Bảo vệ, hoàn thiện và phát triển lý luận của Chủ nghĩa Mác -Lênin về phát triển công nghiệp xanh
Tóm tắt
Phát
triển công nghiệp xanh là giải pháp khả thi để giải quyết khủng hoảng sinh thái
và biến đổi khí hậu toàn cầu. Tuy nhiên, trên phương diện lý luận, vẫn còn
khoảng trống lớn giữa các giữa các học giả, trường phái phát triển về vấn đề
nay. Trong đó, nhiều nhà lý luận xem phát triển công nghiệp xanh đơn giản như
một quá trình kỹ thuật – công nghệ. Quan điểm này dẫn tới tư duy phiến diện,
thiếu tính hệ thống đối với phát triển công nghiệp xanh. Bài viết này tập trung
làm rõ những đóng góp về mặt lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin đối với lý
luận về phát triển công nghiệp xanh, đồng thời bổ sung, phát triển một số lý
luận mới để hoàn thiện cơ sở lý luận cho phát triển công nghiệp xanh ở Việt
Nam.
Từ
khoá: Công nghiệp xanh, chủ nghĩa Mác-Lênin, lý luận.
Abstracts
Green
industrial development is a feasible solution to address the ecological crisis
and global climate change. However, from a theoretical perspective, there
remains a significant gap among scholars and schools of development regarding
this issue. Notably, many theorists view green industrial development merely as
a technical-technological process. This perspective leads to a one-sided and
unsystematic approach toward green industrial development. This article focuses
on clarifying the theoretical contributions of Marxism-Leninism to the theory
of green industrial development, while also supplementing and developing new
theoretical insights to complete the framework for green industrial development
in Vietnam.
Keywords:
Green industry, Marxism-Leninism, theory.
1. Đặt
vấn đề
Trong
bối cảnh khủng hoảng sinh thái đang diễn ra nhanh chóng ở phạm vi toàn cầu, các
giải pháp chuyển đổi mô hình phát triển kinh tế từ mô hình kinh tế nâu sang mô
hình kinh tế xanh, kinh tế carbon thấp, công nghiệp xanh chỉ được nhìn nhận như
những giải pháp mang tính kỹ thuật - công nghệ và thị trường. Tuy nhiên, về bản
chất, cách tiếp cận này đã bỏ qua các mẫu thuẫn cơ bản có tính cấu trúc giữa
tăng trưởng kinh tế và những giới hạn của hệ sinh thái. Do đó, phát triển công
nghiệp xanh không chỉ đơn thuần là một quá trình xanh hoá công nghiệp thông qua
kỹ thuật-công nghệ hoặc phát triển các ngành công nghiệp xanh mới (UNIDO,
2011), mà nó là quá trình chuyển đổi phức tạp, mang tính hệ thống, dưới sự dẫn
dắt, thúc đẩy của Nhà nước.
Có thể
khẳng định rằng, mặc dù trong thời đại của C. Mác và Ăng-ghen khái niệm phát
triển công nghiệp xanh chưa xuất hiện, nhưng C. Mác và Ăng-ghen đã phân tích,
dự báo những tác động và hệ quả tất yếu của phương thức sản xuất tư bản chủ
nghĩa đến tài nguyên, môi trường thông qua mối quan hệ biện chứng giữa con
người và tự nhiên, lý luận về đứt gãy trao đổi chất,… chủ nghĩa Mác – Lênin
cung cấp cơ sở lý luận cơ bản, sâu sắc, toàn diện về phát triển công nghiệp
xanh, cho phép hình thành nhận thức, khẳng định tính đúng đắn của chính sách
phát triển kinh tế xanh nói chung và phát triển công nghiệp xanh nói riêng ở
Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.
Bài
viết này góp phần làm rõ, củng cố những vấn đề lý luận về vấn đề phát triển
công nghiệp xanh từ cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin; đồng thời bổ sung,
hoàn thiện và phát triển lý luận phát triển công nghiệp xanh từ tiếp cận địa lý
nhân văn, qua đó phản bác lại các quan điểm, luận điểm sai trái, chống phá của
các thể lực thù địch đối với chủ nghĩa Mác - Lênin cũng như quan điểm, chủ
trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về phát triển công nghiệp xanh hiện
nay.
