Cách mạng tháng Tám năm 1945: Từ tạo thế, tạo lực đến chớp thời cơ giành chính quyền thắng lợi
Cách mạng tháng Tám năm 1945 là một trong những thắng lợi có ý nghĩa bước ngoặt trong lịch sử dân tộc Việt Nam thế kỷ XX, đưa dân tộc Việt Nam từ một nước thuộc địa trở thành một quốc gia độc lập, mở ra kỷ nguyên mới trong lịch sử dân tộc. 

Thắng lợi của cuộc Tổng khởi nghĩa diễn ra trong bối cảnh phát xít Nhật thất bại và đầu hàng Đồng Minh, tạo nên một thời cơ đặc biệt thuận lợi cho cách mạng. Tuy nhiên, thời cơ khách quan không tự chuyển hóa thành thắng lợi. Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Đông Dương và Chủ tịch Hồ Chí Minh, đường lối giải phóng dân tộc được xác định và từng bước hoàn chỉnh; lực lượng chính trị, lực lượng vũ trang, căn cứ địa cách mạng được xây dựng, tổ chức và rèn luyện qua thực tiễn đấu tranh, tạo nên thế và lực cần thiết. Khi thời cơ xuất hiện, Đảng đã kịp thời nhận định tình hình, quyết đoán phát động Tổng khởi nghĩa và huy động sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc giành chính quyền trên phạm vi cả nước. Từ góc nhìn đó, thắng lợi của Cách mạng tháng Tám cần được nhận thức trong sự thống nhất giữa điều kiện khách quan và nhân tố chủ quan, giữa thời cơ và thực lực, qua đó làm rõ vai trò lãnh đạo của Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Mặt trận Việt Minh, đồng thời góp phần nhận diện và phản bác những cách giải thích phiến diện, tuyệt đối hóa yếu tố khách quan hoặc quy thắng lợi của cách mạng cho một “khoảng trống quyền lực”.
 
Thắng lợi của Cách mạng tháng Tám năm 1945 là kết quả của sự kết hợp chặt chẽ giữa thời cơ khách quan, quá trình chuẩn bị thực lực và khả năng nhận định, chớp thời cơ của lực lượng cách mạng. Thời cơ do những biến động nhanh chóng của tình hình quốc tế và trong nước tạo ra là điều kiện đặc biệt thuận lợi, nhưng chỉ có thể trở thành thắng lợi khi cách mạng đã được chuẩn bị về đường lối, tổ chức, lực lượng và căn cứ địa, đồng thời có quyết định hành động kịp thời, đúng lúc. Từ cách tiếp cận đó, để làm rõ những nhân tố làm nên thắng lợi của Cách mạng tháng Tám, bài viết tập trung vào ba vấn đề có quan hệ hữu cơ: thời cơ khách quan của Cách mạng tháng Tám và vấn đề “khoảng trống quyền lực”; quá trình chuẩn bị lực lượng, tạo thế và xây dựng thực lực cách mạng; và nhận định đúng thời cơ, Đảng phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc để đưa Tổng khởi nghĩa đến thắng lợi.

1. Thời cơ khách quan và vấn đề “khoảng trống quyền lực”

Cách mạng tháng Tám năm 1945 đã đưa dân tộc Việt Nam từ một nước thuộc địa trở thành một quốc gia độc lập, đưa nhân dân ta từ địa vị người dân mất nước trở thành người làm chủ đất nước, mở ra kỷ nguyên độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Chỉ trong một thời gian ngắn, chính quyền lần lượt về tay nhân dân tại Hà Nội ngày 19-8-1945, Huế ngày 23-8-1945, Sài Gòn ngày 25-8-1945 và về cơ bản trên phạm vi cả nước vào cuối tháng 8-1945. Ngày 2-9-1945, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời. Thắng lợi nhanh chóng của cuộc Tổng khởi nghĩa diễn ra trong bối cảnh phát xít Nhật đầu hàng Đồng Minh, Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc và quân Đồng Minh chưa tiến vào Đông Dương. Sự xuất hiện của thời cơ đặc biệt thuận lợi cùng diễn biến nhanh chóng của cuộc Tổng khởi nghĩa vì thế trở thành cơ sở để một số cách giải thích nhấn mạnh quá mức vai trò của hoàn cảnh khách quan, cho rằng sự sụp đổ của Nhật đã tạo nên một “khoảng trống quyền lực” và Việt Minh chỉ tận dụng khoảng trống đó để giành chính quyền.

Những cách lý giải như vậy phản ánh một phương diện của tình hình chính trị Việt Nam sau khi Nhật Bản đầu hàng Đồng Minh, nhưng nếu chỉ tập trung vào thời điểm tháng 8-1945 mà không đặt thắng lợi trong toàn bộ quá trình vận động và chuẩn bị của cách mạng Việt Nam thì chưa thể lý giải đầy đủ bản chất của sự kiện. Sự thất bại của phát xít Nhật thực sự đã làm thay đổi nhanh chóng tương quan lực lượng, tạo ra thời cơ đặc biệt thuận lợi cho cuộc đấu tranh giành chính quyền. Tuy nhiên, thời cơ không tự nó quyết định thắng lợi. Vấn đề quan trọng hơn là vì sao cách mạng Việt Nam có đủ khả năng nhận diện, nắm bắt và chuyển hóa thời cơ đó thành thắng lợi.

