Việt Nam tham gia chuỗi giá trị toàn cầu và cơ hội bứt phá từ các Nghị quyết mới của Đảng
Trong bối cảnh hội nhập quốc tế, các Nghị quyết mới của Đảng không chỉ là “kim chỉ nam” chiến lược mà còn tạo ra cơ hội bứt phá để thúc đẩy năng lực sản xuất nội địa, nâng cao giá trị gia tăng và tăng cường vị thế của Việt Nam trong chuỗi giá trị toàn cầu.
Việt
Nam tham gia chuỗi giá trị toàn cầu trong giai đoạn 2015 - 2024[1]
Trong
giai đoạn 2015 - 2024, nền kinh tế Việt Nam có sự mở rộng và cải thiện về quy
mô, giá trị thương mại quốc tế, giá trị gia tăng, vị trí và mức độ tham gia
chuỗi giá trị toàn cầu. Cụ thể, từ năm 2015 đến năm 2024:
- Tổng
sản phẩm trong nước tăng từ 5.191,3 nghìn tỷ VND trong lên đến 11.510,3 nghìn
tỷ VND, tổng thu nhập quốc gia tăng từ 4.927,9 nghìn tỷ VND lên đến 11.131,0
nghìn tỷ VND, giá trị xuất khẩu từ 3.785,7 nghìn tỷ VND lên đến 10.427,9 nghìn
tỷ VND và tăng giá trị nhập khẩu từ 3.737,3 nghìn tỷ VND lên đến 9.626,1 nghìn
tỷ VND (Cục Thống kê - Bộ Tài chính, 2026).
- Quy
mô của các ngành kinh tế theo tăng từ 851,4 tỷ USD lên đến 2.137,5 tỷ USD, giá
trị gia tăng tăng từ 173,9 tỷ USD lên đến 437,6 tỷ USD, chỉ số tham gia chuỗi
giá trị toàn cầu bằng cả liên kết ngược và liên kết xuôi tăng từ 0,526 lên đến
0,575, chỉ số vị trí trong chuỗi giá trị toàn cầu tăng từ 0,931 lên đến 0,952,
chỉ số tham gia chuỗi giá trị toàn cầu bằng liên kết ngược tăng từ 0,412 lên
đến 0,470 và chỉ số tham gia chuỗi giá trị toàn cầu bằng liên kết xuôi giảm từ
0,114 xuống còn 0,105 (Asian Developmenk Bank, 2026).
Quy mô, thương mại quốc tế và sự tham gia chuỗi giá trị toàn cầu của nền kinh tế Việt Nam trong giai đoạn 2015 - 2024










Nguồn: Tổng hợp từ cơ sở dữ liệu của Cục Thống kê - Bộ Tài chính
(2026) và Asian Developmenk Bank (2026)
Trong
giai đoạn này, sự tham gia chuỗi giá trị toàn cầu của nền kinh tế Việt Nam cho
thấy một bức tranh rất tích cực về vị thế của Việt Nam trong chuỗi giá trị toàn
cầu:
Thứ
nhất, tổng giá trị và giá trị gia tăng của nền kinh tế tăng đều qua các năm cho
thấy độ bền bỉ cao và khả năng chống chịu tốt của nền kinh tế quốc gia, ngay cả
trong thời kỳ kinh tế thế giới chịu ảnh hưởng nặng nề của đại dịch COVID-19 và
các biến động vĩ mô phức tạp khác. Đồng thời, nền kinh tế quốc gia cũng đã dần
tự chủ về đầu vào sản xuất và nâng cao trình độ kỹ thuật để duy trì mức giá trị
gia tăng không suy giảm.
Thứ
hai, mức độ tham gia và chỉ số vị trí trong chuỗi giá trị toàn cầu của nền kinh
tế có xu hướng tăng cho thấy sự dịch chuyển về phía thượng nguồn của chuỗi giá
trị là các công đoạn đòi hỏi hàm lượng tri thức, vốn và công nghệ cao hơn thay
vì chỉ nhập khẩu bán thành phẩm để lắp ráp phục vụ xuất khẩu sản phẩm cuối
cùng, đem về lợi nhuận và giá trị gia tăng cao hơn trên mỗi đơn vị sản phẩm,
qua đó có sức ảnh hưởng lớn hơn đến chuỗi cung ứng và tạo ra vị thế “mặc cả”
tốt hơn trong các quan hệ thương mại quốc tế.