2. Những
đóng góp của chủ nghĩa Mác - Lênin cho phát triển lý luận về phát triển công
nghiệp xanh
2.1.
Biện chứng về mối quan hệ giữa con người và tự nhiên
Khi bàn
về mối quan hệ giữa con người và tự nhiên, nhiều nhà lý luận phương Tây trước
thời đại C. Mác và Ăng-ghen xem con người là trung tâm, coi thiên nhiên là đối
tượng để khai thác, thống trị và phục vụ nhu cầu của con người. C. Mác đã phê
phán quan niệm sinh thái học “cũ”, đưa phép biện chứng vào khái niệm sinh
thái học, khẳng định con người là một bộ phận của thế giới tự nhiên, phụ thuộc
vào tự nhiên (Liu và Wei, 2023). Ông khẳng định, mối quan hệ giữa con người và
tự nhiên là thống nhất là sự thống nhất của các mặt đối lập. Con người có thể
hiểu biết, biến đổi và chỉnh sửa tự nhiên. Trong mối quan hệ với tự nhiên, con
người là chủ thể và tự nhiên là khách thể. Con người có thể làm biến đổi tự
nhiên thông qua các hoạt động thực tiễn và ghi dân chân của minh lên tự nhiên.
Trong biện chứng tự nhiên, Ph. Ăng-ghen viết: “Chỉ có con người là mới đạt được
đến chỗ in cái dấu của mình lên giới tự nhiên, không chỉ bằng cách di chuyển
các loài thực vật và động vật từ chỗ này sang chỗ khác, mà còn làm biến đổi cả diện
mạo, khí hậu của nơi họ ở, thậm chí còn làm biến đổi cả cây cỏ và các thú vật
tới một mức mà kết quả hoạt động của họ chỉ có thể biến mất, khi nào toàn bộ
tráu đất tiêu vong” (Ăng-ghen, 2002 tr.475).
Từ quan
niệm về mối quan hệ giữa con người và tự nhiên, chủ nghĩa Mác – Lênin khẳng
định, con người phải tôn trọng và phù hợp với quy luật tự nhiên. Trong biện
chứng tự nhiên, Ăng-ghen viết: “Tại mỗi bước, chúng ta được nhắc nhở rằng chúng
ta hoàn toàn không chi phối lên tự nhiên giống như một người chinh phục, giống
như một người đứng bên ngoài tự nhiên – nhưng con người, với sức mạnh cơ bắp và
trí tuệ, thuộc về tự nhiên và tồn tại bên trong tự nhiên và con người có lợi
thế là hiểu biết và kiểm soát các quy luật tự nhiên, không phải thống trị mà để
sống hoà hợp, thông qua tri thức khoa học và thay đổi xã hội”. Trái ngược với
quan niệm của chủ nghĩa Mác – Lênin, nhiều nhà tư tưởng phương Tây cho rằng,
con người tìm cách thống trị, kiểm soát tự nhiên và chi phối tự nhiên.
Thực
tiễn phát triển ở nhiều quốc gia trên thế giới từ cuộc cách mạng công nghiệp
lần thứ nhất đến nay (cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư) cho thấy, mặc dù
những thành tựu vượt trội của quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở các
nước phương Tây đã đem đến những thành tựu vượt bậc trên phương diện kinh tế,
khoa học-công nghệ, nhưng đi kèm với thành tựu phát triển ấy là những hậu quả
nghiêm trọng về sinh thái, môi trường và bất bình đẳng xã hội. Đồng thời, đưa
xã hội loài người đi tới các cuộc thảm hoạ và đại khủng hoảng sinh thái chưa từng
có tiền lệ.
Điều
này cho thấy, trong bối cảnh phát triển hiện nay, những dự đoán của Ph.
Ăng-ghen về khủng hoảng môi trường sinh thái vẫn còn nguyên giá trị. Sự phát
thải và tích luỹ CO2, cũng như các khí nhà kinh khác do hoạt động
công nghiệp ở các nước phương Tây trong thế kỷ 19 và 20 đã trực tiếp dẫn tới
biến đổi khí hậu toàn cầu và thảm hoạ sinh thái chưa từng có (Liu và Wei,
2023).
