Đường lối kháng chiến chống Mỹ, cứu nước: Sự kế tục và phát huy kinh nghiệm từ Cách mạng Tháng Tám (1945) và kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945 - 1954)
Lịch sử đấu tranh giải phóng dân tộc của Việt Nam trong thế kỷ XX đánh dấu bước ngoặt với ba sự kiện trọng đại: Cách mạng Tháng Tám (1945), kháng chiến chống Pháp (1945-1954) và kháng chiến chống Mỹ (1954-1975). Nhân tố quyết định mọi thắng lợi là sự lãnh đạo chiến lược của Đảng trong việc vận dụng sáng tạo sức mạnh dân tộc và kế thừa kinh nghiệm lịch sử. Bài viết tập trung phân tích sự vận động của bạo lực cách mạng qua hai hình thức: khởi nghĩa và chiến tranh cách mạng. Dù có sự khác biệt về đối tượng, quy mô và thời gian, cả hai đều dựa trên thực lực chính trị của quần chúng để đạt mục tiêu chính trị.
Trong kháng chiến chống Mỹ, trên cơ sở đánh giá bản chất chủ nghĩa thực dân mới, Đảng đã xác định đường lối tại Hội nghị Trung ương 15 (1959) và Hội nghị Trung ương 9 (1963), khẳng định con đường bạo lực cách mạng kết hợp tiến công và nổi dậy. Đây là bước kế thừa và phát triển đỉnh cao kinh nghiệm từ Cách mạng Tháng Tám và chiến thắng Điện Biên Phủ. Việc thực hiện phương châm "hai chân, ba mũi" đã phát huy tối đa sức mạnh chiến tranh nhân dân, tạo tiền đề cho cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975, kết thúc thắng lợi sự nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Đúng như khẳng định trong báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III (tháng 9 năm 1960): “Cuộc đấu tranh cách mạng của nhân dân miền Nam là sự tiếp tục các cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ, khởi nghĩa Ba Tơ, tổng khởi nghĩa tháng Tám và cuộc kháng chiến trường kỳ của nhân dân ta trong điều kiện mới của lịch sử”[1].
1. Đường lối kháng chiến chống Mỹ, cứu nước
Sau thắng lợi của chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ, ngày 21/7/1954, Hiệp định Genève về đình chỉ chiến sự ở Việt Nam được ký kết. Hiệp định đã lập lại hòa bình ở Việt Nam và quy định sau hai năm sẽ tổ chức tổng tuyển cử, thống nhất đất nước. Hiệp định Genève là kết quả chín năm kháng chiến gian khổ của nhân dân nên cả dân tộc Việt Nam đều hy vọng đất nước sẽ được thống nhất.
Tuy nhiên, sự có mặt của Mỹ ở Việt Nam đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh dự đoán sẽ trở thành thế lực ngoại xâm thế chân Pháp. Năm 1954, nhận thư báo tin thắng lợi trong chiến dịch Điện Biên Phủ, Người đã dặn: Thắng lợi tuy lớn nhưng mới là bắt đầu, phải tính tới kẻ thù mới lớn hơn. Khi Đại tướng Võ Nguyên Giáp trở về từ chiến trường, Bác nói: “Chúc chú thắng lợi trở về! Chúng ta còn phải đánh Mỹ”[2]. Nghị quyết Hội nghị Trung ương 6, khóa II của Đảng, tháng 7 năm 1954 đã phân tích tình hình và nêu rõ: “Đế quốc Mỹ là kẻ thù chính của nhân dân yêu chuộng hoà bình thế giới, và hiện đang trở thành kẻ thù chính trực tiếp của nhân dân Đông Dương”[3]. Với dã tâm chia cắt Việt Nam lâu dài, Hoa Kỳ đã hậu thuẫn cho Ngô Đình Diệm lập nên chính quyền Sài Gòn làm bàn đạp hòng thực hiện chế độ thực dân mới trên địa bàn miền Nam Việt Nam. Ngô Đình Diệm đã tuyên bố không hiệp thương tổng tuyển cử thống nhất đất nước. Ngày 23/10/1955, Ngô Đình Diệm đã tổ chức “trưng cầu dân ý”, chính thức lên làm Tổng thống Việt Nam Cộng hòa.