Thứ ba,
sự tham gia chuỗi giá trị toàn cầu bằng liên kết ngược có xu hướng tăng trong
khi sự tham gia chuỗi giá trị toàn cầu bằng liên kết xuôi có xu hướng giảm cho
thấy sự dịch chuyển của nền kinh tế quốc gia lên các công đoạn cao hơn trong
chuỗi giá trị và tập trung vào các đầu ra có giá trị gia tăng cao hơn. Điều này
phản ánh hàm lượng giá trị gia tăng nội địa được trực tiếp “đóng gói” trong sản
phẩm cuối cùng, khả năng nâng cấp sản xuất và tăng cường chiều sâu của các
ngành kinh tế trong nước - là sự chuyển đổi từ vai trò “người cung cấp đầu vào”
sang vai trò “người hoàn thiện sản phẩm”.
Chưa kể
đến, giá trị chỉ số Herfindahl - Hirschman (đo lường mức độ tập trung của thị
trường) trong xuất khẩu giá trị gia tăng của Việt Nam có xu hướng giảm từ 0,044
trong năm 2015 xuống còn 0,036 trong năm 2024 (Asian Developmenk Bank, 2026).
Điều này phản ánh một cơ cấu xuất khẩu ngày càng trở nên đa dạng hơn về thị
trường và danh mục sản phẩm với giá cả hợp lý và khả năng đổi mới cao, khả năng
thích ứng linh hoạt hơn của doanh nghiệp trước các biến động vĩ mô của thị
trường trong bối cảnh thị trường có sức ép cạnh tranh ngày càng cao và thị phần
phân tán ngày càng mạnh mẽ.
Kết hợp
với quy mô giá trị và giá trị gia tăng trong xuất khẩu tăng đều qua các năm và
sự chuyển dịch trong chuỗi giá trị toàn cầu, đây cũng là một kết quả mang ý
nghĩa chiến lược rât tích cực về tăng trưởng và chuyển dịch cấu trúc của nền
kinh tế Việt Nam, cho thấy khả năng sản xuất nhiều loại sản phẩm đa dạng và sự
hình thành một hệ sinh thái đa ngành, đa lĩnh vực. Về cơ bản, nền kinh tế Việt
Nam tăng trưởng lành mạnh, cạnh tranh và bền vững hơn, không còn là “điểm dừng
chân tạm thời” mà trở thành một “công xưởng đa năng” và mắt xích quan trọng của
nền kinh tế thế giới, dịch chuyển đến các công đoạn có giá trị gia tăng cao và
bền vững hơn trong chuỗi giá trị toàn cầu.
Nghị
quyết số 59-NQ/TW của Bộ Chính trị về hội nhập quốc tế trong tình hình mới và
các Nghị quyết mới của Đảng
Nghị
quyết số 59-NQ/TW ngày 24/01/2025 của Bộ Chính trị về hội nhập quốc tế trong
tình hình mới xác
định trong bối cảnh quốc gia đẩy mạnh hội nhập quốc tế toàn diện, chất lượng và
hiệu quả để xây dựng, phát triển và bảo vệ đất nước, hội nhập kinh tế quốc tế
đóng vai trò đòn bẩy nhằm huy động tối đa các nguồn lực và nâng cao năng lực
nội tại, góp phần xây dựng một nền kinh tế độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường và
khẳng định vị thế, uy tín của quốc gia trên trường quốc tế, đưa Việt Nam trở
thành một nước phát triển có thu nhập cao theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
Nghị quyết này cũng xác định nội lực là cơ sở then chốt và quá trình hội nhập
của Việt Nam phải trên cơ sở tăng cường và phát huy tối đa nội lực, gắn kết
chặt chẽ và bổ sung giữa các lĩnh vực cho hội nhập kinh tế để đưa nền kinh tế
quốc gia tham gia sâu rộng hơn vào các chuỗi sản xuất và cung ứng toàn cầu, góp
phần củng cố quốc phòng và bảo đảm an ninh quốc gia.
Quan
điểm này cũng được thể hiện nhất quán trong các Nghị quyết mới của Đảng: Nghị
quyết số 68-NQ/TW ngày 04/5/2025 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân
khẳng định kinh tế tư nhân là “một động lực quan trọng nhất của nền
kinh tế quốc gia” và Nghị quyết số 79-NQ/TW ngày 06/01/2026 của Bộ Chính
trị về phát triển kinh tế nhà nước nhấn mạnh kinh tế nhà nước là “thành
phần đặc biệt quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa”, cùng với kinh tế tập thể có vai trò bình đẳng và giữ vị trí trung tâm
trong tiến trình xây dựng một nền kinh tế độc lập dựa trên phát huy sức mạnh
nội tại và thúc đẩy hội nhập quốc tế sâu rộng.
