Hình tượng "Anh hùng văn hóa" thời đại Hùng Vương - Sự xuất hiện, việc phụng thờ và ý nghĩa trong đời sống văn hóa của người Việt
“Anh hùng văn hoá” là những nhân vật được sáng tạo ra trong các câu truyện kể dân gian, có thể là những nhân vật không có thật hoặc có thật được thần thánh hoá khoác lên mình tấm áo thần thoại, là những người phi thường, có nguồn gốc xuất thân, hành trạng, sự nghiệp mang những điểm đặc biệt so với người bình thường. Những việc làm của họ thường mang lại điều vĩ đại, có tầm ảnh hưởng lớn đến xã hội.
1. Sự xuất hiện và lưu truyền hình ảnh về các “Anh hùng văn hoá” thời đại Hùng Vương
Nhân vật “Anh hùng văn hoá” xuất hiện khi con người gặp phải những vấn đề khó hiểu, không lý giải được theo cách thông thường. Khi ấy, con người sáng tạo ra những đấng siêu nhiên để lý giải thế giới theo cách huyền bí. Họ có tác động lớn đến đời sống văn hoá, tín ngưỡng, phong tục tập quán của nhân dân và được nhân dân phụng thờ một cách trang trọng.
Những “Anh hùng văn hoá” đầu tiên của người Việt xuất hiện chính trong thời đại Hùng Vương dựng nước, nhiều nhân vật được phản ánh trong những câu truyện dân gian như: Lạc Long Quân, Âu Cơ, Hùng Vương, Tản Viên Sơn Thánh, Phù Đổng Thiên Vương, Chử Đồng Tử, Cao Sơn, Quý Minh, Mai An Tiêm, Lang Liêu… đều có xuất thân ban đầu từ những truyền thuyết dân gian.
Thời đại Hùng Vương là thời dựng nước đầu tiên trong lịch sử dân tộc Việt Nam. Ở thời đại này, khi người Việt cổ vừa ra khỏi xã hội nguyên thuỷ và bước vào xã hội có giai cấp và nhà nước đầu tiên. Nhận thức về tự nhiên và xã hội còn nhiều điều mơ hồ chưa lý giải được, vì vậy những truyền thuyết, thần thoại sớm ra đời từ thời đại này.
Truyền thuyết về các “Anh hùng văn hoá” thời đại Hùng Vương được truyền khẩu trong dân gian qua nhiều thế kỷ. Đến khoảng thế kỷ XIV, XV những truyền thuyết này được gom nhặt và ghi chép lại trong một số thư tịch cổ như Việt điện u linh [1], Lĩnh Nam chích quái [2]. “Anh hùng văn hoá” xuất hiện trước hết trong các truyện kể dân gian như: Lạc Long Quân - Âu Cơ, vua Hùng xuất hiện trong truyền thuyết về họ Hồng Bàng; Thần núi Tản Viên xuất hiện trong truyền thuyết Sơn Tinh, Thuỷ Tinh; Thánh Gióng trong câu chuyện Phù Đổng Thiên Vương; Chử Đồng Tử trong truyền thuyết Đầm Nhất Dạ; Mai An Tiêm trong Sự tích dưa hấu; Lang Liêu trong Sự tích bánh chưng, bánh dầy…
Sang thế kỷ XVI, XVII, với sự phát triển mạnh mẽ của Đạo giáo ở Việt Nam, những nhân vật “Anh hùng văn hoá” tiếp tục được thần thánh hoá, đi vào thần tích ở các địa phương. Với việc kê khai lí lịch các vị thần, Thành hoàng dưới thời Lê Trung hưng, nhiều bản thần tích được biên soạn phản ánh hành trạng, sự nghiệp của các “Anh hùng văn hoá” - các vị thần linh. Nổi bật trong số đó là hệ thống thần tích do Đông các Đại học sĩ Nguyễn Bính soạn ra vào năm Hồng Phúc nguyên niên (1572) đời vua Lê Anh Tông và được Quản giám Bách thần tri điện Hùng lĩnh Thiếu khanh Nguyễn Hiền sao lục lại vào niên hiệu Vĩnh Hựu đời vua Lê Ý Tông (1735 - 1740). Những bản thần tích này một lần nữa khắc họa hình ảnh các vị thần thánh (trong đó có nhiều nhân vật thời đại Hùng Vương) trong tâm thức người dân.