Trong những năm từ 1954 đến năm 1956, phong trào đấu tranh đòi chính quyền Sài Gòn hòa bình Hiệp thương tổng tuyển cử diễn ra khắp miền Nam, đặc biệt ở các thành phố lớn. Nhưng chính quyền Sài Gòn được Hoa Kỳ tạo dựng đã không chịu thi hành hiệp thương tổng tuyển cử, hơn nữa còn thực thi chính sách tố Cộng, diệt Cộng, đàn áp khốc liệt các cuộc đấu tranh đòi thống nhất đất nước của nhân dân miền Nam. Sự đàn áp của chính quyền Sài Gòn ngày càng khốc liệt, đặc biệt khi Ngô Đình Diệm thực hiện Luật 10/59 để khủng bố những người yêu nước, lực lượng cách mạng miền Nam bị tổn thất nặng nề. Do chính sách đàn áp đó, nên đến cuối năm 1959, không những mục tiêu hòa bình thống nhất nước nhà không thực hiện được mà lực lượng cách mạng cách mạng miền Nam có nguy cơ bị địch tiêu diệt hoàn toàn. Theo Edward Miller thì trong 5 năm (1954-1959) lực lượng cách mạng đã tổn thất khoảng 90%, còn khoảng 5000 người[4].
Mặc dù vậy, bạo lực, đàn áp khốc liệt đến mấy cũng không dập tắt được lòng yêu nước, tinh thần dân tộc và ý chí đấu tranh cũng như quyết tâm thống nhất đất nước của nhân dân hai miền Nam – Bắc Việt Nam. Toàn thể dân tộc Việt Nam đứng trước thử thách lịch sử khi phải đối đầu với thế lực ngoại xâm hung bạo nhất, có tiềm lực quân sự mạnh nhất để bảo vệ độc lập dân tộc, đưa non sông nối liền một dải.
Để bảo vệ phong trào cách mạng, chống lại sự đàn áp khốc liệt Hoa Kỳ và chính quyền Việt Nam Cộng hòa, nhiều cán bộ và chiến sĩ của thời kỳ kháng chiến chống Pháp, những người ở lại bám trụ quê hương đã nhóm lập các đơn vị vũ trang cách mạng ở địa phương. Nam Bộ là địa bàn có nhiều đơn vị vũ trang cách mạng ra đời sớm nhất. Tính đến năm 1958-1959, Nam Bộ đã có hàng chục phân đội lập căn cứ, hoạt động chống địch khủng bố, diệt ác, bảo vệ các cấp ủy (chủ yếu tỉnh ủy)… Tuy nhiên vì chưa có đường lối thống nhất nên tổ chức, hoạt động các đơn vị này cũng như các tổ chức cách mạng bám trụ ở miền Nam lúc đó gặp nhiều khó khăn, lúng túng.
Bối cảnh trong nước, quốc tế cùng với tình thế cuộc đấu tranh cách mạng của nhân dân miền Nam thời điểm trên đã đặt ra cho Ban chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam (Đảng Cộng sản Việt Nam) một tình huống nan giải: khi đối phương không thực hiện quy định của Hiệp định Genève, tiến hành khủng bố ác liệt đối với lực lượng cách mạng thì phải đưa cách mạng miền Nam phát triển như thế nào để vừa phù hợp với nguyện vọng của nhân dân miền Nam vừa đáp ứng được tình thế khách quan lúc bấy giờ. Những người lãnh đạo cách mạng Việt Nam đã từng bàn luận nhiều lần về con đường phát triển của cách mạng miền Nam. Trong thư ngày 07/01/1961, đồng chí Lê Duẩn, Bí thư thứ nhất Ban chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam gửi đồng chí Mười Cúc (Nguyễn Văn Linh) và các đồng chí Nam Bộ đã thể hiện những trao đổi về việc cần phải tiến hành đấu tranh cách mạng ở miền Nam như thế nào, giải pháp nào trong điều kiện Việt Nam có hiệp định Genève ràng buộc cũng như xu hướng hòa hoãn của bối cảnh quốc tế có lúc đó (như chung sống hòa bình…)[5].
Trước bối cảnh lịch sử và yêu cầu thực tế của cách mạng miền Nam, năm 1959, Ban chấp hành Trung ương Đảng họp Hội nghị lần thứ 15 (Khóa II) - hội nghị quyết định không chỉ cho số phận của nhân dân mà còn cả vận mệnh của cách mạng miền Nam, của sự nghiệp đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Hội nghị đã vạch đường lối cách mạng miền Nam với những nội dung cơ bản[6]:
Một là, chỉ ra đế quốc Mỹ và chính quyền Sài Gòn là đối tượng đấu tranh của cách mạng miền Nam. Nhiệm vụ của cách mạng miền Nam là đánh đổ chính quyền Mỹ - Diệm, giành chính quyền về tay nhân dân, tiến tới hòa bình thống nhất đất nước.