Chính từ những biến động nhanh chóng của tình thế chính trị đó, trong nghiên cứu về Cách mạng tháng Tám năm 1945, một số học giả phương Tây đã sử dụng các khái niệm “khoảng trống chính trị” (political vacuum) hoặc “khoảng trống quyền lực” (power vacuum) để lý giải tình thế Việt Nam sau khi Nhật Bản đầu hàng Đồng Minh. Sử gia người Mỹ William J. Duiker đã sử dụng khái niệm “khoảng trống chính trị”. Ông viết: “Cần phải nhớ rằng cuộc Cách mạng tháng Tám đã đạt được thành tựu vĩ đại như vậy và thắng lợi của những người Cộng sản là có sự đóng góp ở mức độ không nhỏ của những hoàn cảnh ngẫu nhiên. Sự tan rã nhanh chóng của chính phủ ở cả các khu vực thành thị và nông thôn đi đôi với sự trì hoãn đổ bộ của các lực lượng chiếm đóng của Đồng Minh sau khi Nhật Bản đầu hàng đã tạo ra một khoảng trống chính trị ở tất cả các đầu mối quyền lực” [1].

Nhà sử học Na Uy - Stein Tønnesson tiếp tục luận giải tình thế này bằng khái niệm “khoảng trống quyền lực” (power vacuum). Quan điểm đó được ông trình bày trong luận án tiến sĩ và sau đó phát triển trong công trình The Vietnamese Revolution of 1945 - Roosevelt, Ho Chi Minh and de Gaulle in a World at War, xuất bản năm 1991. Trong công trình này, Tønnesson luận giải về “khoảng trống quyền lực” như sau: “Khoảng trống quyền lực có thể được mô tả cụ thể hơn là sự vắng mặt của người Pháp và quân Đồng Minh, sự thiếu quyết đoán của người Nhật trong việc duy trì sự cai trị cho đến khi quân Đồng Minh tới, và sự bất lực của giới quan lại cùng chính quyền của họ trong việc tự phục vụ quyền lợi của họ” [2].

Duiker và Tønnesson là hai trường hợp tiêu biểu cho cách lý giải tình thế Việt Nam tháng 8-1945 từ góc độ một “khoảng trống chính trị” hay “khoảng trống quyền lực”. Những cách lý giải này phản ánh một thực tế: sau ngày 15-8-1945, chính quyền đương thời suy yếu, quân Nhật không còn ý chí duy trì trật tự cũ như trước, trong khi quân Đồng Minh chưa có mặt. Tuy nhiên, việc sử dụng khái niệm “khoảng trống quyền lực” để mô tả tình thế đó cần được đối chiếu với thực tế tồn tại và hoạt động của các lực lượng chính trị, quân sự đương thời. Câu hỏi đặt ra là: sau ngày 15-8-1945, quyền lực có thực sự hoàn toàn bị bỏ ngỏ để lực lượng cách mạng chỉ việc tiếp quản hay không?

Trước hết, một lực lượng quân sự đáng kể của Nhật vẫn hiện diện tại Việt Nam. Vào thời điểm Nhật Bản đầu hàng, trên 90.000 quân Nhật vẫn có mặt tại Việt Nam, còn nguyên tổ chức và phần lớn vũ khí [3]. Đây là lực lượng quân sự chính quy chưa bị lực lượng cách mạng Việt Nam đánh tan và cũng chưa được Đồng Minh giải giáp. Khi Nội các Trần Trọng Kim và Hoàng đế Bảo Đại đứng trước nguy cơ bị lật đổ, phía Nhật còn cho biết có thể sử dụng quân đội để bảo vệ chính quyền nếu được yêu cầu: “Quân đội Nhật còn trách nhiệm giữ trật tự cho đến khi quân Đồng Minh đến thay và nếu Chính phủ Việt Nam công nhiên có lời mời quân Nhật giúp, quân Nhật có thể giữ trật tự” [4]. Điều đó cho thấy việc Nhật Bản tuyên bố đầu hàng không đồng nghĩa với việc lực lượng quân sự Nhật tại Việt Nam lập tức mất khả năng can thiệp hay duy trì trật tự theo yêu cầu của chính quyền đương thời.

Anh-tin-bai
Ngày 2-9-1945, trên chiến hạm USS Missouri của Hải quân Hoa Kỳ, Ngoại trưởng Nhật Bản Mamoru Shigemitsu đã ký văn kiện chấp nhận đầu hàng. Nguồn: Tư liệu quốc tế/Thông tấn xã Việt Nam. https://www.qdnd.vn/tu-lieu-ho-so/ngay-nay-nam-xua/ngay-2-9-1945-bac-ho-doc-tuyen-ngon-doc-lap-704315, truy cập 18-8-2026.