Hình tượng “Anh hùng văn hoá” thời đại Hùng Vương được nhân dân xây dựng trên nhiều lĩnh vực của cuộc sống. Xét về vai trò, có thể thấy có 4 nhóm hình tượng “Anh hùng văn hoá”:
1. Những nhân vật được tôn là Quốc phụ, Quốc mẫu, Quốc tổ của đất nước như Lạc Long Quân, Âu Cơ, các vua Hùng. Đây là nhóm nhân vật xuất hiện đầu tiên trong các truyền thuyết dân gian. Những hình tượng này có sức ảnh hưởng rộng lớn trong cộng đồng người Việt.
Hình tượng về Lạc Long Quân và Âu Cơ với cuộc gặp gỡ và kết duyên sinh ra trăm trứng trở thành Quốc phụ và Quốc mẫu của dân tộc Việt xuất hiện sớm nhất trong câu truyện về họ Hồng Bàng. Truyền thuyết này được lưu truyền rộng rãi trong dân gian, đến thế kỷ XIV, khi biên chép sách Lĩnh Nam chích quái, các tác giả Vũ Quỳnh và Kiều Phú đều đặt truyện họ Hồng Bàng là truyện đầu tiên mở đầu cho các truyền thuyết mà các ông sưu tầm. Trong truyện này, hình tượng Lạc Long Quân được xây dựng trở thành người cha của cộng đồng tộc Việt. Quốc phụ đã “dạy dân việc cày cấy nông tang, đặt ra các đẳng quân, thần, tôn, ti, các đạo cha con, vợ chồng” [3]. Là Quốc phụ nên Long Quân luôn luôn hiển ứng giúp đỡ và bảo vệ các con. Mỗi khi cần cha Long Quân thì các con chỉ cần cất tiếng gọi: “Bố ơi! sao không lại cứu chúng tôi” thì Quốc phụ lập tức xuất hiện và cứu giúp các con. Trong tâm thức dân gian, Quốc phụ Lạc Long Quân đã nhiều lần bảo vệ các con khỏi sự quấy nhiễu của những loài yêu quái như việc tiêu diệt ngư tinh, hồ tinh [4].
Âu Cơ trong truyền thuyết dân gian được coi là Quốc mẫu của người Việt. Âu Cơ là người đã sinh ra trăm trứng và nuôi dưỡng trăm con khi Long Quân thường xuyên đi vắng. Đến khi các con khôn lớn, các con được chia 50 người theo cha xuống biển, 50 người theo mẹ lên rừng thì mẹ Âu Cơ cũng là người thu vén cho các con suy phục lẫn nhau và tôn người con cả lên làm vua Hùng trị nước.
Hùng Vương được tôn làm Quốc tổ của dân tộc. Hùng Vương xuất hiện đầu tiên trong câu truyện họ Hồng Bàng với hình ảnh người con cả của Lạc Long Quân và Âu Cơ lên ngôi vua, lập ra nước Văn Lang. Các đời Hùng Vương nối tiếp nhau theo truyền thuyết đến 18 đời đều là những người trị quốc, an dân, lãnh đạo nhân dân chống chọi với các loài yêu quái, đánh trả kẻ thù xâm lược và xây dựng những phong tục tốt đẹp trong cuộc sống và lao động sản xuất.
