huyện Tứ Kỳ, Ninh Giang, Thanh Hà, Chí Linh (Hải Dương, nay thuộc tỉnh Hải Phòng) cũng đồng loạt nổi dậy, phá 50 kho thóc, chặn lấy lại một xe và 43 thuyền chở thóc “thu được tổng số 2.107 tấn thóc, chia cho nông dân nghèo cứu đói”[16].
Cuối tháng 04-1945, hơn 300 nông dân huyện Kim Động (Hưng Yên) biểu tình đòi hương lý phải phát thóc cho dân nghèo và nông dân được cử người vào uỷ ban chia thóc. Chính nhờ cuộc đấu tranh này, lãnh đạo Mặt trận Việt Minh đã chỉ đạo để thổi bùng lên phong trào không nộp thuế cho phát xít Nhật của nông dân toàn tỉnh Hưng Yên trong tháng 5 và 6-1945, thu hút hơn 10 vạn nông dân của 350 làng và giành được 6.000 tạ thóc của quân Nhật, cứu đói 40.000 dân nghèo[17]. Ngoài ra, phong trào phá kho thóc còn diễn ra ở nhiều tỉnh thành đồng bằng Bắc Kỳ như Thái Bình, Hà Đông, Phúc Yên, Kiến An, Hà Nam…
Trong vòng 5 tháng, hầu hết nông dân ở làng xã đồng bằng Bắc Kỳ đã tham gia lực lượng cách mạng dưới các hình thức: hội Cứu quốc, lực lượng tự vệ và du kích.
Với tinh thần tích cực, chủ động, khẩn trương, luôn luôn theo dõi chặt chữ sự biến đổi của tình hình thế giới để định những bước đi kịp thời cho cách mạng, ngay khi nghe tin Mỹ ném bom nguyên tử xuống Hirosima, Hồ Chí Minh đã gấp rút chuẩn bị triệu tập Hội nghị toàn quốc của Đảng để bàn kế hoạch phát động và lãnh đạo Tổng khởi nghĩa. Người chỉ thị “nên họp ngay và cũng không nên kéo dài hội nghị. Chúng ta cần tranh thủ từng giây, từng phút. Tình hình sẽ chuyển biến nhanh chóng. Không thể để lỡ cơ hội”[18].
Đến cuối tháng 7 đầu tháng 8-1945, cao trào kháng chiến cứu nước đã phát triển đến đỉnh điểm, chỉ chờ đợi thời cơ thực hiện Tổng khởi nghĩa. Ngày 13 tháng 8, vừa nhận được tin phát xít Nhật bại trận và đầu hàng Đồng minh, Trung ương Đảng và Tổng bộ Việt Minh đã lập tức thành lập Uỷ ban khởi nghĩa toàn quốc gồm 5 đồng chí: Trường Chinh, Võ Nguyên Giáp, Lê Thanh Nghị, Trần Đăng Ninh, Chu Văn Tấn. 2 giờ cùng ngày, Uỷ ban lâm thời khu giải phóng đã công bố mệnh lệnh khởi nghĩa, Uỷ ban khởi nghĩa ra Quân lệnh số 1: “Giờ Tổng khởi nghĩa đã đánh! Cơ hội có một cho quân dân Việt Nam vùng dậy giành lấy chính quyền độc lập của nước nhà!...Chúng ta phải hành động cho nhanh, với một tinh thần vô cùng quả cảm, vô cùng thận trọng!...Cuộc thắng lợi hoàn toàn nhất định sẽ về ta”[19].
Chiều ngày 16-8-1945, tại đình Tân Trào (huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang) Chủ tịch Hồ Chí Minh và Tổng bộ Việt Minh (Việt Nam độc lập Đồng minh hội) đã khai mạc Việt Nam Quốc dân đại hội đại biểu (nay gọi là Quốc dân đại hội Tân Trào). Tham dự đại hội có 60 đại biểu đại diện cho cả 3 miền Bắc-Trung-Nam, đại diện cho các ngành, các giới, các dân tộc, các đảng phái chính trị, các đoàn thể cứu quốc và một số Việt kiều ở Thái Lan và Lào, để bàn kế hoạch Tổng khởi nghĩa giành chính quyền về nhân dân. Trước các đại biểu của nhân dân, Đảng ta đã nêu lên chủ trương lãnh đạo quần chúng nổi dậy khởi nghĩa giành chính quyền từ tay phát xít Nhật và tay sai trước khi quân Đồng minh vào Đông Dương. Địa hội đã nhiệt liệt tán thành và ủng hộ chủ trương Tổng khởi nghĩa của Đảng, thông qua 10 chính sách của Mặt trận Việt Minh.