Hai là, khẳng định dứt khoát con đường cách mạng miền Nam là phải sử dụng bạo lực cách mạng đánh đổ kẻ thù. Nghị quyết nhấn mạnh rằng, ngoài con đường cách mạng, nhân dân miền Nam không còn con đường nào khác.
Ba là, Nghị quyết chỉ ra phương lược để giành chính quyền là dùng sức mạnh chính trị tại chỗ của nhân dân miền Nam tiến hành khởi nghĩa để đánh đổ chính quyền địch, giành chính quyền về tay nhân dân. Nghị quyết chỉ rõ phương pháp cách mạng là dựa vào sức mạnh của quần chúng, dùng thực lực chính trị của nhân dân miền Nam, kết hợp sử dụng lực lượng vũ trang cách mạng để hỗ trợ cho phong trào đấu tranh chính trị. Để tiến hành cách mạng, phải xây dựng lực lượng chính trị, lấy đó làm yếu tố quyết định cho thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ.
Bốn là, nếu khởi nghĩa chưa thành công thì nhân dân miền Nam sẽ tiến hành cuộc kháng chiến trường kỳ và thắng lợi cuối cùng nhất định thuộc về lực lượng cách mạng.
Như vậy, Nghị quyết 15 của Ban chấp hành Trung ương Đảng đã nêu rõ nhiệm vụ, đối tượng, phương pháp và dự kiến tình thế cách mạng xảy ra trong cuộc đấu tranh của nhân dân miền Nam với Hoa Kỳ và chính quyền Việt Nam Cộng hòa. Nghị quyết đã được nhân dân miền Nam hưởng ứng nhiệt liệt với hàng loạt các cuộc đấu tranh tạo nên phong trào Đồng Khởi ở miền Nam trong những năm 1959-1960. Phong trào đã làm sụp đổ từng mảng lớn chính quyền Sài Gòn, đưa cách mạng miền Nam từ thế giữ gìn thực lực cách mạng tiến lên tiến công tiêu diệt kẻ thù. Sự kiện trên đã chấm dứt thời kỳ ổn định tạm thời của chủ nghĩa thực dân mới - Hoa Kỳ ở Việt Nam, từ đó đẩy chính quyền Sài Gòn vào giai đoạn khủng hoảng triền miên cho đến tận ngày sụp đổ vào tháng 4 năm 1975.
Tuy nhiên, phong trào Đồng Khởi không giành được thắng lợi hoàn toàn như trong Cách mạng tháng Tám năm 1945, cụ thể là chỉ đánh đổ được chính quyền địch ở cấp thôn xã, trong khi đó, chính quyền trung ương và các cấp khác vẫn còn nguyên vẹn; không thể tiêu hao được lực lượng quân chủ lực của chính quyền Sài Gòn (khoảng 10 sư đoàn). Thành quả của phong trào Đồng Khởi chỉ dừng lại ở mức như khởi nghĩa từng phần trong khởi nghĩa Cách mạng tháng Tám (1945). Vì vậy, sau thời gian hoảng loạn, chính quyền Ngô Đình Diệm được Hoa Kỳ tiếp sức đã quay lại khủng bố ác liệt phong trào cách mạng của nhân dân miền Nam. Thay vì khủng bố lực lượng cách mạng bằng luật định (dù nó đã phát xít hóa như luật 10/59), Hoa Kỳ và chính quyền Sài Gòn tiến hành đàn áp, khủng bố nhân dân miền Nam bằng cuộc chiến tranh phản cách mạng để tiêu diệt phong trào cách mạng của nhân dân miền Nam - phong trào là đạo quân chính trị, với hình thức chủ yếu là đấu tranh chính trị để giành quyền làm chủ. Vì thế, khi Hoa Kỳ chuyển sang thực hiện chiến lược chiến tranh đặc biệt, dùng toàn bộ lực lượng quân lực Việt Nam Cộng hòa để đàn áp phong trào đấu tranh của nhân dân miền Nam khiến cho cách mạng miền Nam không phát triển được.
Trước tình hình trên, từ năm 1961, Bộ Chính trị đã chỉ đạo cách mạng miền Nam phát triển theo khả năng thứ hai: đưa phong trào trở thành cuộc kháng chiến trường kỳ để giải phóng miền Nam. Chỉ đạo trên nghĩa là chuyển hướng chiến lược cho cách mạng miền Nam: tiến hành cuộc chiến tranh nhân dân để chống lại hình thái chiến tranh đặc biệt của đối phương.