Thực tế ở các địa phương càng cho thấy rõ điều đó. Tại Thái Nguyên, từ ngày 16-8-1945, lực lượng vũ trang cách mạng tiến công các vị trí quân Nhật có sự tham gia của “Đội Con Nai” thuộc OSS do Allison Thomas chỉ huy. Tuy nhiên, sau nhiều ngày giao tranh, quân Nhật vẫn chưa bị tiêu diệt hoặc đầu hàng. Chỉ sau khi tình hình ở Hà Nội thay đổi và phía Nhật nhận được lệnh ngừng bắn, họ mới chấp nhận thương lượng và bàn giao vị trí cho lực lượng cách mạng. Diễn biến này cho thấy, ngay sau khi Nhật Bản tuyên bố đầu hàng Đồng Minh, quân Nhật tại Việt Nam không phải ở mọi nơi đều lập tức buông vũ khí hoặc mất khả năng chống trả.

Ngay tại Hà Nội, nơi cuộc khởi nghĩa giành chính quyền thắng lợi ngày 19-8-1945, quân Nhật vẫn hiện diện và có khả năng can thiệp. Tại Ngân hàng Đông Dương, quân Nhật không chấp nhận bàn giao cơ sở này cho lực lượng khởi nghĩa, viện lý do phải bảo vệ để giao lại cho Đồng Minh; cuối cùng hai bên thỏa thuận cùng tổ chức canh gác. Tại Trại Bảo an binh (nay là 40 Hàng Bài), sau khi lực lượng cách mạng tiếp quản trại và thu vũ khí, quân Nhật đã đưa xe tăng và binh lính bao vây, đòi tước vũ khí và chiếm lại trại. Tình thế chỉ được giải quyết sau khi đại diện Việt Minh trực tiếp thương lượng với phía Nhật [5]. Việc không xảy ra một cuộc xung đột quân sự lớn vì thế không có nghĩa quân Nhật đã mất khả năng can thiệp, mà còn gắn với chủ trương tránh đối đầu trực tiếp và hoạt động thương lượng của lực lượng cách mạng.

Bên cạnh quân Nhật, hệ thống chính quyền Trần Trọng Kim tuy suy yếu nghiêm trọng nhưng chưa tự động tan rã. Ngày 14-8-1945, Chính phủ Trần Trọng Kim còn ra Tuyên cáo rằng: “Chúng tôi vẫn hợp tác chặt chẽ với các nhà đương chức Nhật Bản và chúng tôi không bao giờ quên rằng quân đội Nhật giải phóng cho ta ra ngoài cái ách áp chế của người ngoại quốc” [6].

Ngày 17-8-1945, Tổng hội Công chức vẫn tổ chức mít tinh tại Hà Nội nhằm ủng hộ Chính phủ; ngày 18-8-1945, Bộ trưởng Hoàng Xuân Hãn, đại diện Chính phủ Trần Trọng Kim, tiếp tục gặp đại diện Việt Minh và đề nghị để Chính phủ quản lý các thành phố lớn trong khi Việt Minh nắm các vùng nông thôn: “Việt Minh các ông cứ nắm tất cả các vùng nông thôn, nhưng nên để Chính phủ tiếp tục quản lý các thành phố lớn, cốt để có danh nghĩa mà nói chuyện với Đồng Minh…” [7]. Những hoạt động này cho thấy bộ máy chính quyền đương thời đã suy yếu nghiêm trọng nhưng chưa hoàn toàn mất khả năng hoạt động trước khi lực lượng cách mạng giành chính quyền.

Ở Nam Kỳ, tình hình cũng cho thấy sự tồn tại và hoạt động của các lực lượng chính trị ngoài Việt Minh. Ngày 21-8-1945, Mặt trận Quốc gia Thống nhất - tập hợp một số tổ chức và giáo phái thân Nhật ở Nam Kỳ - vẫn tổ chức tại Sài Gòn một cuộc mít tinh lớn với khoảng nửa triệu người tham gia, trên danh nghĩa nhằm chào mừng Nam Kỳ trở về với Việt Nam, đồng thời thể hiện sự ủng hộ đối với Chính phủ Trần Trọng Kim và đón Khâm sai Nguyễn Văn Sâm. Sự chống đối ở một số địa phương thậm chí còn dẫn đến tổn thất về người; tại Hà Đông, sự chống đối của Quản Dưỡng đã khiến 47 người thiệt mạng [8].

Những sự kiện trên cho thấy cần phân biệt rõ khủng hoảng quyền lực với “khoảng trống quyền lực”. Sau ngày 15-8-1945, trật tự chính trị do Nhật thiết lập ở Việt Nam thực sự lâm vào khủng hoảng sâu sắc: quân Nhật mất ý chí tiếp tục chiến tranh, chính quyền Trần Trọng Kim suy yếu và quân Đồng Minh chưa tới. Tuy nhiên, những lực lượng thuộc trật tự cũ vẫn tiếp tục tồn tại và hoạt động: quân Nhật còn duy trì một lực lượng quân sự lớn cùng vũ khí; chính quyền Trần Trọng Kim và một số lực lượng chính trị vẫn còn tổ chức, bộ máy và khả năng hành động; ở một số nơi, họ vẫn có thể can thiệp hoặc chống lại quá trình giành chính quyền. Bởi vậy, sự khủng hoảng và suy yếu của hệ thống quyền lực cũ không thể đồng nhất với một “khoảng trống quyền lực” theo nghĩa quyền lực hoàn toàn bị bỏ ngỏ để lực lượng cách mạng chỉ việc tiếp quản.