Cùng
với những đóng góp lớn khi làm rõ mối quan hệ biện chứng giữa con người và tự
nhiên, áp dụng nó vào phân tích thực tiễn phát triển công nghiệp ở các nước tư
bản, C.Mác đã đưa ra quan niệm về “trao đổi chất giữa con người và tự nhiên”,
qua đó đóng góp cho sự phát triển trường phái “Chủ nghĩa xã hội sinh thái-
Ecosocialism” và nền tảng lý luận về phát triển công nghiệp xanh hiện đại.
Trong
tác phẩm “Tư bản, quyển 1”[1], khi bàn về quá trình lao động, C. Mác
cho rằng lao động không chỉ là hoạt động kinh tế đơn thuần, mà là quá trình
trung gian, duy trì sự tái sản xuất của xã hội và tự nhiên. Dưới cái nhìn biện
chứng, C. Mác đã chỉ ra, con người phụ thuộc vào tự nhiên, đồng thời cải biến tự
nhiên thông qua sản xuất. Mẫu thuẫn giữa con người và tự nhiên chỉ xảy ra khi
quá trình công nghiệp hoá dẫn tới phá vỡ cân bằng giữa con người và tự nhiên.
Dưới góc nhìn của khoa học sinh thái học hiện đại, quan điểm này phản ánh quy
luật và nguyên lý của hệ sinh thái.
Như
vậy, biện chứng tự nhiên của chủ nghĩa Mác - Lênin cung cấp cơ sở lý luận có
tính hệ thống về mối quan hệ giữa con người và tự nhiên. Nó đưa ra định hướng
để con người hiểu đúng, làm/phỏng theo quy luật tự nhiên và quản lý mối quan hệ
của người với tự nhiên một cách hợp lý, đồng thời phê phán mạnh mẽ tư duy thống
trị, tước đoạt tự nhiên đã tồn tại ở nhiều quốc gia phương Tây trong các cuộc
cách mạng công nghiệp.
2.2. Lý
luận về đứt gãy trao đổi chất và những giới hạn của tăng trưởng công nghiệp
Một
trong những đóng góp lớn thứ hai của chủ nghĩa Mác - Lênin cho lý luận phát
triển công nghiệp xanh là quan niệm “Đứt gãy trao đổi chất”[2]. Khái niệm đứt gãy trao đổi chất được C.
Mác đề cập khi bàn về “máy móc và đại công nghiệp” và chỉ ra rằng, sản xuất tư
bản chủ nghĩa dẫn tới tách rời chu trình vật chất tự nhiên. Từ đó, C. Mác
kết luận rằng, quá trình tích luỹ tư bản thông qua sự dẫn dắt của thị trường sẽ
dẫn tới khai thác quá mức khả năng tái tạo của tài nguyên thiên nhiên, cuối
cùng làm suy thoái tài nguyên. Luận điểm này đã được kiểm chứng qua thực tiễn
phát triển kinh tế ở hầu hết nước tư bản chủ nghĩa và được nhiều học giả phương
tây thừa nhận.
Luận
điểm này dẫn chúng ta đến kết luận rằng, khủng hoảng môi trường sinh thái không
phải hiện tượng mang tính ngoại sinh như nhiều nhà tư tưởng phương Tây đã nêu ra,
mà nó là hệ quả tất yếu của phương thức và mô hình tăng trưởng kinh tế tư bản
chủ nghĩa (mô hình kinh tế tuyến tính). Do đó, phát công nghiệp xanh nếu chỉ
dừng ở các biện pháp kinh tế, kỹ thuật và công nghệ để giảm thiểu tác động gây
ô nhiễm môi trường, sử dụng hiệu quả tài nguyên sẽ là không đủ. Để giải quyết
vấn đề này, C. Mác cho rằng để giải quyết triệt để sự đứt gãy cần (1) phải xoá
bỏ sự tách giữa con người và tự nhiên của họ; (2) xoá bỏ lao động làm thuê và
sự thống trị của giá trị trao đổi là cần thiết để phục hồi mối liên hệ hữu cơ
giữa con người và Trái đất; (3) khép kín dòng vật chất, tái thiết lập chu trình
sinh thái để giảm đứt gãy trong trao đổi vật chất giữa hệ thống sinh thái và hệ
thống con người. Đây chính chính là cơ sở của kinh tế tuần hoàn và phát triển
công hiện đại.
