Tư tưởng cải cách giáo dục của Nguyễn Trường Tộ
Tóm tắt: Nguyễn Trường Tộ (1830 - 1871) là nhà tư tưởng lớn, nhà canh tân yêu nước của Việt Nam giai đoạn cuối thế kỷ XIX. Ông đã từng sống và học tập ở một số nước phương Tây. Tại đây, ông đã có điều kiện mở rộng kiến thức và văn hóa, trên cơ sở đó ông đã đưa ra nhiều tư tưởng có giá trị. Bài viết tập trung phân tích tư tưởng cải cách giáo dục của Nguyễn Trường Tộ thể hiện qua việc phê phán nền giáo dục hư học và chủ trương xây dựng nền giáo dục thực học của ông. Tư tưởng cải cách giáo dục của Nguyễn Trường Tộ đặc biệt đề cao giáo dục thực học với tư cách biện pháp mang tính cách mạng toàn diện, nhằm thay đổi nền giáo dục lạc hậu của Việt Nam lúc bấy giờ, tạo nền tảng chấn hưng đất nước trên nhiều phương diện, như kinh tế, chính trị, xã hội...

Từ khóa: Nguyễn Trường Tộ, văn minh phương Tây, tư tưởng cải cách/canh tân, cải cách giáo dục, thực học.

Nguyễn Trường Tộ (1830 - 1871) là nhà tư tưởng lớn, nhà canh tân yêu nước của Việt Nam giai đoạn cuối thế kỷ XIX. Ông được đánh giá là “một nhân cách yêu nước bằng trí tuệ lỗi lạc của mình” [8, tr.246]. Không những thế, ông còn là người rất thông minh; thông thạo nhiều ngoại ngữ, như tiếng Trung, tiếng Pháp; có nhiều kiến thức về lĩnh vực kiến trúc, xây dựng, thiên văn, địa lý, cơ khí,... và am hiểu về chính trị, quân sự, ngoại giao,... Tài năng, trí tuệ cũng như những đóng góp của Nguyễn Trường Tộ đều nhằm mục đích duy nhất là giành độc lập dân tộc và chấn hưng đất nước.

Thế kỷ XIX, Việt Nam trở thành thuộc địa của thực dân Pháp, đời sống chính trị, kinh tế, xã hội trì trệ và lạc hậu. Trước bối cảnh đó, các nhà nho yêu nước, như Đặng Huy Trứ, Phạm Phú Thứ, Nguyễn Thông, Nguyễn Lộ Trạch,… chủ trương tiến hành cải cách nhằm góp phần giải quyết các vấn đề nêu trên. Về cơ bản, họ chủ trương nghị hòa với Pháp và mong muốn triều đình mở rộng ngoại giao với các nước phương Tây, phát triển công thương nghiệp để làm giàu đất nước. Tuy nhiên, Nguyễn Trường Tộ có tầm nhìn toàn diện hơn, tư tưởng cải cách của ông đã bao quát một cách hệ thống nhiều lĩnh vực khác nhau, cập nhật được cái mới của văn minh phương Tây và trở thành xu thế mới ở phương Đông “về kinh tế, giáo dục, văn hóa, khoa học, xã hội, chính trị, Nguyễn Trường Tộ đã nêu lên những sai lầm của các chính sách của nhà Nguyễn và vạch ra những biện pháp duy tân về mọi mặt” [7, tr.133].

Trong các tư tưởng cải cách của ông, đáng chú ý là tư tưởng cải cách giáo dục. Ở đó, trên cơ sở tiếp thu có chọn lọc những tư tưởng tiến bộ của nền giáo dục phương Tây, ông tiến hành phê phán nền giáo dục hư học và chủ trương xây dựng nền giáo dục thực học, nhằm mục đích canh tân đất nước cũng như hiện đại hóa nền giáo dục nước nhà.

Phê phán nền giáo dục hư học

Nguyễn Trường Tộ xuất thân trong gia đình Nho học, bản thân được học tập, rèn luyện qua các trường lớp của Nho giáo và có cơ hội đi nhiều nước ở khu vực Đông Nam Á, như Hồng Kong, Singapore, Malaysia và tới cả Tây Âu. Ông được mọi người nhìn nhận với tư cách một nhà tân học khi mang những kiến thức mới mẻ, tiến bộ của phương Tây đối lập với kiến thức phổ cập của phương Đông đương thời.