2. Anh hùng trong chống thiên tai, chế ngự thiên nhiên tiêu biểu là Đức thánh Tản Viên (Sơn Tinh). Về hình tượng thánh Tản Viên, trong dân gian lưu truyền nhiều truyền thuyết về ngài. Có chuyện kể Tản Viên là 1 trong 50 người con đã theo cha Long Quân xuống biển; cũng có truyền thuyết nói Ngài là đức thánh ngự trên núi Tản Viên ở đời vua Hùng thứ 18 gắn với truyện Sơn Tinh, Thuỷ Tinh. Mẫu hình nhân vật Sơn Tinh đã trở thành một vị thánh trong việc chế ngự thiên nhiên, bảo trợ nhân dân yên ổn làm ăn. Qua truyền thuyết về việc vua Hùng kén rể và cuộc chiến giữa Sơn Tinh và Thuỷ Tinh đã khắc họa tinh thần lao động, chiến đấu chống chọi thiên nhiên của người Việt. Hình tượng vị thánh anh hùng Tản Viên được nhân dân xây dựng chính là biểu tượng tinh thần đoàn kết chống thiên tai của dân tộc.
3. Anh hùng trong đấu tranh chống ngoại xâm, bảo vệ địa bàn cư trú tiêu biểu là nhân vật Thánh Gióng trong chuyện Phù Đổng Thiên Vương đã giúp vua đánh giặc. Bên cạnh đó là một số nhân vật khác như Cao Sơn đại vương, Quý Minh đại vương trong truyền thuyết là những bộ tướng của Sơn Tinh cũng góp phần đánh giặc giữ nước, mang lại cuộc sống bình yên cho nhân dân. Đứng đầu trong những anh hùng chống giặc ngoại xâm thời Hùng Vương là hình tượng đức Phù Đổng Thiên Vương. Hình ảnh người anh hùng mới lên 3 tuổi đã xung phong đánh giặc giữ nước đã trở thành biểu tượng yêu nước của dân tộc Việt.
4. Anh hùng trong lao động sản xuất là những nhân vật như Chử Đồng Tử, Mai An Tiêm, Lang Liêu… cần cù lao động, dựa vào đôi bàn tay và khối óc của mình để làm ra những giá trị của cuộc sống. Chử Đồng Tử được ca ngợi là ông tổ của nghề buôn bán, lập phố, mở chợ; Lang Liêu gắn với sự tích về nguồn gốc bánh chưng, bánh dầy. Mỗi dịp lễ, tết với cặp bánh chưng, bánh dầy trên bàn thờ, người Việt đều tưởng nhớ và nhắc nhở mình về tinh thần lao động, sáng tạo từ những nguyên liệu quen thuộc sẵn có mà tạo ra được sản phẩm độc đáo, hấp dẫn không kém gì những thứ quý giá, xa xỉ khác. Mai An Tiêm lại là một hình tượng khác trong lĩnh vực lao động, sản xuất khi sử dụng sức lao động một cách tự lập, tự cường, không cần những lời xu nịnh để tiến thân như những kẻ nịnh thần, cơ hội thường gặp trong xã hội.
Những “Anh hùng văn hoá” thời đại Hùng Vương không chỉ có ảnh hưởng và lưu truyền qua truyền thuyết, thần tích. Mà họ còn đi vào cuộc sống tâm linh của người Việt. Hầu hết những hình tượng anh hùng văn hoá đều được thờ phụng trong tín ngưỡng dân gian tại các di tích như đình, đền, nghè, miếu.
2. Việc phụng thờ các “Anh hùng văn hoá”
“Anh hùng văn hoá” là những nhân vật không có thật, hoặc là những nhân vật từng sinh sống thật sự trong một bối cảnh lịch sử, nhưng sau khi họ mất đi, nhân dân thần thánh hoá trở thành những anh hùng mang màu sắc huyền ảo. Dù có cuộc sống thật hay không có thì trong tâm thức dân gian, các “Anh hùng văn hoá” vẫn giữ một vị trí quan trọng trong đời sống tinh thần của nhân dân. Các “Anh hùng văn hoá” thời đại Hùng Vương chủ yếu được thờ phụng trong 3 tín ngưỡng dân gian là: Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương; tín ngưỡng thờ thần, thành hoàng và tín ngưỡng thờ “Tứ bất tử”.