2.3. Giới
hạn của hệ sinh thái và công nghệ
Trong
“Tư bản”, C. Mác cho rằng, sự phát triển của lực lượng sản xuất là động lực
trung tâm của lịch sử. C. Mác sớm nhận rõ vai trò của công nghệ đối với phát
triển công nghiệp. Ông viết: “Nhờ tạo ra công nghệ cho phép cho phép đưa những
phế liệu của sản xuất và của tiêu dùng xã hội vào vòng tuần hoàn của tái sản
xuất, hoá học làm cho những cái không có giá trị đó trở thành những yếu tố bổ
sung của tích luỹ mà không có sự giúp đỡ nào của tư bản” (C. Mác và Ph.
Ăng-ghen, tập 49, tr.386).
Tuy
nhiên, C. Mác đã nhận thấy những giới hạn sinh thái đối với tăng trưởng và
không đồng nhất tiến bộ công nghệ với tiến bộ xã hội. C. Mác cho rằng, công
nghệ không tồn tại trong môi trường chân không. Nó luôn vận hành trong một mối
quan hệ xã hội cụ thể. Công nghệ dưới lăng kính của chủ nghĩa Mác - Lênin như
là một công cụ bóc lột, sự tha hoá lao động và tạo ra sự đứt gãy sinh thái. C.
Mác cho rằng, “công nghệ giúp tăng năng suất nhanh chóng nhưng lại tạo ra sự
bất bình đẳng, gây ra sự đứt gãy trao đổi chất với tự nhiên. Tiến bộ về sản
lượng công nghiệp thường đi kèm với sự suy thoái sinh thái” (C. Mác và
Ăng-ghen, 2002, tr.713).
Từ quan
điểm chủ nghĩa Mác-Lênin, trong bối cảnh phát triển công nghiệp xanh, các công
nghệ xanh là điều kiện cần, nhưng không phải là điều kiện đủ. Phát triển công
nghiệp xanh có thể dẫn tới sự bất bình đẳng trong chuyển đổi xanh cũng như giới
hạn của môi sinh thái nơi diễn ra hoạt động công nghiệp. Dưới lăng kính của sinh
thái học hiện đại, khả năng sức chứa và sức chịu tải của môi trường không phải
là vô hạn. Vấn đề cốt lõi trong phát triển công nghiệp xanh không chỉ tập trung
tối đa hoá lợi ích kinh tế giống như mô hình kinh tế tuyến tính, mà phải hợp
lý, phù hợp sinh thái và đảm công bằng xã hội. Điều này đòi hỏi phải tích hợp
tiêu chí môi trường, xã hội vào hoạt động phát triển công nghiệp xanh.
2.4.
Vai trò của Nhà nước trong phát triển công nghiệp xanh
Quan
điểm lý luận kinh tế thị trường từ Adam Smith, David Ricardo,…cho đến Milton
Friedman, đều coi thị trường là công cụ vạn năng trong điều tiết hoạt động kinh
tế, phát triển xã hội và bảo vệ môi trường. Các nhà lý luận của chủ nghĩa Mác –
Lênin đã sớm nhận rõ những hạn chế của thị trường trong điều tiết phát triển xã
hội, bảo vệ môi trường và khẳng sự phát triển xã hội cần có sự điều tiết của
Nhà nước nhằm hạn chế các hiệu quả tiêu cực.