Thế kỷ XIX, nền giáo dục Việt Nam vẫn còn lạc hậu cả về phương diện nội dung lẫn phương pháp học. Phương pháp học căn bản là thuộc lòng, không có tranh luận, không có sự phê phán cái cũ, cái lạc hậu cũng như không có những lập luận mới, sáng tạo cái mới, kiến thức dạy và học quá xa rời thực tế cuộc sống: “Nhìn lại vào sự học của ta ngày nay, những điều thầy dạy, những cái học trò học, đều toàn những chuyện xa xưa. Tuy trong sách có đôi chỗ nói đến những việc thực tế nhưng chẳng truyền dạy được, vì người xưa đã khuất...” [2, tr.248]. Chẳng hạn, ở cấp tiểu học, các em học sinh vẫn chỉ được học Nhất thiên tự (một nghìn chữ), Tam thiên tự (ba nghìn chữ), Sơ học vấn tân nghĩa, Ấu học ngũ ngôn thi (thơ năm tiếng) hay Thiên tự văn, Hiếu kinh, Minh Tâm bảo giám, Minh đạo gia huấn, Tam tử kinh và Tứ thư, Ngũ kinh,... đều là kinh điển của Nho giáo [Xem: 1, tr.17]. Nội dung giáo dục hầu như chưa vượt ra ngoài phạm vi ảnh hưởng của Nho giáo, và không quan tâm đến thế giới phương Tây cũng như các thành tựu khoa học kỹ thuật của phương Tây.

Với Nguyễn Trường Tộ, giáo dục được xem là nền tảng cơ bản của chiến lược xây dựng đất nước. Theo ông, nguyên nhân của những hạn chế, phù phiếm, lạc hậu, hư học của nền giáo dục phương Đông nói chung và giáo dục Việt Nam nói riêng lúc đó là: “Các nước phương Đông tuy là ông tổ của trăm nghề, nhưng bản tính lại mải mê sự an nhàn vui thú không thích đổi mới. Vả lại ngày xưa đã từng xưng hùng xưng bá trong thiên hạ, tự mãn tự túc, nghĩ rằng thiên hạ không ai hơn mình. Cho nên chuyên chọn hư văn phù phiếm, học lối xu nịnh bợ để được cái phú quý mỏng manh trước mắt” [2, tr.137]. Tư tưởng “tự mãn tự túc” này gây nên sự bế tắc, lạc hậu của dân tộc Việt Nam. Nguyên nhân của nó là quan niệm “nội hạ ngoại di” có ảnh hưởng sâu sắc từ văn hóa Trung Hoa, tức xem nước mình, người nước mình là văn minh hơn nước khác, người nước khác. Do đó, trong tâm thức của đông đảo giới trí thức, nho sĩ cũng như người dân Việt Nam không cần phải học hỏi, tham khảo học thuật phương Tây, kiên quyết giữ gìn lối học cũ.    

Ngoài ra, lối hưởng thụ an nhàn đã trở thành hiện tượng tương đối phổ biến trong một bộ phận người dân Việt Nam lúc bấy giờ. Nguyễn Trường Tộ viết: “Nước ta hiện nay trong dân gian có lắm người không cày ruộng mà muốn có cơm ăn, không dệt vải mà muốn có áo mặc, không có tài mà muốn có địa vị, không học mà muốn làm quan, cho đến những bọn lòng dạ hẹp hòi, tính khí kiêu căng, không lo bổn phận, chẳng rõ luận lý,...” [2, tr.250]. Quan niệm “muốn làm quan” của một bộ phận người dân rõ ràng được hình thành trên cơ sở quan niệm “trọng quan khinh dân” đã tồn tại trong một thời gian dài ở Việt Nam, cho rằng mục đích đi học để làm quan chứ không phải để sáng tạo khoa học nhằm phục vụ cho thực tiễn cuộc sống hay cải tạo xã hội.

Theo Nguyễn Trường Tộ, hạn chế lớn nhất của nền giáo dục hư học là ngụy biện, vô trách nhiệm đối với xã hội: “Những nhà nho câu nệ không khéo biến hóa, thường hay uốn lưỡi múa mồm, sau khi sự thành bại đã rõ như gương chiếu rồi mới bàn luận anh hùng” [2, tr.142]. Cuộc sống an nhàn, viển vông, thích hưởng thụ, không suy tư đến những vấn đề của thực tại cuộc sống xã hội sẽ hình thành nên những con người sống vô trách nhiệm với bản thân và cộng đồng. Đây là kết quả của nền giáo dục hư học. Một cộng đồng, một xã hội phát triển đòi hỏi các cá nhân trong đó phải có tinh thần trách nhiệm cao. Tinh thần trách nhiệm được biểu hiện cụ thể qua ba mối quan hệ cơ bản: Cá nhân – gia đình, cá nhân – xã hội, cá nhân – cá nhân. Tinh thần trách nhiệm là một trong những phẩm chất cao đẹp, thước đo giá trị của con người, góp phần quan trọng tạo nên quan hệ xã hội tốt đẹp, thúc đẩy sự phát triển của xã hội. 

