Tóm tắt: Giai đoạn nửa đầu thế kỷ XX là giai đoạn thức tỉnh của ý thức về con người cá nhân ở Việt Nam. Dưới tác động của những thay đổi trong cơ cấu kinh tế, xã hội, cũng như sự ảnh hưởng của chủ nghĩa cá nhân phương Tây, cách nhìn của người Việt Nam, trước hết là tầng lớp trí thức, về con người cá nhân thực sự đã vượt ra khỏi mẫu hình cá nhân trong xã hội Nho giáo truyền thống. Bài viết chỉ ra những nền tảng dẫn đến sự biến chuyển trong ý thức về con người cá nhân ở Việt Nam, đồng thời phân tích những diễn tiến trong quan niệm về con người cá nhân của người trí thức Việt Nam trong những thập niên đầu thế kỷ XX.
Từ khóa: Cá nhân, chủ nghĩa cá nhân, nửa đầu thế kỷ XX.
1. Quan niệm
về con người cá nhân trong xã hội Việt Nam truyền thống
Trong xã hội Việt Nam truyền thống, dưới ảnh hưởng
của Nho giáo, không tồn tại một mẫu hình con người cá nhân hoàn toàn độc lập
với xã hội. Nho giáo là một học thuyết nhập thế mãnh liệt, vì vậy, con người
trong Nho giáo luôn là con người trong xã hội, không thể không nhập thân vào xã
hội, không thể đứng ngoài xã hội và cộng đồng. Điều này đã được Khổng Tử khẳng
định: “Điểu thú bất khả dữ đồng quần! Ngô phi tư nhân chi đồ dữ, nhi thùy dữ?”
(Người ta không thể làm bạn với cầm thú! Nếu ta chẳng sống chung với người
[trong xã hội này] thì sống chung với ai?) [17, tr.543]. Đó chính là hình mẫu
con người trong xã hội Nho giáo cổ truyền - một mẫu hình con người luôn nằm
trong những sự quy định của cộng đồng ở cả chiều dọc của lịch sử và chiều ngang
của xã hội. Ở chiều dọc, mỗi người luôn được đặt trong một dòng chảy bất tận
của lịch sử, có trách nhiệm kế thừa di sản văn hóa của thế hệ đi trước và
truyền thừa vốn văn hóa ấy cho thế hệ sau. Ý thức và sự tôn sùng đối với lịch
sử khiến cho hành động của con người luôn bị chi phối hay mách bảo từ quá khứ.
Ở chiều ngang, con người bị lệ thuộc, ràng buộc bởi vô vàn những mối quan hệ,
thứ bậc khác nhau, và hành động theo sự quy định, chi phối của những quan hệ và
thứ bậc xã hội ấy. Con người trong xã hội cổ truyền không được hiện diện như là
một cá nhân, cá thể, mà nó hiện diện với tư cách người con, người vợ, người
thần dân v.v.. Nói như Hoài Thanh: “Xã hội Việt Nam từ xưa không có cá nhân,
chỉ có đoàn thể: lớn thì quốc gia, nhỏ thì gia đình. Còn cá nhân, cái bản sắc
của cá nhân chìm đắm trong gia đình trong quốc gia như giọt nước trong biển cả”
[14, tr.62]. Một quan niệm như vậy về con người rõ ràng là khác biệt với thứ
chủ nghĩa cá nhân (Individualism) ở phương Tây vốn đang thâm nhập vào
Việt Nam trong những năm đầu thế kỷ XX. Điểm then chốt của chủ nghĩa cá nhân
phương Tây là sự khẳng định cá nhân như một tồn tại độc lập, tự do, đặc thù, có
ý thức về quyền lợi của bản thân, hành động và tự định đoạt số phận của mình.
Với nghĩa đó, cá nhân thực sự xa lạ với sự hình dung của người Việt Nam trong
xã hội truyền thống về con người cá nhân, và do đó, chúng ta hoàn toàn có thể
hiểu được ý thức mãnh liệt về cá nhân trong tư tưởng phương Tây đã có thể gây
ra những xáo động mạnh mẽ đối với đời sống tinh thần người Việt Nam nửa đầu thế
kỷ XX như thế nào.