Theo Chỉ thị của Bộ Chính trị ngày 21 tháng 1 năm 1961 về phương hướng và nhiệm vụ công tác trước mắt của cách mạng miền Nam thì trong cuộc đấu tranh trường kỳ mới, nhất thiết phải phát triển lực lượng vũ trang. Cách mạng miền Nam phải kết hợp cả đấu tranh chính trị và đấu tranh vũ trang[7]. Sau đó, Bộ Chính trị còn nhấn mạnh phương châm này trong Nghị quyết của Bộ Chính trị tháng 02/1962 về công tác cách mạng miền Nam[8] và Nghị quyết tháng 12 năm 1962 về tình hình, phương hướng và nhiệm vụ công tác trước mắt của cách mạng miền Nam[9]. Thay mặt Bộ Chính trị, Ban chấp hành Trung ương Đảng, chịu trách nhiệm trước Đảng, nhân dân và quân đội về chỉ đạo cách mạng miền Nam, trong quá trình chỉ đạo đưa khởi nghĩa từng phần lên chiến tranh cách mạng, Bí thư thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lê Duẩn đã nhận định “nếu không thấy hết sức tàn ác của địch thì cũng không thấy hết sự quyết định phải có đầy đủ lực lượng quân sự của quần chúng để chống địch và đánh bại địch”[10].
Từ chỉ đạo của Trung ương Đảng, lực lượng vũ trang cách mạng miền Nam đã phát triển không ngừng. Ngày 15/02/1961, Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam chính thức được thành lập. Đầu năm 1962, quân Giải phóng có khoảng 5 trung đoàn chủ lực. Đến đầu năm 1963, nhiều tỉnh có 1 tiểu đoàn bộ binh, huyện có vài trung đội tập trung. Tỷ lệ lực lượng vũ trang giữa ta và địch ngày một rút ngắn: Năm 1960: địch 10, ta 1; 1961: địch 7, ta 1; 1962 - 1963: địch 5, ta 1[11].
Trong thời điểm đầu năm 1963, lực lượng vũ trang cách mạng miền Nam đã đánh thắng chiến thuật “trực thăng vận”, “thiết xa vận” của Hoa Kỳ ở Ấp Bắc. Từ sự kiện trên, “phong trào thi đua Ấp Bắc diệt giặc lập công” diễn ra sôi nổi khắp miền Nam. Chiến thắng Ấp Bắc thể hiện sự phát triển mới của lực lượng vũ trang cách mạng miền Nam, làm phá sản chương trình bình định miền Nam của Hoa Kỳ, đưa cách mạng miền Nam phát triển nhanh chóng.
Nhằm đẩy mạnh công cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Hội nghị lần thứ 9 (Khóa III) của Ban chấp hành Trung ương Đảng tháng 12 năm 1963 đã tổng kết kinh nghiệm đấu tranh trong Cách mạng tháng Tám (1945) và trong kháng chiến chống thực dân Pháp để đưa cách mạng miền Nam nói riêng và cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân nói chung đi đến thắng lợi. Trong chỉ đạo cách mạng miền Nam, sau Hội nghị lần thứ 15 (khóa II) thì Hội nghị lần thứ 9 (Khóa III) của Ban chấp hành Trung ương Đảng có ý nghĩa vô cùng quan trọng. Nghị quyết Hội nghị lần thứ 9 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng tháng 12/1963 “Ra sức phấn đấu, tiến lên giành những thắng lợi mới ở miền Nam” đã nêu bật phương châm chiến lược của cách mạng miền Nam: Tiến công địch bằng 2 chân, 3 mũi, trên cả ba vùng chiến lược[12]. Đặc biệt, Nghị quyết tiếp tục khẳng định vai trò rất cơ bản và rất quyết định của đấu tranh chính trị và đấu tranh vũ trang, đặc biệt nhấn mạnh đấu tranh vũ trang đóng vai trò quyết định trực tiếp[13]. Nghị quyết trên đã hoàn thiện đường lối cách mạng miền Nam bao gồm mục tiêu, phương pháp cách mạng và cả phương châm chỉ đạo chiến lược. Từ đó, cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước ở miền Nam phát triển không ngừng, vượt qua, đánh thắng mọi hình thái chiến tranh và các chiến lược quân sự của Hoa Kỳ và chính quyền Việt Nam Cộng hòa, đưa sự nghiệp cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân miền Nam đi đến thắng lợi hoàn toàn.