Từ thực
tiễn phát triển trên thế giới trong thời gian qua có thể khẳng định, thị trường
không phải công cụ vạn năng, bản thân thị trường thực tế đã thất bại trong việc
điều chỉnh hành vi của các doanh nghiệp công nghiệp, dẫn tới vấn đề ô nhiễm môi
trường, cạn kiệt tài nguyên, bất bình đẳng xã hội. Vì vậy, trong bối cảnh phát
triển công nghiệp xanh, bên cạnh việc sử dụng thị trường như một công cụ điều
tiết, cần sự tham gia của Nhà nước với vai trò kiến tạo, quản trị và điều tiết,
thúc đẩy phát triển công nghiệp xanh thông qua luật, chính sách về bảo vệ môi
trường, thị trường carbon, định hướng đầu tư xanh, quy hoạch và chuyển đổi các
khu công nghiệp theo hướng xanh.
Như
vậy, từ lăng kính của chủ nghĩa Mác – Lênin, nhà nước không chỉ là công cụ kỹ
thuật mà còn phản ánh quan hệ quyền lực trong định hướng phát triển công nghiệp
xanh.
2.5.
Công bằng xã hội và công nghiệp hoá xanh bao trùm
Các lý
thuyết phát triển công nghiệp như vị trí công nghiệp của Weber (1909), lý
thuyết các giai đoạn phát triển tăng trưởng của Rostow (1960), lý thuyết địa
kinh tế mới của Krugman (1991), hiện đại hoá sinh thái, sinh thái công nghiệp…
chủ yếu tập trung vào vấn đề hiệu quả kinh tế, kỹ thuật và công nghệ, ít chú ý
đến vấn đề bình đẳng, bao trùm trong phát triển công nghiệp
Thực tiễn
phát triển công nghiệp xanh ở nhiều nước trên thế giới cho thấy, phát triển
công nghiệp xanh có thể dẫn đến vấn bất bình đẳng xanh, chuyển dịch chi phí môi
trường sang nhóm yếu thế (ILO, 2015). Trong bối cảnh cạnh tranh toàn cầu, phát
triển công nghiệp xanh cũng thể trở thành vũ khí, con bài chiến lược để các
quốc gia phát triển đặt ra các rào cản kỹ thuật mới đối với hàng hoá từ các
nước đang phát triển thông qua thuế carbon nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh
của doanh nghiệp trong nước.
Chủ
nghĩa Mác – Lênin đã có đóng góp quan trọng đối với phát triển công nghiệp
xanh, đó là đặt công nghệ trong mối quan hệ cụ thể (công nghệ do ai sở hwuux,
phục vụ cho ai), nhấn mạnh tính công bằng xã hội trong phát triển công nghiệp
xanh. Quan điểm này đương đồng với quan điểm phát triển bền vững hiện nay, nhấn
mạnh tính công bằng và bao trùm trong chính sách phát triển công nghiệp xanh.
Phát triển công nghiệp xanh không chỉ tập trung vào giải quyết các vấn đề môi
trường, sinh thái, mà cần đảm bảo phân phối lợi ích công bằng giữa doanh nghiệp
và người lao động, tạo việc làm bền vững, tăng cường vai trò của cộng đồng,
chuyển đổi xanh công bằng giữa các quốc gia.
3. Một
số bổ sung và phát triển lý luận phát triển công nghiệp xanh từ góc độ địa lý
nhân văn
Các nhà
địa lý nhân văn đã có lịch sử lâu dài nghiên cứu mối quan hệ giữa con người và
tự nhiên cũng như các vấn đề ô nhiễm môi trường và cạn kiệt tài nguyên có hệ
luỵ từ quá trình công nghiệp hoá, biến đổi khí hậu, phát triển công nghiệp
xanh,… Từ kết quả nghiên cứu thực tiễn, các nhà địa lý nhân văn đã khái quát
thành một số luận điểm có thể bổ sung cho lý luận của chủ nghĩa Mác –
Lênin về phát triển công nghiệp xanh. Từ lăng kính của địa lý nhân văn,
khẳng định phát không chỉ là quá trình chuyển đổi kỹ thuật, công nghệ đơn
thuần, mà là quá trình tái cấu trúc không gian kinh tế - xã hội – sinh thái,
gắn với lãnh thổ cụ thể, phụ thuộc vào bối cảnh địa phương và được định hình
bởi các quan hệ xã hội.