Ngày 17-8-1945, Đại hội bế mạc trong không khí Tổng khởi nghĩa sôi sục. Thay mặt Uỷ ban Dân tộc giải phóng Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đọc lời tuyên thệ: “Chúng tôi là những người được Quốc dân đại biểu bầu vào Uỷ ban dân tộc giải phóng để lãnh đạo cuộc cách mạng của nhân dân. Trước lá cờ thiêng liên của Tổ quốc, chúng tôi nguyện kiên quyết lãnh đạo nhân dân tiến lên, ra sức chiến đấu chống quân thù, giành lại độc lập cho Tổ quốc. Dù phải hy sinh đến giọt máu cuối cùng không lùi bước”[20].
Thực hiện nghị quyết Tổng khởi nghĩa giành chính quyền của Quốc dân Đại hội và của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Uỷ ban Giải phóng dân tộc Việt Nam đã gửi thư kêu gọi đồng bào cả nước đứng lên khởi nghĩa:
“Hỡi quốc dân đồng bào!
Ngày vĩ đại và quyết liệt của dân tộc đã đến. Chúng ta hãy vùng dậy tuốt gươm lắp súng để định đoạt lấy số phận của mình. Chúng ta quyết thắng và sẽ thắng!
Tước khí giới của giặc Nhật!
Chính quyền nhân dân muôn năm!
Việt Nam hoàn toàn độc lập!”[21].
Đáp lời kêu gọi, dưới sự lãnh đạo của Đảng, với khát vọng độc lập tự do cháy bỏng, với quyết tâm to lớn, hơn 20 triệu nhân dân nhất tề nổi dậy với ý chí dù có hy sinh đến đâu, cũng phải giành cho được chính quyền trong toàn quốc, tạo nên một chiến công kỳ diệu trong lịch sử dân tộc.
Trong cao trào Cách mạng Tháng Tám năm 1945, các làng xã ở đồng bằng Bắc Kỳ trở thành một trong những địa bàn diễn ra mạnh mẽ phong trào đấu tranh giành chính quyền. Trước yêu cầu cấp bách của đời sống xã hội, đặc biệt là tình trạng thiếu đói nghiêm trọng, Ban Cán sự Đảng các tỉnh đã tập trung lãnh đạo quần chúng thực hiện khẩu hiệu “phá kho thóc để giải quyết nạn đói”. Đây không chỉ là một khẩu hiệu nhằm đáp ứng nhu cầu kinh tế trước mắt của đông đảo nông dân, mà còn là hình thức vận động quần chúng có ý nghĩa chính trị sâu sắc, góp phần chuyển hóa những bức xúc về kinh tế - xã hội thành động lực trực tiếp của phong trào đấu tranh cách mạng. Thông qua việc giải quyết một nhu cầu thiết thân, cấp bách là lương thực, khẩu hiệu đã tạo cơ sở để tập hợp, huy động đông đảo nông dân tham gia phong trào, từng bước đưa lực lượng quần chúng từ đấu tranh chống đói, cứu đói tiến tới đấu tranh chống chính quyền cũ và giành chính quyền ở cơ sở.
Trên thực tế, phong trào “phá kho thóc để giải quyết nạn đói” diễn ra gắn liền với quá trình phát triển của cao trào khởi nghĩa tại các địa phương. Quần chúng ở nhiều làng xã đã tổ chức các cuộc đấu tranh với quy mô ngày càng lớn, kết hợp giữa những hoạt động giải quyết lương thực với biểu dương lực lượng và giành quyền kiểm soát chính quyền. Trong điều kiện vũ khí còn hết sức thiếu thốn, lực lượng cách mạng chủ yếu sử dụng các loại vũ khí thô sơ như dao, búa, giáo, mác, gậy tầm vông và một số súng thu được từ quân Pháp. Việc huy động quần chúng đông đảo, đặc biệt là nông dân, đã tạo ra ưu thế về lực lượng và sức ép chính trị, góp phần thúc đẩy quá trình chuyển biến từ khởi nghĩa từng phần sang giành chính quyền trên phạm vi rộng.