2. Sự mở rộng
không gian sinh hoạt của người Việt trong những năm đầu thế kỷ XX
Hai cuộc khai thác thuộc địa mà thực dân Pháp tiến
hành ở Việt Nam trong giai đoạn cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX đã tạo nên những
biến chuyển sâu sắc trong cơ cấu kinh tế - xã hội Việt Nam, tạo ra một nền sản
xuất mới mang hơi hướng tư bản chủ nghĩa, với sự kỹ nghệ hóa và sự xuất hiện
của các đồn điền, nhà máy, đồng thời cũng tạo ra những giai tầng xã hội mới,
với sự hiện diện của người công nhân, tư sản, tiểu tư sản. Quá trình chuyển đổi
đó, ở một chừng mực nhất định, đi liền với quá trình người Việt Nam bị tách ra
khỏi ruộng đất, ra khỏi cộng đồng làng xã nông thôn, và được đặt vào một không
gian hoạt động mới, không gian của những đồn điền, nhà máy và đô thị. Dưới tác
động của các cuộc khai thác thuộc địa, xã hội Việt Nam đầu thế kỷ XX đã chứng
kiến sự hình thành của những đô thị lớn, như Sài Gòn, Hà Nội, Hải Phòng. Những
đô thị này đã trở thành các trung tâm kinh tế, văn hóa, thu hút người nông dân
đến làm thuê và người trí thức đến học tập, làm việc.
Việc người Việt Nam bị bứt ra khỏi không gian sinh
hoạt truyền thống là nông thôn, làng xã và được đặt vào trong những không gian
sinh hoạt rộng lớn hơn, năng động hơn, tự do hơn, đồng thời nhiều khi cũng cô
độc hơn, là một tiền đề quan trọng cho sự hình thành của cảm thức về cái tôi cá
nhân, một thứ cảm thức mới mẻ, khó có thể tìm thấy trong xã hội cổ truyền. Ở
phương Tây thời kỳ Khai sáng ( thế kỷ XVIII), chúng ta cũng có thể thấy điều
tương tự: “Mỗi người, nhất là ở thành phố, bao giờ cũng tập trung nhiều hơn vào
chính mình, cũng tự quyết định mình theo ham muốn riêng của mình, cũng theo
đuổi một hạnh phúc vật chất hơn và như vậy anh ta trực tiếp và bảo vệ một lĩnh
vực đời sống riêng ngày càng ít lệ thuộc vào những ràng buộc tập thể. Cuộc cách
mạng thành thị đã bắt đầu đang đóng một vai trò cơ bản trong sự xuất hiện này
của cái cá nhân “riêng tư”. Trong khi phát triển mạnh mẽ, các thành phố lớn đầu
tiên trở thành những trung tâm thu hút chiếm ưu thế của nền văn minh mới cá
nhân luận” [1, tr.58]. Sự giải phóng cá nhân về mặt tư duy, tình cảm, tư tưởng
rõ ràng được bắt đầu với sự giải phóng cá nhân về không gian sinh hoạt. Nếu
không có sự mở rộng không gian sinh hoạt ấy, thật khó có thể nói đến sự hiện
diện của chủ nghĩa cá nhân. Lương Đức Thiệp đã có một tổng kết thú vị về điều
này vào năm 1944: “Một số đông thanh niên nam nữ làm công chức, làm thợ, làm
giáo sư, làm trạng sư, bác sĩ, văn sĩ, giáo viên, nữ giáo viên, khán hộ, nữ
khán hộ, tiểu thương, tiểu kỹ nghệ, v.v.. tập trung tại các đô thị, thoát ly
được hệ thống kinh tế gia đình, đã đề xướng vấn đề phân cư mà chủ trương chế độ
tiểu gia đình. Cái lý tưởng “Lũy thế đồng cư, Tứ đại đồng đường” là hạnh phúc
tối cao của chủ nghĩa đại gia tộc dựng trên kinh tế nông nghiệp không còn hấp
dẫn người Việt Nam mạnh mẽ như xưa nữa. Hình thức đại gia tộc dần dần bị phá vỡ
theo đà phát triển của kỹ nghệ cơ khí. Cá nhân chủ nghĩa được chỗ tựa trong xã
hội cũng nảy sinh” [15, tr.325]. Trong một không gian xã hội đang biến chuyển,
chủ nghĩa cá nhân phương Tây – vốn hầu như xa lạ với toàn bộ văn hóa truyền
thống Việt Nam – mới có thể bắt rễ và tìm được chỗ đứng trong đời sống tinh
thần của người Việt Nam đầu thế kỷ XX.