- Quan
điểm về “tính gắn kết không gian của các hoạt động kinh tế”
Theo tiếp
cận địa lý nhân văn, sản xuất công nghiệp luôn diễn ra trong một không gian cụ
thể, và chịu ảnh hưởng bởi phân bố tài nguyên, hạ tầng, sức chịu tải môi
trường, quan hệ quyền lực (Hess, 2004; Harvey, 1996). Điều này hàm ý rằng, phát
triển công nghiệp xanh không thể tách rời không gian – sinh thái – xã hội – thể
chế, nơi diễn ra hoạt động phát triển công nghiệp xanh. Bốn yếu tố này vừa là
nhân tố tiềm năng, thúc đẩy phát triển công nghiệp xanh, vừa là nhân tố rào
cản, giới hạn đối với phát triển công nghiệp xanh.
- Quan
điểm về “sự khác biệt vùng và lý luận về sự phụ thuộc con đường”
Các nhà
địa lý nhân văn nhấn mạnh tính khác biệt vùng và sự phụ thuộc con đường
phát triển công nghiệp xanh giữa các quốc gia, vùng và địa phương. Quan điểm
này cho rằng mỗi quốc gia, vùng và địa phương có lịch sử, con đường phát triển
công nghiệp khác nhau, vì thế, sẽ có khả năng chuyển đổi xanh khác nhau (Martin
và Sunley, 2006; Eadson và Veelen, 2023). Luận điểm này hàm ý rằng, không tồn
tại một mô hình công nghiệp xanh phổ quát cho tất cả các quốc gia, các địa
phương và các địa phương. Do đó, phát triển công nghiệp xanh cần phát triển gắn
với đặc thù vùng và địa phương ở mỗi thời điểm cụ thể.
Dưới
góc nhìn của địa lý nhân văn, việc lựa chọn địa điểm công nghiêp xanh không chỉ
dựa vào chi phí mà còn dựa vào khả năng chịu tải môi trường, các khu, cụm công
nghiệp xanh cần phù hợp với hệ sinh thái địa phương. Quan điểm này cũng trực
tiếp phản bác cách tiếp cận phi không gian trong các mô hình phát triển công
nghiệp truyền thống.
- Quan
điểm về “bất bình đẳng không gian và công bằng môi trường”
Một
trong những đóng góp của địa lý nhân văn cho phát triển công nghiệp xanh đó là
phân tích, làm rõ bất bình đẳng không gian. Quan điểm này cho rằng phát triển
công nghiệp xanh có thể dẫn tới bất bình đẳng theo không gian giữa các địa
phương, giữa các vùng và giữa các quốc gia, hay vấn đề dịch chuyển ô nhiễm sang
các khu vực yếu thế. Thực tế tiễn phát triển trên thế giới trong giai đoạn cuối
thế kỷ 20 cho đến nay là chứng minh rõ ràng nhất cho luận điểm này. Việc phát
triển công nghiệp xanh đã dẫn tới xu hướng dịch chuyển ngành công nghiệp gây ô
nhiễm môi trường từ các nước phát triển sang các nước đang phát triển. Đồng
thời, phát triển công nghiệp xanh dẫn tới phát triển không đồng đều giữa các
quốc gia, giữa các địa phương trong một quốc gia. Do đó, phát triển công nghiệp
xanh cần tích hợp công bằng môi trường và tiếp cận phát triển bao trùm. Đặc
biệt là sự tham gia của cộng đồng địa phương và xem con người là chủ thể chính
– Quan điểm này nhấn mạnh vai trò của chủ thể: cộng đồng địa phương, người lao
động, các nhóm xã hội. Các chủ thể này không chỉ bị tác động mà còn tham gia
định hình quá trình phát triển công nghiệp xanh.