Sau Hội nghị trên, các mặt trận từ B1 đến B5 đã tiến công địch bằng 2 chân, 3 mũi trong 3 vùng chiến lược theo điều kiện cụ thể của mình để từng bước đưa cách mạng miền Nam tiến lên. Từ năm 1965, dưới chỉ đạo của Trung ương Đảng, lực lượng vũ trang cách mạng miền Nam phát triển không ngừng. Sau khi nhận định đối phương thay đổi chiến lược từ hình thái chiến tranh đặc biệt sang hình thái chiến tranh cục bộ, Tổng Bí thư Lê Duẩn – người thay mặt Bộ Chính trị chỉ đạo cách mạng miền Nam đã gửi thư (tháng 2 và tháng 5 năm 1965) trao đổi với Nguyễn Chí Thanh về việc muốn thúc đẩy cách mạng miền Nam phát triển nhanh và thuận lợi thì phải diệt, làm tan rã 3 đến 4 sư đoàn địch. Nhưng lực lượng cách mạng miền Nam thời điểm đó chưa đủ mạnh để giáng cho đối phương những đòn chí tử như vậy[14].
Vì cách mạng miền Nam chưa giành được thắng lợi quyết định nên Hoa Kỳ còn mở rộng, kéo dài cuộc chiến tranh ở Việt Nam. Chỉ đến khi nhân dân miền Nam đánh bại căn bản chiến lược Việt Nam hóa chiến tranh, cuộc tập kích Linebacker II, giành chiến thắng vang dội trong trận Điện Biên phủ trên không mới buộc Hoa Kỳ ký Hiệp định Paris (năm 1973) về Việt Nam. Về mặt pháp lý và chiến lược, Hiệp định này không chỉ là đỉnh cao thắng lợi của mặt trận ngoại giao trong suốt 18 năm kháng chiến mà còn là bước ngoặt làm thay đổi căn bản tương quan lực lượng. Đây được xem là thắng lợi có tính bản lề, tạo tiền đề trực tiếp cho giai đoạn phát triển cuối cùng của cách mạng miền Nam. Đó thắng lợi quyết định của cách mạng miền Nam.
Sau năm 1973, vì đối phương không chịu thực hiện Hiệp định Paris, buộc nhân dân và lực lượng vũ trang cách mạng miền Nam phải tiếp tục sử dụng bạo lực cách mạng. Với sự trưởng thành vượt bậc về thế và lực của mình, trong mùa Xuân năm 1975, cách mạng miền Nam đã tiến công địch dồn dập với thế áp đảo, đánh sập toàn bộ hệ thống chính trị và quân sự của Việt Nam Cộng hòa.
2. Sự kế thừa và phát huy kinh nghiệm lãnh đạo cách mạng từ Cách mạng tháng Tám năm 1945 và kháng chiến chống Pháp trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước
Trong lịch sử dân tộc Việt Nam, các cuộc khởi nghĩa và kháng chiến chống ngoại xâm do giai cấp phong kiến lãnh đạo với mục đích chính nghĩa được nhân dân đồng tình hưởng ứng, những thắng lợi của nó để lại cho nhân dân Việt Nam nhiều kinh nghiệm quý báu về vận dụng sức mạnh của quần chúng nhân dân, truyền thống quân sự dân tộc, biết lấy ít thắng nhiều, lấy yếu thắng mạnh, lấy nhu thắng cương trong cuộc kháng chiến toàn dân.
Cho đến trước cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Trung ương Đảng đã có kinh nghiệm lãnh đạo từ Cách mạng tháng Tám năm 1945 và cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954). Có nhiều nguyên nhân dẫn đến thành công của Cách mạng tháng Tám và chín năm kháng chiến chống thực dân Pháp, trong đó, nổi bật nhất là việc sử dụng bạo lực cách mạng để chiến thắng kẻ thù. Bạo lực cách mạng ở đây là dựa vào sức mạnh quật khởi, không phải ám sát hay khủng bố. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, sức mạnh của toàn dân tộc đã được huy động trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc.
Bạo lực cách mạng trong Cách mạng tháng Tám (1945) và chiến tranh chín năm có những điểm tương đồng nhưng cũng có nhiều khác biệt. Đó là sự giống nhau và khác biệt giữa khởi nghĩa và kháng chiến/chiến tranh. Điểm tương đồng thể hiện ở hai yếu tố căn bản là đều dựa vào đạo quân chính trị (còn gọi là thực lực cách mạng, lực lượng chính trị, dựa vào nhân dân) và đều thực hiện mục tiêu cách mạng.