Sự suy yếu của đối phương và việc quân Đồng Minh chưa có mặt đã tạo ra thời cơ đặc biệt thuận lợi cho cách mạng. Song thời cơ chỉ có thể trở thành hiện thực lịch sử khi có một lực lượng chính trị đủ khả năng nhận diện, tổ chức và hành động. Vì vậy, muốn lý giải đầy đủ quá trình từ thời cơ đến thắng lợi phải trở lại với quá trình chuẩn bị lực lượng, xây dựng thế và tạo dựng thực lực của cách mạng Việt Nam trước tháng 8-1945.

2. Chuẩn bị lực lượng, tạo thế và xây dựng thực lực cách mạng

Thời cơ chỉ có thể trở thành thắng lợi khi lực lượng cách mạng đã được chuẩn bị và có đủ khả năng hành động. Khả năng đó không hình thành một cách tự phát mà là kết quả của quá trình chuẩn bị lâu dài dưới sự lãnh đạo của Đảng. Trên cơ sở xác định đúng mục tiêu và đường lối cách mạng, Đảng đề ra phương thức đấu tranh phù hợp với từng thời kỳ, đồng thời từng bước xây dựng, tổ chức và phát triển lực lượng chính trị, lực lượng vũ trang và căn cứ địa cách mạng. Chính quá trình chuẩn bị có định hướng và tổ chức đó đã tạo dựng thế và lực, đưa lực lượng cách mạng từng bước trưởng thành, sẵn sàng hành động khi thời cơ xuất hiện.

Ngay từ Chánh cương vắn tắt, Đảng đã xác định mục tiêu và nhiệm vụ cơ bản của cách mạng: “Đánh đổ đế quốc chủ nghĩa Pháp và bọn phong kiến; làm cho nước Việt Nam được hoàn toàn độc lập; dựng ra Chính phủ công nông binh, tổ chức quân đội công nông” [9]. Cùng với việc xác định mục tiêu đó, Đảng chủ trương tập hợp rộng rãi các lực lượng có thể tham gia cuộc đấu tranh chống đế quốc.

Khi Chiến tranh thế giới thứ hai làm thay đổi sâu sắc tình hình trong nước và quốc tế, yêu cầu giải phóng dân tộc trở nên trực tiếp và cấp bách, Đảng ta kịp thời chuyển hướng chỉ đạo chiến lược. Quá trình này được mở đầu tại Hội nghị Trung ương tháng 11-1939, tiếp tục tại Hội nghị Trung ương tháng 11-1940 và hoàn chỉnh tại Hội nghị Trung ương lần thứ tám tháng 5-1941 dưới sự chủ trì của đồng chí Nguyễn Ái Quốc. Nhiệm vụ giải phóng dân tộc được đặt lên hàng đầu, tập trung mọi lực lượng cho mục tiêu giành độc lập: “Trong lúc này quyền lợi của bộ phận, của giai cấp phải đặt dưới sự sinh tử, tồn vong của quốc gia, của dân tộc. Trong lúc này nếu không giải quyết được vấn đề dân tộc giải phóng, không đòi được độc lập, tự do cho toàn thể dân tộc, thì chẳng những toàn thể quốc gia dân tộc còn chịu mãi kiếp ngựa trâu, mà quyền lợi của bộ phận, giai cấp đến vạn năm cũng không đòi lại được. Đó là nhiệm vụ của Đảng ta trong vấn đề dân tộc” [10].

Việc đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu đồng thời gắn với việc xác định phương thức đưa cách mạng tới mục tiêu giành chính quyền. Hội nghị Trung ương lần thứ tám (tháng 5-1941) chỉ rõ: “Cuộc cách mạng Đông Dương phải kết liễu bằng một cuộc khởi nghĩa võ trang” [11], đồng thời nhấn mạnh: “ta phải luôn luôn chuẩn bị một lực lượng sẵn sàng, nhằm cơ hội thuận tiện hơn cả mà đánh lại quân thù” [12]. Như vậy, Đảng không chỉ xác định khởi nghĩa vũ trang là phương thức giành chính quyền mà còn đặt vấn đề khởi nghĩa trong mối quan hệ chặt chẽ giữa chuẩn bị lực lượng và nắm bắt thời cơ.

Trên cơ sở đó, xây dựng lực lượng cách mạng trở thành yêu cầu trực tiếp của quá trình chuẩn bị khởi nghĩa. Trước hết, Đảng chú trọng xây dựng lực lượng chính trị rộng rãi, tập hợp đông đảo các tầng lớp nhân dân vào mục tiêu giải phóng dân tộc. Tại Hội nghị Trung ương lần thứ tám tháng 5-1941, Đảng chủ trương: “Sự liên minh tất cả lực lượng của các giai cấp, đảng phái, các nhóm cách mạng cứu nước, các tôn giáo, các dân tộc kháng Nhật, đó là công việc cốt yếu của Đảng ta” [13]. Trên cơ sở đó, Mặt trận Việt Nam Độc lập Đồng minh (gọi tắt là Mặt trận Việt Minh) ra đời cùng hệ thống các hội cứu quốc, tạo ra hình thức tổ chức phù hợp để quy tụ các tầng lớp nhân dân vào mục tiêu giải phóng dân tộc. Thông qua Mặt trận Việt Minh và các tổ chức cứu quốc, sức mạnh yêu nước của quần chúng từng bước được tổ chức thành lực lượng chính trị, được rèn luyện qua đấu tranh và sẵn sàng tham gia giành chính quyền khi thời cơ xuất hiện.