- Quan
điểm về biến đổi cảnh quan và chiều cạnh văn hoá của phát triển công nghiệp
xanh
Theo
tiếp cận địa lý nhân văn, phát triển công nghiệp xanh là quá trình chuyển đổi
cảnh quan tự nhiên thành các cảnh quan công nghiệp thông qua quá trình tương
tác, cải tạo của con người để xây dựng các khu công nghiệp, cụm công nghiệp. Do
đó, vấn đề phát triển công nghiệp xanh không chỉ đơn thuần là việc tái cấu trúc
và xác lập cấu trúc kinh tế mới, mà còn làm biến đổi sâu sắc cảnh quan tự
nhiên, cảnh quan nhân sinh thành thành “cảnh quan công nghiệp xanh”. Đồng thời,
quá trình này cũng tác động làm biến đổi hệ giá trị văn hoá – xã hội của cảnh
quan (cũ), có thể dẫn tới những biến đổi hệ giá trị, biểu tượng và bản sắc văn
hoá địa phương. Điều này hàm ý rằng, phát triển công nghiệp xanh cần chú trọng
vào bảo tồn bản sắc địa phương (quan điểm này tương đồng quan phát triển bền
vững ở góc độ văn hoá xã hội); tránh đồng nhất không gian - phát triển công
nghiệp xanh giống nhau giữa các địa phương hoặc giữa các khu công nghiệp giữa
các địa phương.
3. Đề
xuất khung lý luận về phát triển công nghiệp xanh
Như
vậy, từ những lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin về mối quan hệ biện chứng giữa
con người và tự nhiên, quan niệm về đứt gãy trao đổi chất và những giới hạn
mang tính cấu trúc của tăng trưởng công nghiệp, lực lượng sản xuất, khả năng
của hệ sinh thái và công nghệ, vai trò của Nhà nước trong phát triển công
nghiệp xanh, công bằng xã hội và công nghiệp hoá xanh bao trùm… Cũng như một số
quan điểm bổ sung từ tiếp cận địa lý nhân văn, phát triển công nghiệp xanh cần
được hiểu như quá trình chuyển đổi hệ thống, hướng tới sự hài hoà giữa kinh tế,
xã hội và sinh thái, gắn với không gian và bối cảnh cụ thể. Trên cơ sở phân
tích, làm rõ những đóng góp của chủ nghĩa Mác – Lênin và địa lý nhân văn, tác
giả đề xuất khung lý luận phát triển công nghiệp xanh gồm 2 trụ cột chính gồm
chủ nghĩa Mác – Lênin và một số bổ sung, phát triển từ quan điểm địa lý
nhân:
(1) Biện chứng mối quan hệ giữa con người và tự nhiên: Bắt đầu từ thay đổi nhận
thức, tư duy nhìn nhận con người là một bộ phận của tự nhiên, ứng xử hài hoà,
phù hợp với quy luật tự nhiên.
(2) Cấu
trúc lại trao đổi chất giữa con người và hệ sinh thái:; chuyển đổi mô hình sản
xuất mở sang mô hình khép kín vòng vật chất bằng áp dụng nguyên tắc kinh tế
tuần hoàn; giảm sự phụ thuộc vào tài nguyên không tái tạo và đẩy mạng sử dụng
năng lượng tái tạo.
(3)
Chuyển đổi logic sản xuất từ tăng trưởng “nâu” sang tăng trưởng “xanh”, “bền
vững”, từ logic tối đa hoá lợi nhuận sang phù hợp sinh thái – xã hội, dựa vào
khả năng/sức chứa của hệ sinh thái lãnh thổ.
(4) Đổi
mới công nghệ xanh có định hướng, tập trung vào công nghệ xanh gắn với mục tiêu
sinh thái, gắn với lãnh thổ, bối cảnh cụ thể.
(5) Vai
trò của nhà nước trong kiến tạo, điều tiết phát triển công nghiệp xanh thông
qua thể chế và chính sách để tạo sự công bằng, bao trùm trong phát triển công
nghiệp xanh, chuyển đổi xanh.
4. Kết
luận
Trên cơ
sở phân tích, làm rõ những đóng góp của của chủ nghĩa Mác – Lênin và tiếp cận
địa lý nhân văn cho lý luận về phát triển công nghiệp xanh có thể khẳng định,
công nghiệp xanh là giai đoạn phát triển cao hơn của công nghiệp hoá – hiện đại
hoá. Việc phát triển công nghiệp xanh không đơn thuần là các biện pháp mang
tính kinh tê - kỹ thuật – công nghệ, mà là quá trình chuyển đổi toàn bộ hệ
thống kinh tế-xã hội, hướng tới sự hài hoà giữa kinh tế, xã hội và sinh thái.