Khởi nghĩa trong Cách mạng tháng Tám là đấu tranh để giành chính quyền từ tay thực dân Pháp, kháng chiến chống Pháp là quá trình chiến đấu để bảo vệ chính quyền dân chủ nhân dân. Sự khác biệt giữa khởi nghĩa và chiến tranh/kháng chiến còn thể hiện trên các điểm: đối tượng, lực lượng, địa điểm và thời gian đấu tranh. Về đối tượng đấu tranh, khởi nghĩa nhằm đập tan chính quyền địch, giành chính quyền về tay nhân dân, trong khi đó, đối tượng của chiến tranh/kháng chiến là đạo quân chủ lực của đối phương, có đánh bại đạo quân này mới đưa kháng chiến đến thắng lợi. Về lực lượng đấu tranh, khởi nghĩa trước hết là của quần chúng cách mạng, dựa vào thực lực chính trị để chiến thắng kẻ thù, chiến tranh trước hết phải sử dụng lực lượng vũ trang cách mạng để chiến đấu với lực lượng vũ trang của đối phương. Về địa điểm, khởi nghĩa tháng Tám ở Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng, diễn ra khắp nơi nhưng trung tâm, đích đến phải đánh đổ chính quyền thực dân Pháp, khởi nghĩa chỉ giành được thắng lợi khi bùng nổ cao nhất ở đô thị - sào huyệt của kẻ thù. Chiến tranh/kháng chiến chống thực dân Pháp diễn ra chủ yếu ở địa bàn nông thôn, càng ở vùng rừng núi càng thuận lợi. Về thời gian, khởi nghĩa phải nổ ra càng nhanh càng tốt. Cách mạng tháng Tám (1945) chỉ nổ ra trong vòng vài tuần lễ, tranh thủ thời cơ cướp chính quyền về tay nhân dân. Nếu diễn ra sớm hay muộn sẽ khó thành công. Đối với chiến tranh/kháng chiến lại cần phải trường kỳ. Trường kỳ kháng chiến nhất định thắng lợi là đường lối đầu tiên của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp trong những năm 1945-1954.
Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975), cách mạng miền Nam đã diễn ra bằng cả đấu tranh chính trị và đấu tranh vũ tranh; kết hợp giữa khởi nghĩa và chiến tranh cách mạng. Bạo lực cách mạng trong chỉ đạo cách mạng miền Nam của Ban chấp hành Trung ương Đảng bao gồm yếu tố khởi nghĩa/tổng khởi nghĩa và tiến công/tổng tiến công. Đảng Lao động Việt Nam đã vận dụng vô cùng sáng tạo, dựa trên tích lũy, kế thừa và phát huy từ Cách mạng tháng Tám năm 1945 cùng công cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp trường kỳ, gian khổ, từ đó, đưa cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước lên đỉnh cao, trở thành cuộc chiến tranh cách mạng, chiến tranh nhân dân có sức mạnh vô địch. Chính do điều kiện khách quan mới (chống chủ nghĩa thực dân mới) cùng với kinh nghiệm tích lũy từ trước đó nên trong chỉ đạo cách mạng miền Nam, Ban chấp hành Trung ương Đảng đã khẳng định: cách mạng miền Nam phải tiến hành bằng cả hai lực lượng, hai mũi tiến công, trên cả ba vùng chiến lược.
Trong chỉ đạo cách mạng, bên cạnh việc kế thừa những kinh nghiệm của thời kỳ trước, Trung ương Đảng Lao động Việt Nam đã có những sáng tạo như dùng lực lượng chính trị và quân sự để đánh địch, nhưng vẫn giữ thế hợp pháp của quần chúng; không thể tiêu diệt hết quân đội địch nhưng phải đánh bại mục tiêu của quân đội đó mới đạt mục đích chính trị của ta; không thể tiêu diệt toàn bộ quân địch nhưng có thể làm ta rã từng bộ phận (Trong thư gửi Trung ương cục miền Nam ngày 18/7/1962 của Lê Duẩn)[15].