Song song với việc xây dựng lực lượng chính trị, lực lượng vũ trang cách mạng từng bước được hình thành và phát triển. Từ các đội tự vệ, du kích và Cứu quốc quân, ngày 22-12-1944, Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân được thành lập với 3 tiểu đội, 34 chiến sĩ; đến ngày 15-5-1945, Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân và Cứu quốc quân được thống nhất thành Việt Nam Giải phóng quân. Sự phát triển từ các tổ chức vũ trang tại cơ sở đến lực lượng tập trung thống nhất đánh dấu bước trưởng thành quan trọng của lực lượng vũ trang cách mạng, tạo một bộ phận nòng cốt hỗ trợ quần chúng đấu tranh và trực tiếp tham gia quá trình giành chính quyền.

Cùng với quá trình phát triển lực lượng, hệ thống căn cứ địa cách mạng từng bước được xây dựng và mở rộng. Từ Cao Bằng, Bắc Sơn - Võ Nhai, các vùng căn cứ được củng cố, mở rộng và từng bước nối liền; đến tháng 6-1945, Khu Giải phóng Việt Bắc được thành lập. Căn cứ địa không chỉ là nơi đứng chân của lực lượng cách mạng mà còn là địa bàn xây dựng tổ chức, đào tạo cán bộ, phát triển lực lượng và thực hành những hình thức chính quyền cách mạng, tạo chỗ dựa để phong trào tiếp tục phát triển khi tình thế chuyển biến.

Quá trình chuẩn bị lực lượng và tạo thế cách mạng tiếp tục được đẩy mạnh khi tình hình chính trị thay đổi sau cuộc đảo chính Nhật - Pháp ngày 9-3-1945. Chỉ thị Nhật - Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta ngày 12-3-1945 nhận định: “Mặc dầu tình hình chính trị khủng hoảng sâu sắc, nhưng điều kiện khởi nghĩa ở Đông Dương hiện nay chưa thực chín muồi” [14]. Vì vậy, Đảng không phát động Tổng khởi nghĩa ngay mà chủ trương đẩy mạnh cao trào kháng Nhật cứu nước, phát triển lực lượng và tiến hành khởi nghĩa từng phần ở những nơi có điều kiện. Quyết định này cho thấy Đảng không đồng nhất sự sụp đổ của bộ máy thực dân Pháp với sự xuất hiện đầy đủ của thời cơ giành chính quyền, đồng thời cũng không thụ động chờ Nhật thất bại mà chủ động tạo thế, tạo lực để chuẩn bị cho bước phát triển quyết định.

Lực lượng và thế cách mạng không chỉ được phát triển về tổ chức mà còn được rèn luyện, kiểm nghiệm qua thực tiễn đấu tranh. Sau cuộc đảo chính Nhật - Pháp (tháng 3-1945), cao trào kháng Nhật cứu nước phát triển mạnh, khởi nghĩa từng phần diễn ra ở những nơi có điều kiện; bộ máy chính quyền cũ bị phá vỡ từng bộ phận và chính quyền cách mạng được thiết lập tại một số địa phương. Tại Chiến khu Trần Hưng Đạo, lực lượng cách mạng đã giành chính quyền ở phần lớn các địa bàn thuộc Đông Triều, Uông Bí từ cuối tháng 6, đầu tháng 7-1945, tức hơn một tháng trước khi Nhật Bản tuyên bố đầu hàng Đồng Minh.

Những diễn biến trên cho thấy, trước khi Nhật Bản tuyên bố đầu hàng Đồng Minh (ngày 15-8-1945), cách mạng Việt Nam đã có sự chuẩn bị tương đối đầy đủ về lực lượng chính trị, lực lượng vũ trang và căn cứ địa cách mạng. Quan trọng hơn, thực lực đó đã được rèn luyện và kiểm nghiệm qua thực tiễn đấu tranh, nhất là trong cao trào kháng Nhật cứu nước; ở một số địa phương, quá trình giành chính quyền đã diễn ra trước khi Nhật Bản tuyên bố đầu hàng. Vì vậy, ngày 15-8-1945 không phải là điểm khởi đầu của quá trình giành chính quyền, mà là thời điểm tình thế khách quan chuyển biến đặc biệt thuận lợi, tạo điều kiện để thực lực đã được chuẩn bị từ trước được huy động trên phạm vi cả nước, đưa cuộc đấu tranh phát triển thành Tổng khởi nghĩa.

3. Nhận định đúng thời cơ, Đảng phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc đưa tổng khởi nghĩa đến thắng lợi

Có thực lực là điều kiện cần thiết, nhưng để chuyển thực lực đó thành thắng lợi còn phụ thuộc vào khả năng nhận định đúng tình thế và quyết định hành động đúng thời điểm. Thời cơ Tổng khởi nghĩa tháng 8-1945 chỉ tồn tại trong một khoảng thời gian ngắn: Nhật Bản đã tuyên bố đầu hàng Đồng Minh, trong khi quân Đồng Minh chưa tiến vào Đông Dương để giải giáp quân Nhật và thực dân Pháp chưa kịp trở lại. Bởi vậy, vấn đề không chỉ ở chỗ thời cơ xuất hiện, mà quan trọng hơn là kịp thời phát động Tổng khởi nghĩa và giành chính quyền trước khi những điều kiện thuận lợi đó thay đổi.