Cơ hội
bứt phá cho nền kinh tế Việt Nam trong chuỗi giá trị toàn cầu
Cùng
với các Nghị quyết nêu trên, Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần
thứ XIV Đảng Cộng sản Việt Nam ngày 23/01/2026 khẳng định “giải quyết
tốt mối quan hệ giữa tự chủ sản xuất trong nước với việc tham gia vào mạng sản
xuất và chuỗi giá trị toàn cầu” là một trong những định hướng phát triển đất
nước trong giai đoạn 2026 - 2030. Đây không chỉ là một bước ngoặt quan trọng
trong tư duy chiến lược mà còn tạo ra cơ hội bứt phá cho nền kinh tế Việt Nam
khi tham gia chuỗi giá trị toàn cầu. Trước hết, việc ban hành và triển khai
đồng bộ các Nghị quyết chiến lược của Bộ Chính trị đã tạo ra một khuôn khổ chủ
trương, quan điểm và định hướng chính sách toàn diện và tập trung, mở đường cho
nền kinh tế Việt Nam chuyển mình từ một mắt xích gia công giá trị thấp sang các
phân khúc có giá trị cao hơn, qua đó nâng cấp vị thế và uy tín trong chuỗi giá
trị toàn cầu.
Sự
“cộng hưởng” giữa các thành phần kinh tế tư nhân, kinh tế nhà nước và kinh tế
tập thể tạo ra một sức mạnh tổng lực, tận dụng quá trình hội nhập quốc tế trong
tình hình mới để nền kinh tế Việt Nam chủ động và linh hoạt hơn trước các biến
động vĩ mô trong khu vực và trên thế giới. Cùng với sự đẩy nhanh các quá trình
tăng trưởng xanh và chuyển đổi số, nền kinh tế Việt Nam có được đòn bẩy đi tắt
đón đầu nhằm tối ưu hóa quản trị và vận hành, giảm thiểu chi phí giao dịch,
chuyển đổi lợi thế so sánh, nâng cao năng lực cạnh tranh... qua đó tạo điều
kiện cho các ngành, lĩnh vực và doanh nghiệp của Việt Nam tham gia trực tiếp
vào các mắt xích chiến lược trong mạng lưới sản xuất toàn cầu và tạo ra giá trị
gia tăng cao hơn trên thị trường toàn cầu.
Vì vậy,
đây được xem là “thời điểm vàng” để nền kinh tế Việt Nam bứt phá. Để tận dụng
tối đa “vận hội” mới, nền kinh tế Việt Nam cần sớm có một lộ trình triển khai
quyết liệt, chuyển đổi từ tư duy tăng trưởng theo chiều rộng sang phát triển
theo chiều sâu: Xây dựng các hệ sinh thái tập trung và các cụm liên kết ngành
chuyên biệt để thu hút và sử dụng tối ưu các nguồn lực trong sản xuất các sản
phẩm có giá trị gia tăng cao ở các phân khúc cao hơn trong chuỗi giá trị, tăng
cường đầu tư vào cơ sở vật chất và hạ tầng kỹ thuật hiện đại, nâng cao chất
lượng nguồn nhân lực có có chất lượng cao, đẩy nhanh quá trình xanh hóa tăng
trưởng để vượt qua các rào cản thị trường, cải cách thủ tục hành chính để tạo
môi trường kinh doanh minh bạch và có sức hấp dẫn đối với các nhà đầu tư... Đây
không chỉ là yêu cầu cấp thiết để đưa Việt Nam bước vào “Kỷ nguyên mới” mà còn
là điều kiện then chốt để nền kinh tế quốc gia xoay trục và tiến xa hơn trên
bản đồ giá trị toàn cầu.
Tài
liệu tham khảo
1. Asian Developmenk Bank (2026), Key indicators database, available at:
https://kidb.adb.org/globalization
2. Cục Thống kê - Bộ Tài chính (2026), Số liệu thống kê, xem tại:
https://www.nso.gov.vn/so-lieu-thong-ke
3. Nghị quyết số 59-NQ/TW ngày 24/01/2025 của Bộ Chính trị về hội nhập quốc tế
trong tình hình mới
4. Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 04/5/2025 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư
nhân
5. Nghị quyết số 79-NQ/TW ngày 06/01/2026 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế
nhà nước
6. Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV Đảng Cộng sản Việt Nam ngày
23/01/2026
Chú thích:
[1] Các giá trị tiền tệ được tính theo mức giá
hiện hành