2.1. Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương
Đây là tín ngưỡng cổ truyền của dân tộc Việt Nam. Không phải đến thế kỷ XV khi sách Lĩnh Nam chích quái ghi chép truyện họ Hồng Bàng thì nhân dân mới biết đến các vua Hùng. Mà trong tâm thức dân gian cách đó hàng ngàn năm biểu tượng Hùng Vương dựng nước đã được lưu truyền trong nhân dân. Dưới các triều đại quân chủ Việt Nam, các bậc đế vương cũng hết sức ý thức được về nguồn gốc dân tộc, triều đình luôn coi trọng việc thờ phụng, tri ân các vua Hùng bằng cách quan tâm đến việc xây dựng khu đền thờ vua Hùng ở nơi được coi là kinh đô của nhà nước Văn Lang xưa. Theo bản Ngọc phả Hùng Vương do Hàn lâm viện Trực học sĩ Nguyễn Cố soạn năm Hồng Đức nguyên niên (1470) thời vua Lê Thánh Tông có đoạn viết: “Từ Triệu Vũ Đế (huý Đà) kế trị đến các triều Đinh, Lê, Lý, Trần cho tới nay triều Lê ta đều chuẩn y việc phụng thờ ở cung miếu, chuẩn cho làng Trung Nghĩa thuộc bản xã theo đúng lệ cũ được hưởng tạo lệ, miễn trừ tô thuế binh dân cùng là các khoản sưu sai tạp dịch, giao cho dân bản xã phụng thờ cầu chúc cho mệnh mạch quốc gia trường tồn, lưu thơm muôn thuở” [5]. Điều này cho thấy, việc xây dựng đền thờ Hùng Vương đã có từ rất xa xưa. Kết quả nghiên cứu Khảo cổ học cũng cho biết: dấu vết chân móng đền Hùng (xã Hi Cương, tỉnh Phú Thọ) đã có từ thời Đinh Tiên Hoàng ở thế kỷ X.
Việc xây dựng đền thờ và thực hiện nghi thức thờ cúng Hùng Vương dưới các triều đại quân chủ Việt Nam ngày càng được quan tâm tổ chức. Trước thế kỷ XIX, việc thờ cúng Hùng Vương thường diễn ra ở địa điểm chính là đền Hùng (Phú Thọ ngày nay) do chính quyền và nhân dân trong vùng tổ chức dưới sự chuẩn y của triều đình như trong Ngọc phả mà Nguyễn Cố đã soạn. Đến triều Nguyễn việc thờ cúng Hùng Vương được quan tâm tổ chức không chỉ ở đền Hùng và khu vực phía Bắc, năm Minh Mạng thứ 4 (1823) triều đình đã cho rước bài vị vua Hùng về thờ ở miếu Lịch Đại đế vương trong kinh thành Huế [6]. Việc này cho thấy tầm ảnh hưởng của tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương đã lan rộng ra nhiều vùng miền của đất nước.
Nghi thức thờ cúng Hùng Vương được thực hiện vào ngày 10 tháng 3 (Âm lịch) hàng năm để tưởng nhớ ngày giỗ Tổ Hùng Vương trong cả nước. Ban đầu những nghi thức này được thực hiện một cách tự phát trong dân gian. Sang đầu thế kỷ XX, nhận thấy việc thờ cúng Hùng Vương có nhiều bất cập về ngày giờ không thống nhất giữa các địa phương, Tuần phủ Phú Thọ là Lê Trung Ngọc đã làm bản tấu trình với bộ Lễ xin ấn định ngày 10 tháng 3 hằng năm là ngày Quốc giỗ Hùng Vương. Việc này được vua Khải Định chuẩn y từ năm 1917 lấy ngày 10/3 hằng năm là ngày Quốc tế giỗ Tổ Hùng Vương trên cả nước.