Đến giữa tháng 8-1945, tình hình quốc tế và trong nước chuyển biến hết sức nhanh chóng. Những thất bại liên tiếp của quân Nhật cho thấy sự đầu hàng của Nhật Bản đã trở thành tất yếu; ngày 15-8-1945, Nhật chính thức tuyên bố đầu hàng vô điều kiện. Trong bối cảnh đó, Hội nghị toàn quốc của Đảng họp tại Tân Trào đã kịp thời nhận định: “Cơ hội rất tốt cho ta giành độc lập đã tới” [15]. Tiếp đó, trong hai ngày 16 và 17-8-1945, Quốc dân Đại hội tán thành chủ trương Tổng khởi nghĩa và thành lập Ủy ban Dân tộc Giải phóng Việt Nam. Những quyết định được đưa ra liên tiếp trong thời gian rất ngắn cho thấy sự chủ động của Đảng trong nhận định, nắm bắt thời cơ và nhanh chóng chuyển từ quyết định chiến lược sang tổ chức hành động giành chính quyền trên phạm vi cả nước.

Quyết tâm giành độc lập của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã được thể hiện rõ từ trước khi thời cơ Tổng khởi nghĩa xuất hiện đầy đủ. Theo hồi ức của Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Người từng khẳng định: “Lúc này thời cơ thuận lợi đã tới, dù hy sinh tới đâu, dù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải kiên quyết giành cho được độc lập” [16]. Khi thời cơ quyết định đã đến, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi Thư kêu gọi Tổng khởi nghĩa, hiệu triệu toàn dân: “Giờ quyết định cho vận mệnh dân tộc ta đã đến. Toàn quốc đồng bào hãy đứng dậy đem sức ta mà tự giải phóng cho ta. Nhiều dân tộc bị áp bức trên thế giới đang ganh nhau tiến bước giành quyền độc lập. Chúng ta không thể chậm trễ. Tiến lên! Tiến lên? Dưới lá cờ Việt Minh, đồng bào hãy dũng cảm tiến lên!” [17].

Đáng chú ý, quyết định Tổng khởi nghĩa được đưa ra trước khi quân Đồng Minh vào Đông Dương và trước khi quân Nhật tại Việt Nam bị giải giáp. Điều đó cho thấy lực lượng cách mạng đã chủ động hành động ngay khi tương quan lực lượng chuyển biến có lợi nhất, không để thời cơ ngắn ngủi trôi qua. Việc nhận định đúng tình thế và quyết định hành động kịp thời vì thế là một trong những yếu tố trực tiếp đưa quá trình chuẩn bị lâu dài của cách mạng chuyển thành cuộc Tổng khởi nghĩa giành chính quyền.

Tuy nhiên, quyết định đúng thời điểm chỉ có thể phát huy hiệu quả khi được bảo đảm bằng sức mạnh của đông đảo quần chúng nhân dân. Thông qua Mặt trận Việt Minh và các hội cứu quốc, công nhân, nông dân, thanh niên, phụ nữ, trí thức, tiểu thương, công chức và nhiều lực lượng yêu nước được quy tụ vào mục tiêu chung là độc lập dân tộc. Ý nghĩa của quá trình này không chỉ ở quy mô lực lượng, mà quan trọng hơn là biến tinh thần yêu nước và ý chí giành độc lập của đông đảo quần chúng thành sức mạnh chính trị có tổ chức, có mục tiêu thống nhất và có khả năng hành động khi thời cơ xuất hiện.

Thực tiễn Tổng khởi nghĩa cho thấy rõ sức mạnh đó. Tại Hà Nội, ngày 17-8-1945, lực lượng cách mạng biến cuộc mít tinh của Tổng hội Công chức thành cuộc biểu dương lực lượng ủng hộ Việt Minh; hai ngày sau, ngày 19-8-1945, đông đảo quần chúng xuống đường, chiếm các cơ quan trọng yếu và giành chính quyền ở Thủ đô. Tại Sài Gòn ngày 25-8-1945, đông đảo quần chúng tham gia giành chính quyền, tạo nên ưu thế chính trị áp đảo. Từ các đô thị lớn đến nhiều địa phương trong cả nước, sự tham gia rộng rãi và có tổ chức của quần chúng đã tạo nên sức mạnh chính trị to lớn, góp phần làm tê liệt sự chống đối của bộ máy chính quyền cũ và đưa quá trình giành chính quyền diễn ra nhanh chóng.

Anh-tin-bai
Quần chúng cách mạng và tự vệ chiến đấu Hà Nội chiếm Phủ Khâm sai (Bắc Bộ phủ) ngày 19-8-1945. Nguồn: Tư liệu Thông tấn xã Việt Nam, https://btllang.mod.gov.vn/tin-tuc/tin-tong-hop/15259-cach-mang-thang-tam-nam-1945-bai-hoc-ve-nhan-dinh-van-dung-thoi-co-va-bao-ve-thanh-qua-cach-mang-cua-dang.html, truy cập 18-8-2026.