Nguyễn Trường Tộ chỉ ra sai lầm của việc lấy văn chương hư học làm tiêu chuẩn để chọn lựa nhân tài: “Trừ Trung Quốc, Nhật Bản, Cao Ly và nước ta ra, không có nước nào lấy văn chương để chọn nhân tài. Đó cũng vì thơ phú không đuổi được giặc, nghìn lời không được một kế sách...” [2, tr.192]. Theo ông, nhân tài là người có tài năng, năng lực, có tầm nhìn bao quát, có khả năng nắm bắt được các quy luật vận động chung trong xã hội và có khả năng phân tích, nhận định, đánh giá tình hình. Do vậy, nền giáo dục Nho học với những kiến thức xa rời thực tế, giáo điều sẽ không thể nâng cao trình độ dân trí, không đào tạo được nguồn nhân lực có chất lượng cao và đủ khả năng gánh vác nhiệm vụ của dân tộc.

Hơn nữa, ông còn cho rằng, nền giáo dục lạc hậu, xa rời thực tế cuộc sống (hư học) có thể dẫn tới hậu quả to lớn là làm mất nước, trở thành dân tộc bị nô lệ: “Đã một thời bao nhiêu quân tử ra đời đều chuyên chuộng chữ nghĩa văn chương, viết sách làm luận để tự cao lập dị dần dần bỏ mất cái học thực dụng, đến nỗi các nước Tây Bắc tràn qua đánh phá mà tan thành từng nước nhỏ ” [2, tr.192].

Nguyễn Trường Tộ chỉ ra rằng, các kiến thức đang áp dụng vào giảng dạy ở nước ta lúc đó hầu như đều là những kiến thức lạc hậu từ đời xưa của Trung Quốc và không còn phù hợp: “Nay xem các sách binh thư, luật lịch, phương dược khí nghệ đều từ trước đời Đường và sau Ngũ đế truyền lại thì đủ biết chuyên môn thời ấy như thế nào” [2, tr.192]; “ngày nay chúng ta, lúc nhỏ thì học văn, từ, thơ, phú, lớn lên ra làm quan thì lại luật, lịch, binh, hình. Lúc nhỏ học nào Sơn Đông, Sơn Tây mắt chưa từng thấy, lớn lên ra làm thì đến Nam Kỳ, Bắc Kỳ. Lúc nhỏ học thiên văn, đia lý, chính sự, phong tục tận bên Tàu (mà nay họ đã sửa đổi hết rồi), lớn lên ra làm thì lại dùng đến địa lý, thiên văn, chính sự, phong tục của nước Nam...” [2, tr.249]. Theo ông, việc rập khuôn máy móc hệ thống giáo dục của nước này vào nước khác sẽ có nhiều điểm không phù hợp. Do vậy, việc tìm kiếm một chương trình giáo dục phù hợp với thực tiễn và đáp ứng yêu cầu của xã hội ở một giai đoạn lịch sử cụ thể được Nguyễn Trường Tộ đặt ra và tìm phương án giải quyết.

Trong khi các sĩ phu đương thời vẫn chìm trong khoa bảng, Nguyễn Trường Tộ với vốn tri thức rộng lớn trên nhiều lĩnh vực cùng lòng tự hào dân tộc, khát vọng độc lập dân tộc, đã chú ý đến tinh thần bình đẳng văn hóa và dự báo về xu hướng thoát “Trung”: “Nước ta cũng có trời che, tức thiên văn, dưới cũng có đất chở, tức địa lý. Trong khoảng trời đất, nước ta cũng là một nước tốt lành hẳn hoi, đâu phải là một miền phụ dung của Tàu. Trong đó, cũng có việc của con người, luân thường đạo lý của con người, tức là những gì ta phải xây dựng cho hiện tại cũng như con cháu ta mai sau” [2, tr.249]. Bởi, theo ông, lệ thuộc, dù ít, dù đó là nước cùng lý tưởng, thì vẫn chưa hoàn toàn tự lực, tự cường, mà cần phải biết tiếp thu và đồng hóa những thứ có lợi, có ích cho sự phát triển của đất nước. 