Đặc biệt, dưới sự chỉ đạo của Trung ương Đảng, quân và dân miền Nam đã tiến hành cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968 khiến Hoa Kỳ buộc phải xuống thang chiến tranh, ngừng ném bom miền Bắc, chuyển sang thực hiện chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh”, rút dần quân Mỹ và quân đồng minh ra khỏi miền Nam Việt Nam. Sau Tết Mậu Thân, tình hình chiến trường đã thay đổi, Đảng Lao động Việt Nam chuyển sang thực hiện phương châm chiến lược “Giành thắng lợi từng bước tiến lên giành thắng lợi hoàn toàn”- một phương châm chỉ đạo sáng tạo, phù hợp với thực tiễn so sánh lực lượng giữa Quân giải phóng với Hoa Kỳ và quân đội Việt Nam Cộng hòa trong thời điểm đế quốc Mỹ thực hiện chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh”, mở rộng chiến tranh ra toàn Đông Dương. Để thực hiện phương châm chiến lược trên, trong chỉ đạo, lãnh đạo cách mạng ở miền Nam, Trung ương Đảng đã nắm vững và phát huy quy luật chiến tranh nhân dân ở Việt Nam, quy luật của chiến tranh toàn dân, kết hợp chặt chẽ giữa tiến công và nổi dậy, nổi dậy và tiến công đi đến tổng tiến công và nổi dậy đồng loạt đánh bại quân thù. Tuy nhiên, trong tương quan lực lượng bất lợi cho chính quyền cách mạng, sự cần thiết của việc vừa chiến đấu vừa xây dựng, phát triển lực lượng đã được Đảng chú trọng thực hiện. Trong “Thư gửi anh Bảy Cường (Phạm Hùng) và Trung ương cục miền Nam”, tháng 7 năm 1970, Bí thư thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam - Lê Duẩn đã nhận định: vừa tiến công vừa xây dựng lực lượng là bước phát triển “dích dắc” của chiến tranh cách mạng miền Nam kể từ sau Tết Mậu Thân năm 1968[16].
Với đường lối, phương châm, cách mạng như trên, cuộc chiến tranh nhân dân Việt Nam đã kế thừa và phát huy kinh nghiệm lịch sử của Cách mạng tháng Tám (1945) và chín năm kháng chiến chống thực dân Pháp để đưa cách mạng miền Nam tiến lên. Đường lối kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, sự chỉ đạo của Trung ương Đảng trong kháng chiến đã thúc đẩy cách mạng miền Nam phát triển không ngừng. Cuộc chiến tranh nhân dân toàn dân toàn diện, kết hợp nhuần nhuyễn giữa đấu tranh chính trị với đấu tranh quân sự tùy từng nơi, từng lúc đã giúp cách mạng miền Nam vượt qua mọi khó khăn, gian khổ, đánh thắng kẻ thù hùng mạnh nhất trong phe đế quốc, đánh bại mọi hình thức, mưu lược chiến tranh của cường quốc quân sự số một trên thế giới.
3. Kết luận
Tiến trình lịch sử Việt Nam từ Cách mạng tháng Tám năm 1945 đến đại thắng mùa Xuân năm 1975 là một minh chứng điển hình cho sự vận động khách quan của quy luật dựng nước đi đôi với giữ nước. Qua việc phân tích các giai đoạn kháng chiến, có thể rút ra những nhận định như sau:
Thứ nhất là tính kế thừa và sự vận động của đường lối chiến lược. Kháng chiến chống Mỹ, cứu nước không phải là một thực thể biệt lập mà là sự kế thừa trực tiếp, có chọn lọc những kinh nghiệm quý báu từ cuộc kháng chiến chống Pháp. Tuy nhiên, sự kế thừa này không dừng lại ở việc lặp lại các mô hình sẵn có mà đã có bước nhảy vọt về tư duy chiến thuật. Nếu như trong thời kỳ chống Pháp, không gian chiến tranh chủ yếu tập trung tại vùng tự do và vùng địch hậu, thì đến cuộc đối đầu với đế quốc Mỹ, Đảng Lao động Việt Nam đã phát triển lên nghệ thuật tiến công trên cả ba vùng chiến lược (rừng núi, nông thôn đồng bằng và đô thị). Đây là sự sáng tạo độc đáo, phù hợp với đặc thù của một cuộc chiến tranh nhân dân hiện đại, đa diện.
Thứ hai là sự chuyển hóa biện chứng giữa hòa bình và bạo lực cách mạng. Lịch sử đấu tranh giải phóng dân tộc cho thấy, bạo lực cách mạng chưa bao giờ là lựa chọn tiên quyết của dân tộc Việt Nam. Thái độ kiềm chế, nhân nhượng có nguyên tắc của Đảng và Chính phủ sau năm 1945 và sau năm 1954 phản ánh bản chất yêu chuộng hòa bình và ý thức sâu sắc về việc bảo tồn tiềm lực quốc gia. Tuy nhiên, khi các giải pháp ngoại giao và chính trị bị đối phương khước từ bằng chính sách bạo lực hóa, việc chuyển dịch sang đấu tranh vũ trang là một tất yếu lịch sử. Khẩu hiệu "không bao giờ được đùa với khởi nghĩa" của Tổng Bí thư Lê Duẩn không chỉ là một chỉ thị quân sự, mà là quan điểm khoa học về tính dứt điểm và kiên định trong nghệ thuật chỉ đạo chiến tranh cách mạng.