Như vậy, từ thời cơ đến thắng lợi là một quá trình trong đó những điều kiện khách quan thuận lợi chỉ có thể phát huy tác dụng thông qua những nhân tố chủ quan đã được chuẩn bị và tổ chức từ trước. Nếu sự thất bại của phát xít Nhật làm xuất hiện thời cơ, thì đường lối đúng đắn và quá trình chuẩn bị lâu dài đã tạo dựng thực lực cần thiết để đón nhận thời cơ; việc nhận định chính xác tình thế và quyết định Tổng khởi nghĩa đúng lúc đã đưa những lực lượng được chuẩn bị từ trước vào hành động; sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc bảo đảm cho quyết định khởi nghĩa được triển khai rộng khắp và nhanh chóng giành chính quyền.

Trong toàn bộ quá trình đó, sự lãnh đạo đúng đắn, chủ động và sáng tạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh giữ vai trò quyết định. Vai trò đó không chỉ thể hiện ở quyết định phát động Tổng khởi nghĩa tháng 8-1945, mà xuyên suốt từ việc xác định mục tiêu, đường lối và phương thức cách mạng, tổ chức chuẩn bị lực lượng, tạo thế, tạo lực đến nhận định chính xác thời cơ và lựa chọn thời điểm đưa lực lượng cách mạng vào hành động giành chính quyền. Cùng với đó, Mặt trận Việt Minh giữ vai trò quan trọng trong việc tập hợp, tổ chức và huy động đông đảo quần chúng, biến sức mạnh yêu nước thành sức mạnh chính trị của cuộc Tổng khởi nghĩa. Chính sự kết hợp giữa thời cơ, thực lực và sức mạnh quần chúng dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tạo nên sức mạnh tổng hợp đưa cuộc Tổng khởi nghĩa đến thắng lợi trên phạm vi cả nước.

4. Nhận xét

Thắng lợi của Cách mạng tháng Tám năm 1945 là kết quả của sự kết hợp giữa những điều kiện khách quan thuận lợi với những nhân tố chủ quan được chuẩn bị trong một quá trình lâu dài, trong đó sự lãnh đạo đúng đắn, sáng suốt và kịp thời của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh giữ vai trò quyết định. Sự thất bại của phát xít Nhật tạo ra thời cơ đặc biệt thuận lợi, nhưng đường lối cách mạng đúng đắn, quá trình chuẩn bị thực lực, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc và khả năng nhận định, nắm bắt thời cơ mới là những yếu tố bảo đảm để thời cơ được chuyển hóa thành thắng lợi.

Từ thực tiễn lịch sử đó có thể thấy, những cách giải thích cho rằng thắng lợi của Cách mạng tháng Tám chủ yếu bắt nguồn từ sự đầu hàng của Nhật Bản, một “khoảng trống quyền lực” hay sự may mắn của hoàn cảnh đều không phản ánh đầy đủ bản chất và những yếu tố làm nên thắng lợi của cuộc cách mạng. Nhật Bản đầu hàng tạo ra một điều kiện khách quan đặc biệt thuận lợi, nhưng không thể thay thế cho một quá trình chuẩn bị lực lượng, xây dựng tổ chức, phát triển phong trào quần chúng và chuẩn bị phương thức giành chính quyền đã được tiến hành trong nhiều năm. Cũng không thể đồng nhất sự khủng hoảng, suy yếu của hệ thống quyền lực cũ với việc quyền lực hoàn toàn bị bỏ ngỏ. Thực tế những ngày tháng 8-1945 cho thấy các lực lượng thuộc trật tự cũ vẫn tồn tại, trong đó quân Nhật còn lực lượng và vũ khí, chính quyền Trần Trọng Kim cùng các lực lượng chính trị khác vẫn có những hoạt động nhất định.

Quan trọng hơn, sự tồn tại của thời cơ khách quan chỉ trở thành thắng lợi lịch sử khi có lực lượng cách mạng đủ khả năng nhận diện và hành động. Đảng Cộng sản Đông Dương đã chuẩn bị cho thời cơ đó từ trước bằng việc xác định đúng nhiệm vụ giải phóng dân tộc, xây dựng Mặt trận Việt Minh, phát triển lực lượng chính trị, lực lượng vũ trang, căn cứ địa và từng bước hình thành các hình thức chính quyền cách mạng. Khi thời cơ xuất hiện, Đảng đã quyết đoán phát động Tổng khởi nghĩa, Chủ tịch Hồ Chí Minh kịp thời hiệu triệu toàn dân đứng lên tự giải phóng, còn Mặt trận Việt Minh trở thành lực lượng tổ chức, tập hợp và huy động quần chúng. Chính sự thống nhất giữa đường lối, tổ chức, lực lượng và hành động đã biến thời cơ lịch sử thành thắng lợi của cách mạng.

Nhận thức đúng về Cách mạng tháng Tám vì vậy không phải là phủ nhận vai trò của hoàn cảnh quốc tế hay thời cơ khách quan. Ngược lại, cần đánh giá đầy đủ vai trò của những yếu tố đó trong sự vận động của lịch sử. Nhưng đồng thời phải thấy rằng thời cơ chỉ là điều kiện thuận lợi; khả năng biến thời cơ thành thắng lợi phụ thuộc vào thực lực, bản lĩnh, năng lực tổ chức và quyết định hành động của lực lượng cách mạng. Đây chính là điểm có ý nghĩa phương pháp luận quan trọng khi nghiên cứu Cách mạng tháng Tám năm 1945.