Từ giữa tháng 8-1945, chính quyền lần lượt được giành về tay nhân dân tại nhiều tỉnh, thành phố ở đồng bằng Bắc Kỳ: Hải Dương và Bắc Giang ngày 18-8-1945; Hà Nội và Thái Bình ngày 19-8-1945; Bắc Ninh và Ninh Bình ngày 20-8-1945; Nam Định ngày 21-8-1945; Kiến An, Hưng Yên và Hải Phòng ngày 22-8-1945; Hà Đông ngày 23-8-1945; Hà Nam ngày 24-8-1945. Riêng tại Hà Nam, cuộc khởi nghĩa thu hút khoảng 150.000 nông dân tham gia. Những diễn biến này cho thấy khả năng huy động lực lượng quần chúng ở quy mô lớn và tốc độ phát triển nhanh chóng của phong trào cách mạng tại đồng bằng Bắc Kỳ.
Có thể thấy, khẩu hiệu “phá kho thóc để giải quyết nạn đói” đã tạo ra sự kết nối trực tiếp giữa lợi ích thiết thân của người nông dân với mục tiêu chính trị của cách mạng. Trong hoàn cảnh nạn đói đe dọa nghiêm trọng đời sống của hàng triệu người, việc giải quyết vấn đề lương thực trở thành một nội dung có sức tập hợp quần chúng đặc biệt lớn. Từ yêu cầu cấp thiết về cái ăn, nông dân từng bước tham gia vào các hoạt động đấu tranh chính trị, vũ trang, trở thành lực lượng đông đảo trong các cuộc khởi nghĩa giành chính quyền. Nông dân vừa là lực lượng chính trị chủ yếu, vừa tham gia quan trọng vào lực lượng vũ trang, qua đó tạo nên sức mạnh quần chúng rộng lớn, góp phần thúc đẩy thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945. Đến cuối tháng 8-1945, chính quyền cách mạng về cơ bản đã được thiết lập tại các tỉnh đồng bằng Bắc Kỳ, đánh dấu sự thắng lợi của quá trình khởi nghĩa giành chính quyền ở khu vực này.
3. Kết luận
Nạn đói năm Ất Dậu 1945 ở đồng bằng Bắc Kỳ không phải là hệ quả đơn thuần của thiên tai, mất mùa, mà là kết quả của sự tác động đồng thời giữa những điều kiện tự nhiên bất lợi với chính sách kinh tế, thuế khóa và thu vét lương thực của thực dân Pháp và phát xít Nhật. Gánh nặng thuế, địa tô, nợ nần; chính sách cưỡng bức thu mua thóc gạo với giá thấp; việc thu vét lương thực phục vụ chiến tranh và cưỡng bức chuyển đổi diện tích trồng lúa sang các loại cây công nghiệp đã làm suy giảm nghiêm trọng khả năng bảo đảm lương thực của nông dân. Khi thiên tai, mất mùa tiếp tục diễn ra vào cuối năm 1944, những tác động đó cộng hưởng, đẩy một bộ phận rất lớn cư dân nông thôn vào tình trạng thiếu đói nghiêm trọng.
Nạn đói đồng thời làm sâu sắc thêm những mâu thuẫn kinh tế - xã hội ở nông thôn đồng bằng Bắc Kỳ và tác động trực tiếp đến đời sống chính trị. Trong điều kiện đó, những cuộc đấu tranh của nông dân không chỉ xuất phát từ yêu cầu bảo đảm lương thực và duy trì sự sống, mà từng bước phát triển thành các hình thức đấu tranh chống lại chính quyền và bộ máy thống trị ở cơ sở. Quá trình này cho thấy giữa vấn đề dân sinh và phong trào cách mạng tồn tại một mối liên hệ chặt chẽ: khủng hoảng lương thực tạo ra những yêu cầu và động lực xã hội trực tiếp, còn phong trào cách mạng đã từng bước tổ chức, tập hợp và chuyển hóa những yêu cầu đó thành hành động chính trị, vũ trang.
Từ đầu năm 1945, cùng với sự chuyển biến nhanh chóng của tình hình chính trị và sự phát triển của phong trào cách mạng, lực lượng nông dân ở đồng bằng Bắc Kỳ ngày càng được tổ chức và huy động rộng rãi. Các hình thức đấu tranh diễn ra ở nhiều địa phương đã góp phần xây dựng lực lượng quần chúng, mở rộng ảnh hưởng của cách mạng và tạo điều kiện cho quá trình khởi nghĩa từng phần phát triển thành Tổng khởi nghĩa. Khi thời cơ xuất hiện vào giữa tháng 8 năm 1945, lực lượng quần chúng, đặc biệt là nông dân ở các làng xã, đã trở thành lực lượng xã hội quan trọng tham gia giành chính quyền tại nhiều tỉnh, thành phố đồng bằng Bắc Kỳ.