Ngay sau khi giành được độc lập dân tộc vào ngày 02/9/1945, Đảng và Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa cũng giành những mối quan tâm đặc biệt đến ngày giỗ Tổ Hùng Vương. Ngày 18/2/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ban hành Sắc lệnh số 22C-NV/CC quy định những ngày lễ lớn trong năm, trong đó ngày giỗ Tổ Hùng Vương mồng 10/3 (Âm lịch), được nghỉ 1 ngày. Ngay sau đó, trong ngày giỗ Tổ Hùng Vương năm Bính Tuất (1946), Quyền Chủ tịch nước Huỳnh Thúc Kháng về dự giỗ Tổ Hùng Vương và dâng tấm bản đồ Tổ quốc Việt Nam cùng 1 thanh gươm kính cáo với Tổ tiên về việc đất nước đang bị xâm lăng và cầu mong Tổ tiên phù hộ cho quốc thái dân an, thiên hạ thái bình, thịnh trị, toàn dân tộc một lòng đoàn kết đánh tan thực dân Pháp xâm lược, bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ.
Hiện nay, các di tích và đền thờ Hùng Vương được nhân dân trân trọng xây dựng ở hầu khắp các địa phương trên cả nước. Theo thống kê, đến năm 2018, trên cả nước có 1.417 điểm thờ Hùng Vương. Các điểm thờ này có ở 17 tỉnh, thành phố từ Bắc vào Nam. Ngày giỗ Tổ 10/3 không còn là ngày lễ hội riêng của khu di tích lịch sử đền Hùng ở tỉnh Phú Thọ nữa, mà ngày này đã trở thành ngày Quốc lễ. Theo bộ Luật lao động nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam (sửa đổi bổ sung năm 2007), từ năm 2007 ngày 10 tháng 3 Âm lịch hàng năm là ngày Quốc giỗ, nhân dân, người lao động trên cả nước được nghỉ lễ 01 ngày hưởng nguyên lương.
Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương hiện nay không chỉ là tín ngưỡng văn hoá của riêng người Việt Nam, ngày 6 tháng 12 năm 2012, trong phiên họp lần thứ 7 của tổ chức UNESCO, với 24/24 phiếu đồng thuận, UNESCO đã công nhận Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương là Di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại. Như vậy, tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương đã được vinh danh là di sản văn hoá chung của nhân loại. Đây là hiện tượng đặc biệt, không phải quốc gia nào cũng có được vinh dự này.
2.2. Tín ngưỡng thờ những người anh hùng và tín ngưỡng thờ thành hoàng
Đây là loại hình tín ngưỡng phổ biến trong các làng xã Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ. Thành hoàng là người bảo trợ cho cuộc sống của cộng đồng làng xã thường được thờ trong các ngôi đình làng, các đền, miếu trong làng. Thành hoàng ở Việt Nam thường có 3 nhóm nguồn gốc là: Thiên thần là các vị thần ở trên trời được nhân dân thờ cúng; Nhiên thần là những vị thần tự nhiên như thần núi, thần sông, thần nước… Nhân thần là những nhân vật lịch sử, văn hoá được nhân dân tôn làm Thành hoàng, phụng thờ trong đình làng. Nhóm các Nhân thần là nhóm chiếm số lượng nhiều nhất trong các thành hoàng ở Việt Nam, trong đó, các di tích thờ “Anh hùng văn hoá” thời đại Hùng Vương cũng chiếm số lượng lớn trong hệ thống di tích thờ thành hoàng ở Việt Nam.
Thống kê các bản thần tích về những nhân vật thời đại Hùng Vương được thờ phụng làm thần, thành hoàng cho thấy: quanh vùng núi Ba Vì có đến 95 điểm thờ thánh Tản Viên [7]; trên địa bàn thành phố Hà Nội hiện nay có 127 nơi thờ Cao Sơn đại vương [8] còn lưu thần tích [9]; ở các tỉnh đồng bằng Bắc Bộ hiện nay có 169 nơi có sắc phong thờ thần Quý Minh [10]; có 62 làng thờ Chử Đồng Tử theo dọc sông Hồng, trong đó tập trung nhiều nhất ở Hưng Yên (với 45 làng) [11]; Mai An Tiêm được thờ ở 3 nơi là: đền Văn Đức (xã Nga An, tỉnh Thanh Hóa), đền thờ ở xã Bắc Thụy Anh (tỉnh Hưng Yên) và đình Sơn Khê [12] (phường Nguyễn Đại Năng, thành phố Hải Phòng).