Cách mạng tháng Tám không chỉ có ý nghĩa đối với lịch sử dân tộc mà còn để lại những bài học có giá trị lâu dài. Đó là bài học về kiên định mục tiêu độc lập dân tộc; về xây dựng và phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân; về chủ động chuẩn bị thực lực; về nắm vững và vận dụng sáng tạo đường lối phù hợp với tình hình; về khả năng nhận định chính xác, nắm bắt và tận dụng thời cơ; đồng thời là bài học về kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh của thời đại. Những giá trị đó không bị giới hạn trong hoàn cảnh năm 1945 mà tiếp tục có ý nghĩa trong công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay.

Trong bối cảnh đất nước tiếp tục đẩy mạnh công cuộc đổi mới và hội nhập quốc tế, việc nghiên cứu, nhận thức và phát huy giá trị của Cách mạng tháng Tám cần gắn với yêu cầu bảo vệ sự thật lịch sử, củng cố niềm tin và phát huy những bài học đã được thực tiễn cách mạng kiểm nghiệm. Đồng thời, trước những cách diễn giải phiến diện có xu hướng tuyệt đối hóa yếu tố khách quan, đề cao “khoảng trống quyền lực” hoặc hạ thấp vai trò của Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Mặt trận Việt Minh, việc trở lại với hệ thống tư liệu và toàn bộ tiến trình lịch sử là cơ sở quan trọng để nhận thức khách quan, toàn diện và khoa học hơn về thắng lợi của Cách mạng tháng Tám.

Sức sống của Cách mạng tháng Tám năm 1945 vì thế không chỉ nằm ở thắng lợi giành chính quyền trong một thời điểm lịch sử đặc biệt, mà còn ở những giá trị được kết tinh từ quá trình chuẩn bị, tổ chức và hành động của cả dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng. Đó là sự kết hợp giữa chuẩn bị lâu dài và hành động quyết đoán, giữa sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại, giữa thời cơ khách quan và nhân tố chủ quan. Chính sự kết hợp đó đã làm nên thắng lợi của Cách mạng tháng Tám và tiếp tục tạo nên những giá trị có ý nghĩa lâu dài đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam.


Chú thích:

[1] Duiker, William J. (1981). The Communist Road to Power in Vietnam, Boulder Co., Westview Press, p.100.

[2] Tønnesson, Stein. (1991). The Vietnamese Revolution of 1945 - Roosevelt, Ho Chi Minh and De Gaulle in a World at War, PRIO, Oslo, p.6.

[3], [8] Phạm Hồng Tung. (2015). Cấu trúc quyền lực ở Việt Nam sau cuộc đảo chính ngày 9/3/1945 và vấn đề “khoảng trống quyền lực” trong Cách mạng tháng Tám, https://his.ussh.vnu.edu.vn/vi/news/nguyen-anh-nhat-tran/cau-truc-quyen-luc-o-viet-nam-sau-cuoc-dao-chinh-ngay-9-3-1945-va-van-de-khoang-trong-quyen-luc-trong-cach-mang-thang-tam-5827.html, truy cập 10-8-2026.

[4] Trần Trọng Kim. (1969). Một cơn gió bụi. Nxb. Vĩnh Sơn, Sài Gòn, tr.93.

[5] Lê Trọng Nghĩa. (1995). “Các Ủy ban nhân dân cách mạng ra mắt ở Hà Nội sau Khởi nghĩa Cách mạng tháng Tám”, in trong: 19-8: Cách mạng là sáng tạo, Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam, tr.87-94.

[6] Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam, Viện Sử học, Tạ Thị Thúy (Chủ biên). (2014). Lịch sử Việt Nam, tập 9 từ năm 1930 đến năm 1945. Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, tr.696.

[7] Lê Trọng Nghĩa. (1995). “Câu chuyện về những cuộc đấu tranh và tiếp xúc giữa Việt Minh với Chính phủ Trần Trọng Kim ở Hà Nội”, in trong: 19-8: Cách mạng là sáng tạo, Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam, tr.73-74.

[9] Đảng Cộng sản Việt Nam. (1998). Văn kiện Đảng toàn tập,. Nxb. Chính trị Quốc gia - Sự thật, Hà Nội, tập 2, tr.2.

[10] - [13], [11], [12], [14] Đảng Cộng sản Việt Nam. (2000). Văn kiện Đảng toàn tập. Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, tập 7, tr.113, 129, 131, 365.

[15], [16] Võ Nguyên Giáp. (1977). Những chặng đường lịch sử. Nxb. Văn học, Hà Nội, tr.205, 203.

[17] Hồ Chí Minh toàn tập. (2011). Nxb. Chính trị Quốc gia - Sự thật, Hà Nội, tập 3, tr.596.

ThS. Nguyễn Thị Huyền
Nguồn bài viết: Trang Thông tin điện tử Viện Sử học
Ý kiến bạn đọc
Họ tên no image
Nội dung no image
Mã kiểm tra no image
Tin xem nhiều
Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tất cả: 1