Có thể thấy, tư tưởng của Nguyễn Trường Tộ đi ngược lại hoàn toàn với quan điểm tự tôn dân tộc của triều đình nhà Nguyễn. Nhà Nguyễn phủ nhận các nền văn hóa khác, đóng khung trong nền văn hóa Trung Hoa. Với nhận thức này, nhà Nguyễn đã đóng chặt cánh cửa của mình, chối bỏ những cơ hội tiếp nhận thành tựu khoa học kỹ thuật mới của thế giới. Cũng chính vì sự đóng khung đó mà triều đình nhà Nguyễn đã không nhận thức được thực trạng đất nước trong mối tương quan về chính trị, quân sự, học thuật,... với các nước phương Tây.

Chủ trương xây dựng nền giáo dục thực học

Như trên đã trình bày, nền giáo dục nước ta giai đoạn thế kỷ XIX chủ yếu coi trọng vấn đề lễ nghi Nho giáo, mà không quan tâm đến vấn đề làm thế nào để có thể ứng dụng một cách hiệu quả những thành tựu của khoa học kỹ thuật vào thực tiễn đời sống xã hội. Với tầm nhìn bao quát, Nguyễn Trường Tộ đã đưa ra tư tưởng cải cách giáo dục nhằm mục đích khắc phục hạn chế của nền giáo dục hư học và xây dựng nền giáo dục thực học đáp ứng những yêu cầu mới của thời đại.

Trong giáo dục, giảng dạy và học tập là hai phần không thể tách rời giữa thầy và trò, giữa truyền đạt và tiếp thu. Nguyễn Trường Tộ đã đặt ra những câu hỏi cơ bản, như “vậy học là gì? Là học những thứ chưa biết để biết mà đem ra thực hành (Nhưng thực hành cái gì? Thực hành ở đâu?) Đó là thực hành những thứ gì thực tế trước mắt và còn để lại lợi ích cho đời sau nữa” [2, tr.248]. Theo ông, cải cách giáo dục thực học sẽ đem lại cho chúng ta cách học hoàn toàn khác so với trước đây. Cụ thể, học để ứng dụng tích cực vào thực tế cuộc sống, giúp ích con người, chứ không phải là hư văn, phù phiếm. Nguyễn Trường Tộ nhấn mạnh, giáo dục thực học phải được phổ cập tới từng người dân. Bởi, đó vừa là quyền lợi vừa là trách nhiệm của mỗi người trước vận mệnh của dân tộc.

Trước bối cảnh nước ta lúc đó, Nguyễn Trường Tộ nhận thấy, cải cách giáo dục thực học có vai trò “... bồi dưỡng nhân tài tức con đường rộng lớn để đi đến giàu mạnh” [2, tr.291]. Việc đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực đáp ứng nhu cầu xã hội và phát triển đất nước luôn là vấn đề cốt lõi được đặt ra trong các giai đoạn phát triển của lịch sử dân tộc. Nền giáo dục có tính định hướng cao sẽ tạo được nguồn nhân lực đủ năng lực, phẩm chất để giải quyết các vấn đề đặt ra của xã hội, của đất nước. Trên cơ sở đó, ông đề xuất xóa bỏ nền giáo dục tầm chương trích cú và xây dựng nền giáo dục thực học. 

Để giải quyết thực trạng yếu kém của nền giáo cũng như góp phần tìm ra câu trả lời đúng đắn đối với những vấn đề mà xã hội Việt Nam đương thời đang đặt ra, trước hết, Nguyễn Trường Tộ đề nghị tiến hành cải cách nội dung các môn học cũng như phương thức thi cử. Cụ thể, ông viết: “Xin cho các trường Quốc học, tỉnh học, các trường tư và các bài thi Hương thi Hội đều chú trọng vào tình hình hiện tại, như luật lịch, binh quyền, các chính sự về công hình lại lễ, tất cả đều được nói thẳng, không giấu giếm, có cái gì tệ hại cái gì hay ho, cái gì nên để lại, cái gì cần thay đi, nhưng cái cần thiết trước mắt, những cái có thể phân tích tỷ mỷ, xác đáng, hợp thời, thì được coi là  trúng cách, còn những chuyện cũ chỉ là thứ yếu” [2, tr.194]. Theo ông, thực hiện điều này sẽ góp phần khắc phục những mặt hạn chế của nền giáo dục hư học, cập nhật nhiều kiến thức mới, đào tạo đội ngũ nhân lực có trình độ cao tham gia tích cực vào quá trình cải cách kinh tế, chính trị, xã hội.