Trong hệ thống di tích thờ các anh hùng và thờ thành hoàng ở Việt Nam, các di tích thờ “Anh hùng văn hoá” thời đại Hùng Vương thường xuất hiện khá sớm: Đền thờ Phù Đổng Thiên Vương ở xã Phù Đổng, Thành phố Hà Nội được xây dựng từ rất sớm. Đến thời vua Lê Đại Hành (980 – 1005) đã có tích nói Vua đi đánh giặc qua đền, được Thánh phù hộ thắng giặc nên ban sắc phong Thượng đẳng thần [13]; Đền thờ thánh Tản Viên cũng được vua Lý Nhân Tông (1072 – 1128) cho xây dựng từ thế kỷ XI trên núi Tản, có lầu 12 tầng [14]; Đình làng Việt Nam bắt đầu xuất hiện từ khoảng thế kỷ XV, XVI để thờ thành hoàng theo tín ngưỡng dân gian. Một trong những ngôi đình cổ kính được xây dựng sớm nhất ở Bắc Bộ là đình Tây Đằng ở Hà Nội cũng được xây dựng để thờ thánh Tản Viên – vị “Anh hùng văn hóa” thời Hùng Vương dựng nước làm thành hoàng.
2.3. Tín ngưỡng thờ “Tứ bất tử” [15]
Đây là một tín ngưỡng dân gian thuần Việt. Trong số 4 nhân vật được nhân dân suy tôn “Bất tử” thì có đến 3 vị Thánh là những “Anh hùng văn hoá” thời đại Hùng Vương. Tín ngưỡng này phát triển mạnh mẽ ở vùng Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ. Hoạt động thờ cúng các vị Thánh trong “Tứ bất tử” đã hình thành nên những vùng văn hoá đặc sắc của mỗi địa phương hoà chung trong bối cảnh văn hoá cả nước.
Các vị Thánh bất tử được nhân dân thờ phụng ở nhiều nơi, tuy nhiên, mỗi nhân vật đều phát huy tầm ảnh hưởng ở những lĩnh vực nhất định trong đời sống tâm linh và được thờ tự ở những nơi nhất định mà không có nơi nào phối thờ cả 4 vị Thánh bất tử.
Thánh Tản Viên: là biểu tượng cho sức mạnh cố kết cộng đồng và khẳng định sức mạnh đó trước thiên nhiên, chế ngự sức mạnh tự nhiên như mưa, gió, bão, lụt, bảo vệ lãnh thổ sinh tồn của người Việt. Các di tích thờ Tản Viên Sơn Thánh và bộ tướng của ông (Cao Sơn, Quý Minh, Phan Nhạc) thường tập trung nhiều ở vùng núi Ba Vì, Sơn Tây thành vùng văn hoá cổ Tản Viên – Ba Vì [16].
Thánh Gióng: là biểu tượng cho sức mạnh đoàn kết cộng đồng trong cuộc chiến đấu chống giặc ngoại xâm, bảo vệ cuộc sống yên vui của nhân dân. Di tích thờ Thánh Gióng tập trung nhiều ở vùng Gia Lâm, Đông Anh, Sóc Sơn (theo truyền thuyết, vùng này là nơi Thánh Gióng sinh ra, lớn lên, đánh giặc và bay về trời).
Chử Đồng Tử: là biểu tượng cho những ước muốn xây dựng xã hội ổn định, khoan hòa trong các mối quan hệ tình yêu, hôn nhân, cách đối nhân xử thế, cứu độ chúng sinh, mang lại sự phồn vinh cho cộng đồng. Chử Đồng Tử và Tiên Dung được thờ phụng nhiều ở vùng sông nước, đặc biệt là dọc 2 bên bờ sông Hồng từ Gia Lâm (Hà Nội) về Hưng Yên.