Thứ ba là sức mạnh từ nhân dân chính là nhân tố quyết định cục diện chiến tranh. Xuyên suốt hai cuộc kháng chiến, "lấy dân làm gốc" không chỉ dừng lại ở một khẩu hiệu chính trị mà đã trở thành học thuyết quân sự thực tiễn. Khả năng huy động tối đa nguồn lực nội sinh từ quần chúng nhân dân chính là lời giải cho bài toán đối đầu không cân sức giữa một quốc gia nhược tiểu về kinh tế với các cường quốc hàng đầu thế giới. Chính sự đồng thuận giữa ý Đảng và lòng dân đã tạo nên sức mạnh tổng hợp, chuyển hóa ưu thế kỹ thuật của đối phương thành sự sa lầy về chiến lược.
Tóm lại, thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước là kết quả của sự tổng hòa giữa truyền thống chống ngoại xâm kiên cường với sự nhạy bén trong tư duy lý luận của Đảng Cộng sản Việt Nam. Nó khẳng định một chân lý lịch sử: Trong thời đại ngày nay, một dân tộc dù nhỏ nhưng có đường lối độc lập, tự chủ, biết đoàn kết toàn dân và vận dụng sáng tạo nghệ thuật quân sự nhân dân thì hoàn toàn có khả năng đánh bại mọi thế lực xâm lược dù chúng có tiềm lực quân sự hùng mạnh đến đâu.
Chú thích:
[1] Đảng Cộng sản Việt Nam (2002), Văn kiện Đảng toàn tập, tập 21 (1960), Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, tr.524.
[2] Bộ Quốc phòng, Ban Tư tưởng Văn hóa Trung ương, Thành ủy thành phố Hồ Chí Minh (2006), Đại thắng mùa Xuân 1975 bản lĩnh và trí tuệ Việt Nam, Nxb Quân đội nhân dân, tr.66.
[3] Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đảng toàn tập, tập 15 (1954), Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, tr. 225.
[4] Edward Miller (2016), Liên minh sai lầm: Ngô Đình Diệm, Mỹ và số phận miền Nam Việt Nam, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, tr. 270. Biên dịch, hiệu đính Minh Thu, Trọng Minh, Kim Thoa từ cuốn Edward Miller (2013), Misalliance: Ngo Dinh Diem, the United States, and The Face of South Vietnam, Harvard University Press, Cambridge, Massachusetts, London, England.
[5] Lê Duẩn (2015), Thư vào Nam (in lần thứ hai), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr.7-8.
[6] Đảng Cộng sản Việt Nam (2002), Văn kiện Đảng toàn tập, tập 20 (1959), Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, tr.81-87.
[7] Đảng Cộng sản Việt Nam (2002), Văn kiện Đảng toàn tập, tập 22 (1961), Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, tr.158.
[8] Đảng Cộng sản Việt Nam (2002), Văn kiện Đảng toàn tập, tập 23 (1962), Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, tr.143-164.
[9] Đảng Cộng sản Việt Nam (2002), Văn kiện Đảng toàn tập, tập 23 (1962), Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, tr.812-838.
[10] Thư gửi Trung ương cục miền Nam ngày 18 tháng 7 năm 1962 in trong Lê Duẩn (2015), Thư vào Nam, in lần thứ hai, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, tr. 24.
[11] Đảng Cộng sản Việt Nam (2004), Văn kiện Đảng toàn tập, tập 29 (1968), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr.11.
[12] Đảng Cộng sản Việt Nam (2003), Văn kiện Đảng toàn tập, tập 24 (1963), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr.836.
[13] Đảng Cộng sản Việt Nam (2003), Văn kiện Đảng toàn tập, tập 24 (1963), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr.830-831.
[14] Lê Duẩn (2015), Thư vào Nam, sđd, tr.59, 68.
[15] Lê Duẩn (2015), Thư vào Nam (in lần thứ hai), sđd, tr.24, 32, 34.
[16] Lê Duẩn (2015), Thư vào Nam (in lần thứ hai), sđd, tr.170.
Avatar: Xe tăng của Quân Giải phóng tiến vào Dinh Độc Lập trưa ngày 30/04/1975. Nguồn: https://nongthonmoi.danviet.vn/ket-qua-va-y-nghia-lich-su-cua-cuoc-khang-chien-chong-my-cuu-nuoc-1954-1975-d19219.html.