Nguyễn Trường Tộ chủ trương thành lập các khoa hoàn toàn mới mẻ, có giá trị thực dụng, như khoa Nông chính: Truyền đạt cho người học những phương pháp nông nghiệp cơ bản, thích hợp với điều kiện khí hậu, đất đai đặc thù ở mỗi vùng và đem lại hiệu quả kinh tế cao; khoa Thiên văn – Địa lý: Truyền đạt các kiến thức về thiên văn và địa lý của Việt Nam; khoa Công kỹ nghệ: Cung cấp các kiến thức mới của phương Tây về kỹ thuật máy móc; khoa Luật học: Cung cấp các kiến thức chung về luật pháp; khoa Thống kê: Vận dụng kiến thức của các môn khoa học tự nhiên để tổng hợp, phân tích và đưa ra các nhận định, giải quyết các vấn đề.

Tiếp đến, Nguyễn Trường Tộ chủ trương cải cách chữ viết của người Việt Nam: “Nước ta là một nước có tên tuổi vào hàng nhì của phương Đông, vậy mà chỉ một mình nước ta không có chữ viết” [2, tr.255]. Ông đã chỉ ra những bất cập của việc sử dụng chữ Hán, bởi việc sử dụng chữ Hán trong cuộc sống hàng ngày đã đưa lại một số hạn chế, như học chữ Hán mà không đọc được như người Hán, lại thêm một phần phát âm cũng như một lần giải nghĩa cho nên rất mất công sức để dùi mài mới đọc hiểu được, lãng phí thời gian cho việc học chữ nhưng lại không có thời gian học các môn học khác [Xem: 2, tr.256]. Ông là người có công lớn trong truyền bá chữ quốc ngữ ở Việt Nam. Ý tưởng phổ cập chữ viết riêng cho người Việt Nam để nâng cao kiến thức cho người dân của ông đã đáp ứng đúng mong mỏi của người dân và phù hợp với nhu cầu phát triển của xã hội, đồng thời góp phần tôn vinh lòng tự hào dân tộc trong bối cảnh Việt Nam thế kỷ XIX.

Với vốn kiến thức Nho học trong nước và kiến thức tiếp nhận khi ở nước ngoài, Nguyễn Trường Tộ đã có những cảm nhận, so sánh, đối chiếu và khẳng định thực tế yếu kém của nền giáo dục Việt Nam lúc bấy giờ: “Người phương Tây cũng là người, họ đâu có thể vượt ra khỏi trời đất mà học, thế sao cái học của họ được công hiệu” [2, tr.193]. Từ đó, ông chủ trương cải cách nền giáo dục của Việt Nam trên cơ sở tiếp thu có chọn lọc những thế mạnh của nền giáo dục thực học ở phương Tây: “Học những gì thực tế thì sẽ có thực dụng, học những cái vụn vặt thì chỉ được cái vụn vặt,...” [2, tr.193].

Nội dung giáo dục khoa học và văn minh phương Tây mà Nguyễn Trường Tộ lựa chọn để thâu nạp, bổ sung và vận dụng là các kiến thức khoa học tự nhiên.  Ông nhận thấy vai trò quan trọng của khoa học tự nhiên đối với sự phát triển của nền văn minh phương Tây, đây là cái mà giáo dục ở Việt Nam lúc đó vẫn còn thiếu: “Hiện nay các nước phương Tây tất cả các khí cụ kỳ lạ, không có một cái gì là không dựa vào sức tự nhiên của trời đất để làm” [2, tr.193].

Tuy nhiên, Nguyễn Trường Tộ cũng không phủ nhận hoàn toàn nền giáo dục nước nhà, cho rằng: “...Không phải là muốn bỏ hết cái cũ mà mưu cầu cái mới. Nhưng phải lấy cái hay của mình có sẵn, còn phải gồm cả những cái hay của thiên hạ mới sáng tạo ra” [2, tr.193]. Đó là cách tiếp cận tri thức mới bằng con đường ngắn hơn mà vẫn lưu giữ được những giá trị xưa cũ. Quan điểm này của ông, một lần nữa, khác với nhận thức trước đây của Nho giáo khi cho rằng “xưa hơn nay”. Bởi, theo ông, mỗi giai đoạn đều có những thành tựu riêng cũng như tồn tại những mặt hạn chế nhất định. Cái tiến bộ của giai đoại này có thể trở thành lực cản của giai đoạn sau. Do đó, “xưa” sẽ góp phần tạo tiền đề cho “nay”, mà không phải tuyệt đối như Nho giáo vẫn khẳng định.        