Như vậy, từ nạn đói đến Tổng khởi nghĩa giành chính quyền ở đồng bằng Bắc Kỳ năm 1945 tồn tại một quá trình chuyển biến có tính liên tục, trong đó khủng hoảng kinh tế - xã hội đã tác động mạnh đến tâm lý, đời sống và hành động của quần chúng; phong trào đấu tranh của nông dân từng bước phát triển về quy mô, hình thức và tính chất chính trị; còn sự lãnh đạo và tổ chức của lực lượng cách mạng đã tạo điều kiện để những phản ứng xã hội trước nạn đói chuyển hóa thành sức mạnh chính trị. Đây là một trong những nhân tố quan trọng góp phần tạo nên sự phát triển nhanh chóng của cao trào cách mạng và thắng lợi của cuộc Tổng khởi nghĩa giành chính quyền ở đồng bằng Bắc Kỳ trong Cách mạng Tháng Tám năm 1945, để lại nhiều bài học kinh nghiệm quý báu về phát huy sức mạnh lòng dân đối với sự nghiệp xây dựng, phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới của dân tộc Việt Nam.
Tài liệu tham khảo:
[1]. Vũ Đình Hoè, “Vấn đề đi vay đối với dân quê”, Tạp chí Thanh Nghị, số 12. 1942, tr. 15
[2]. Trường Chinh và Võ Nguyên Giáp, Vấn đề dân cày (xuất bản lần thứ hai). Nxb Sự thật, Hà Nội, 1959, tr. 48.
[3]. Đặng Phong, Lịch sử kinh tế Việt Nam 1945-2000, tập 1: 1945-1954, Nxb Khoa học xã hội, 2002, tr.75.
[4]. Nguyễn Kiến Giang, Phác qua tình hình ruộng đất và đời sống nông dân trước cách mạng tháng Tám, Nxb Đại học sư phạm, Hà Nội, 2019, tr.143.
[5].Hoàng Văn Đức, Comment la révolition a triomphé de la famine, Hà Nội, 1946.
[6]. Vũ Đình Hoè, Một chính sách bạo ngược của người Pháp: Giá thóc phải nộp cho nhà nước”, Tạp chí Thanh Nghị, số 110. 1945, tr. 10.
[7]. Nghiêm Xuân Yêm, “Những nỗi khó khăn của nông dân để làm vụ mùa sắp tới”, Tạp chí Thanh Nghị, số 109.1945, tr.8.
[8]. Vũ Đình Hoè, “Một chính sách bạo ngược của người Pháp: Giá thóc phải nộp cho nhà nước”, Tạp chí Thanh Nghị, số 110. 1945, tr. 7.
[9]. Cao Văn Biền, “Về nạn đói năm Ất Dậu (1945), Tạp chí Nghiên cứu lịch sử, số 5.1990, tr.53.
[10]. Annuaire Statistique de l’Union Francaise d’Outre-mer 1939-1946, p.76-77.
[11]. Trần Huy Liệu, Lịch sử 80 năm chống Pháp, Tập Hạ, quyền 1. Nxb Sự thật, Hà Nội, 1961, tr.27.
[12]. Nguyễn Kiến Giang, Phác qua tình hình ruộng đất và đời sống nông dân trước Cách mạng tháng Tám, Sđd, tr.286-287.[13]. Báo Đời nay, ra ngày 19-1-1939.
[14]. Đảng Cộng sản Việt Nam (2000), Văn kiện Đảng toàn tập, tập 7 (1940-1945), Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2000, tr. 370.
[15]. Báo Cứu quốc, số 20, ngày 5/5/1945.
[16]. Lê Duy Hoà (2000), Lịch sử phong trào nông dân và Hội nông dân Hải Dương 1930-1996, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr.27.
[17]. Trần Huy Liệu, “Vấn đề ruộng đất trong cách mạng Việt Nam”, Tạp chí nghiên cứu Văn-Sử-Địa, số 2, 7-1954, tr.136.
[18]. Tân trào 1945-1954, Hội Văn học nghệ thuật Hà Tuyên, 1985, tr. 52-53.
[19]. Đảng Cộng sản Việt Nam (2000), Văn kiện Đảng toàn tập, tập 7 (1940-1945), Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2000, tr. 421-422.
[20]. Tân Trào 1945-1954, Hội Văn hoá nghệ thuật Hà Tuyên xuất bản, 1985, tr.57.
[21]. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng Toàn tập, tập 7 (1940-1945), Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2000, tr. 562-563.