Từ những phân tích nêu trên có thể khẳng định, chủ nghĩa Mác – Lênin và những
luận điểm tiến bộ của địa lý nhân văn có thể cung cấp nền tảng lý luận phát
triển công nghiệp xanh, qua đó một lần nữa khẳng tính đúng đắn, tính khoa học,
cách mạng của chủ nghĩa Mác – Lênin trong giải quyết các vấn đề thực tiễn phát
triển hiện nay. Mặt khác phản bác những luận điểm xuyên tạc của các thể lực thù
địch cho rằng chủ nghĩa Mác – Lênin không còn phù hợp với bối cảnh phát triển kinh
tế đương đại; củng cố niềm tin cho nhân dân về sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước
cũng như các chủ trương, chính sách của Đảng phát triển công nghiệp xanh,
chuyển đổi xanh là khách quan, khoa học, chắc chắn sẽ đưa nước ta phát triển
nhanh, bền vững.
Các
quan điểm địa lý nhân văn cho thấy, công nghiệp xanh không thể tách rời khỏi
không gian, phát triển công nghiệp xanh là vấn đề tái cấu trúc lãnh thổ, tái
cấu trúc cảnh quan. Do đó, cần chuyển từ tư duy tối ưu hoá sản xuất sang tối ưu
hoá không gian – xã hội – sinh thái. Tiếp cận địa lý nhân văn mở rộng đáng kể
cách hiểu về công nghiệp xanh, từ một mô hình kỹ thuật sang một quá trình xã
hội – không gian – sinh thái phức tạp. Tiếp cận này đặc biệt quan trọng đối với
các quốc gia đang phát triển như Việt nam nơi, sự khác biệt vùng, miền về điều
kiện tự nhiên, sinh thái và văn hoá – xã hội rất lớn, áp lực môi trường từ phát
triển công nghiệp ngày càng gia tăng. Vì vậy, mô hình phát triển công nghiệp
xanh không thể áp dụng chung cho tất cả các vùng, mà cần được thiết kế theo
hướng địa phương hoá, bao trùm, bền vững lâu dài.
Tiếp
cận địa lý nhân văn – tiếp cận không gian – bối cảnh, nhấn mạnh đặc thù địa
phương, xem phát triển là quá trình đa dạng, không đồng nhất, công nghiệp xanh
phụ thuộc vào điều kiện lãnh thổ và xã hội cụ thể. Địa lý nhân văn bổ sung
chiều cạnh không gian và xã hội, nhấn mạnh đặc thù địa phương cùng với các
phương pháp luận cho chủ nghĩa Mác-Lênin khi vận dụng vào lãnh thổ cụ thể.
Tài liệu tham khảo
1. C.
Mác và Ph. Ăng-ghen toàn tập (2002), tập 49, H. NXB Chính trị
Quốc gia Sự thật, tr.386.
2. C.
Mác và Ăng-ghen toàn tập (2002), tập 23. H. NXB Chính trị Quốc gia Sự
thật, tr.713.
3. Eadson
Will and Veelen van Bregje (2023). Green and just regional path development. Regional
Studies, Regional Science, Vol.10 (1). https://doi.org/10.1080/21681376.2023.2174043.
4. Harvey
David (1996). Justice, nature and the geography of difference.
Masachusetts: Blackwell.
5. Hess
Martin (2004). 'Spatial' relationships? Towards a reconceptualization of
embedded ness. Progress in Human Geography, Vol. 28,2 (2004) pp.
165-186.
6. Liu
Guangbia and Nie Wei. (2025). The role of Marxist ecological view on
environmental protection in China. Journal of Enery and Environnment,
Vol.36, Issue 1, pp.132-150.
7. ILO
(2015). Guidelines for a just transition towards environmentally sustainable
economies and societies for all. Switzerland: International Labour
Organization.
8. Martin,
R và Sunley, P. (2006). Path dependence and regional economic evolution. Journal
of Economic Geography 6 (2006), pp. 395–437.
9. UNIDO
(2011). Green industry initiative for Sustainble industrial development.
Vienna, United nations industrial development organization.