Bên cạnh hình ảnh của 3 vị Thánh trên, tín ngưỡng thờ “Tứ bất tử’ còn phụng thờ Thánh Mẫu Liễu Hạnh – một vị “Anh hùng văn hóa” giáng sinh ở thế kỷ XVI theo truyền thuyết. Mẫu Liễu Hạnh là hình ảnh của một vị thần linh gần gũi với cuộc sống trần tục của người Việt. Vị Thánh này chứa đựng trong mình khát vọng về cuộc sống của con người (nhất là người phụ nữ) thoát khỏi những ràng buộc khắc nghiệt của xã hội lỗi thời, đạt đến ước mơ hạnh phúc.
Như vậy, có thể thấy hình tượng “Anh hùng văn hoá” thời đại Hùng Vương có sức ảnh hưởng lớn đến đời sống văn hoá, tín ngưỡng của người Việt trong suốt các thời kỳ lịch sử từ khi dựng nước đến ngày nay.
3. Ý nghĩa của hình tượng “Anh hùng văn hoá” thời đại Hùng Vương
Biểu tượng “Anh hùng văn hoá” thời đại Hùng Vương là điểm tựa tinh thần, khơi gợi cội nguồn dân tộc, là sức mạnh tinh thần cho nhân dân chiến đấu chống giặc ngoại xâm. Câu nói của Chủ tịch Hồ Chí Minh “Các vua Hùng đã có công dựng nước. Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước” đã khẳng định vị trí của các vua Hùng trong tâm thức dựng nước và giữ nước của dân tộc. Các vua Hùng là Quốc tổ, những người đã dựng lên đất nước tươi đẹp đầu tiên. Vì vậy, con cháu các thế hệ phải cùng nhau đoàn kết mà gìn giữ non sông, bờ cõi mà Tổ tiên để lại.
Qua hình tượng nhân vật Mai An Tiêm, Lang Liêu lao động sản xuất đã thúc đẩy trí lao động sáng tạo, tự lực của con người. Mỗi người dù có rơi vào hoàn cảnh khó khăn, thử thách cũng đều quyết tâm vươn lên trong cuộc sống.
Hình tượng Quốc phụ, Quốc mẫu và Quốc tổ là nhân tố cố kết cộng đồng, hình thành tinh thần dân tộc, tinh thần đoàn kết của nhân dân. Qua tinh thần con lạc cháu Hồng, từ “đồng bào” được sử dụng rộng rãi ngày nay cũng chính mang ý nghĩa là con cháu những người được sinh ra từ bọc trứng của mẹ Âu Cơ. Đã là những người được sinh ra trong cùng một bọc trứng thì phải có tinh thần đoàn kết, cùng nhau xây dựng cuộc sống ấm no, tươi đẹp.
Hình tượng các “Anh hùng văn hoá” thời đại Hùng Vương cũng là nguồn cảm hứng khởi nguyên cho sự hình thành tín ngưỡng thuần Việt là tín ngưỡng thờ “Tứ bất tử”, tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương trên cả nước và cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài.
Hình tượng “Anh hùng văn hoá” còn là những di sản được lưu truyền lâu đời. Những di tích, lễ hội về thời đại Hùng Vương chiếm một vị trí quan trọng bậc nhất trong đời sống tinh thần của người Việt nói chung. Những hình tượng này còn thể hiện giá trị văn hóa tinh thần, phi vật thể của dân tộc Việt Nam đã được thế giới ghi nhận qua nhiều di sản văn hoá phi vật thể như: tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương, hát xoan Phú Thọ, lễ hội Gióng…/.
Chú thích:
[1] Việt điện u linh được Lý Tế Xuyên biên soạn xong vào năm Khai Hựu thứ nhất (1329) đời vua Trần Hiến Tông. Đây là một bộ sưu tập gồm 28 truyện u linh trên đất Việt. Trong đó có câu chuyện “Tản Viên Hựu thánh Khuông quốc hiển ứng vương”, trong dân gian thường biết đến với tên “Sơn Tinh, Thủy Tinh” là một trong những truyền thuyết dân gian đầu tiên được ghi chép lại về thời Hùng Vương.