Ngoài ra, Nguyễn Trường Tộ còn đưa ra chủ trương đào tạo nhân tài bằng cách chọn người giỏi gửi đi du học tại các nước phương Tây, và sau khi trở về, sẽ góp phần mở mang kiến thức cho nền giáo dục nước nhà cũng như thành lập các trường kỹ nghệ nhằm đào tạo nhân lực trong nước. Ông lập luận rằng, giữ bờ cõi giang sơn phải bằng dân trí, bằng sức mạnh thực sự của trí thức thì mới giành lại được độc lập, mới giữ được đất nước: “...Dân đã yên sau sẽ khiến kẻ hiền tài vượt biển, sang các nước lớn học cách đánh trận giữ thành, học tập trí xảo của thiên hạ, giao thiệp với họ lâu dài, mới biết lường sức đo tài, biết hết tình trạng của họ. Học cho tinh vi mới sinh kỹ xảo, rất mực kỹ xảo mới mạnh, bấy giờ mới dưỡng uy súc nhuệ, đợi thời hành động, mất ở phía Đông thì lấy lại ở phía Tây, cũng chưa muộn gì” [2, tr.111]. Việc đưa học sinh ra nước ngoài học tập sẽ giúp cho họ nhanh chóng tiếp thu những thành tựu của khoa học kỹ thuật phương Tây và vận dụng nó trong quá trình cải tạo đất nước trên nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội, đồng thời, góp phần thay đổi nhanh chóng tư duy lạc hậu của người Việt Nam lúc đó. Như vậy, có thể thấy, chiến lược cải cách giáo dục của Nguyễn Trường Tộ dựa trên quan điểm cho rằng “dân tộc có tri thức thì mới thực sự trở thành nước giàu mạnh”.  

Tóm lại, có thể thấy, tư tưởng cải cách giáo dục của Nguyễn Trường Tộ đã phê phán mạnh mẽ nền giáo dục lạc hậu, lỗi thời của Việt Nam lúc đó. Để giải quyết triệt để vấn đề cấp bách cũng như lâu dài của dân tộc, theo ông, cần thiết phải tiến hành cải cách giáo dục, bởi đó là giải pháp tự lực tự cường nhằm nâng cao dân trí và bảo vệ độc lập dân tộc. Hơn nữa, qua các bản điều trần, nội dung tư tưởng cải cách giáo dục của Nguyễn Trường Tộ có nhiều điểm tiến bộ, đánh dấu bước chuyển biến quan trọng trên phương diện tư tưởng trong xã hội phong kiến Việt Nam thế kỷ XIX. 

 

Tài liệu tham khảo

[1] Phan Trọng Báu (2015), Giáo dục Việt Nam cận đại, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội.

[2]  Nguyễn Bá Cần (1988), Nguyễn Trường Tộ: Con người và di thảo, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh.

[3]  Nguyễn Đình Đầu (2013), Nguyễn  Trường Tộ với triều đình Tự Đức, Nxb Trẻ.

[4] TS. Lê Thị Lan (2002), Tư tưởng cải cách ở Việt Nam nửa cuối thế kỷ XIX, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội.

[5]  Nhiều tác giả (2002), Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục, t.1, Nxb Giáo dục, Hà Nội.

[6]   Nhiều tác giả (2014), Nguyễn Trường Tộ hôm qua và hôm nay, Nxb Tri thức, Hà Nội.

[7] Đặng Huy Vận, Chương Thâu (1961), Những đề nghị cải cách của Nguyễn Trường Tộ cuối thế kỷ XIX, Nxb Giáo dục, Hà Nội.

[8] Viện Khoa học xã hội - Sở Văn hóa thông tin Tp. Hồ Chí Minh (1992), Nguyễn Trường Tộ với vấn đề canh tân đất nước, Trung tâm nghiên cứu Hán nôm, Hà Nội.

Tác giả: Nguyễn Minh Nguyên - Tiến sĩ, Viện Triết học, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam.
Nguồn bài viết: Trang Thông tin điện tử Viện Triết học
Tin xem nhiều
Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tất cả: 1