[2] Lĩnh Nam chích quái là bộ sưu tập 28 câu chuyện lạ lẫm, quái dị ở phía Nam núi Ngũ Lĩnh. Sách được Vũ Quỳnh và Kiều Phú cùng biên soạn vào niên hiệu Hồng Đức (1470-1497) thời Lê Thánh Tông.
[3] Vũ Quỳnh, Kiều Phú (1960), Lĩnh Nam chích quái (Đinh Gia Khánh, Nguyễn Ngọc San phiên dịch, chú thích và giới thiệu), Nxb. Văn hoá, Hà Nội, tr.21.
[4] Vũ Quỳnh, Kiều Phú (1960), Lĩnh Nam chích quái (Đinh Gia Khánh, Nguyễn Ngọc San phiên dịch, chú thích và giới thiệu), Sđd, tr.28-30.
[5] Bản dịch Ngọc phả Hùng Vương của Ngô Đức Thọ đăng trên webside https://www.ngotoc.vn/Nghien-cuu-Trao-doi/gioi-thieu-toan-van-ban-dich-ngoc-pha-hung-vuong-353.html (truy cập ngày 20/6/2019)
[6] Quốc sử quán triều Nguyễn (1997), Đại Nam nhất thống chí, tập 4, Nxb Thuận Hoá, Huế, tr.234.
[7] Đặng Văn Tu – Nguyễn Tá Nhí (Đồng chủ biên) (2011), Địa chí Hà Tây, Nxb Hà Nội, tr.699.
[8] Hiện nay có 3 truyền thuyết về thần Cao Sơn: 1. Thần Cao Sơn ở thời Hùng Vương thứ nhất là 1 trong 50 người con theo mẹ Âu Cơ lên núi; 2. Thần Cao Sơn ở đời Hùng Vương thứ 18 cùng với thần Quý Minh là 2 tướng của thánh Tản Viên; 3. Thần Cao Sơn có gốc từ nhà Minh (Trung Quốc); cha người Trung Quốc, mẹ người Việt Nam, ông sang Việt Nam thời nhà Hồ và được một số nơi thờ.
[9] Nguyễn Tá Nhí – Nguyễn Văn Thịnh (Đồng chủ biên) (2010), Tư liệu Văn hiến thăng Long – Hà Nội – Tuyển tập thần tích, Nxb Hà Nội, tr.33 – 37.
[10] Số liệu thống kê từ sách Thư mục thần tích thần sắc do Viện Thông tin Khoa học Xã hội ấn hành năm 1996.
[11] Đỗ Lan Phương (2005), Việc Phụng thờ Chử Đồng Tử vùng châu thổ hạ lưu sông Hồng quá trình vận động của hiện tượng văn hóa tín ngưỡng, Luận án Tiến sỹ Văn hóa học, Viện Văn hóa Thông tin, Hà Nội, tr.29
[12] Đình Sơn Khê thờ nhân vật Cao Khang, tuy nhiên, nhân dân vùng này quan niệm Cao Khang chính là Mai An Tiêm.
[13] Quốc sử quán triều Nguyễn (1997), Đại Nam nhất thống chí, tập 4, Sđd, tr.107.
[14] Quốc sử quán triều Nguyễn (1997), Đại Nam nhất thống chí, tập 4, Sđd, tr.238.
[15] Tín ngưỡng thờ “Tứ bất tử” hiện nay có nhiều cách giải thích khác nhau về các nhân vật trong bốn vị Thánh bất tử, nhưng thuyết được nhiều người đồng thuận là tứ bất tử gồm: Tản Viên Sơn Thánh (Sơn Tinh); Phù Đổng Thiên Vương (Thánh Gióng); Chử Đạo Tổ (Chử Đồng Tử) và Thánh Mẫu Liễu Hạnh.
[16] Trần Quốc Vượng (1999), Việt Nam cái nhìn địa – văn hoá, Nxb Văn hoá dân tộc – Tạp chí Văn hoá nghệ thuật, Hà Nội, tr.67 – 81.
Avatar: https://baophutho.vn/tuong-dai-hung-vuong-cong-trinh-cua-thoi-dai-ho-chi-minh-tri-an-cong-duc-to-tien-14754.htm