3. Diễn tiến
trong ý thức về con người cá nhân của người trí thức Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX
Những biến chuyển kinh tế - xã hội nêu trên là điều
kiện cần thiết cho sự hình thành và trỗi dậy của ý thức về cá nhân, tuy nhiên,
nó chưa phải là điều kiện đầy đủ đảm bảo cho sự hiện diện của một thứ chủ nghĩa
cá nhân mang đậm màu sắc văn hóa phương Tây trong tâm thức của người Việt Nam
đầu thế kỷ XX. Những biến chuyển trong quan niệm về con người cá nhân ở người
trí thức Việt Nam chỉ thực sự diễn ra trước ảnh hưởng của tư tưởng phương Tây,
mà trước hết là từ những nhà triết học Khai sáng Pháp, như Rousseau,
Montesquieu với quan niệm về những quyền phổ quát của cá nhân.
Dưới ảnh hưởng của văn hóa, tư tưởng phương Tây,
bước sang thế kỷ XX, những khái niệm có liên quan mật thiết đến ý thức về cá
nhân, như “tự do”, “quyền lợi” đã dần trở nên phổ biến trong đời sống học
thuật, cũng như đời sống thường ngày của người Việt Nam. Những ý tưởng mới mẻ
về tự do, bình đẳng, quyền lợi trong triết học Khai sáng đã trở thành một nguồn
cảm hứng mạnh mẽ cho một thế hệ tri thức vốn đã cảm thấy sự ngột ngạt của thiết
chế xã hội cổ truyền cũng như chế độ chính trị đương thời. Phan Chu Trinh từng
nhắc lại vai trò của những nhà Khai sáng đối với thế hệ mình: “Nói đại khái thì
về thế kỷ thứ 17 như ông Jean Jacques Rousseau, làm ra “Dân ước” ông La Fontain
làm ra “Ngụ ngôn” ông Montesquieu làm ra “Pháp lý”, ông Pascal, ông Voltair vân
vân, đều là những tay kiếm hết cách mở cái khóa chuyên chế để giúp đồng bào ra
chỗ tự do” [16, tr.256]. Và, thông qua thế hệ trí thức này, với những cuộc vận
động cải cách, duy tân hết sức sôi nổi hồi thập niên đầu thế kỷ XX, những ý
tưởng đó thực sự đã có điều kiện đi vào nền văn hóa Việt Nam. Tuy nhiên, những
nhà nho cấp tiến ở Việt Nam đã nhanh chóng đi từ vấn đề tự do, quyền lợi để mở
rộng ra vấn đề xã hội, chính trị, trong khi dường như không thực sự quan tâm
đến vấn đề con người cá nhân. Cái gọi là “chủ nghĩa cá nhân” đối với họ vẫn còn
là một thứ xa lạ. Mặc dù vậy, dưới ảnh hưởng của triết học Khai sáng, một quan
niệm mới về con người đã xuất hiện, con người gắn với những ý niệm về tự do,
bình đẳng, quyền lợi, vì thế, đây có thể xem là một bước khởi đầu cho những nỗ
lực giải phóng cá nhân trong suốt những thập kỷ sau đó của người Việt.
Bước sang thập niên thứ hai của thế kỷ XX, với sự
thâm nhập ngày một sâu hơn và ngày càng mang tính trực tiếp hơn (thay vì qua
kênh trung gian từ những tư tưởng của Nhật Bản hay Trung Quốc) của văn hóa
phương Tây, chủ nghĩa cá nhân cũng có cơ hội hiện diện một cách rõ ràng hơn
trong đời sống tinh thần của người Việt Nam. Đây cũng là lúc thuật ngữ “chủ
nghĩa cá nhân” xuất hiện nhiều trong những nghị luận của người Việt. Năm 1917,
Phạm Quỳnh đã có một số bài viết mang tính phê phán mặt trái của thứ chủ nghĩa
này. Trong bài viết “Nghĩa gia tộc” (1917), ông đưa ra cách giải thích khá tiêu
cực về chủ nghĩa cá nhân: “(...) cái gia tộc ở các xã hội Âu châu đương qua một
bước nguy cơ, đương phải chống đối với cái phong trào mới thời nay. Mà cái
phong trào thời nay thì chỉ vụ sự lợi lộc, sự sung sướng của từng người, lấy
cái nhân thân một người làm trung tâm thế giới. Gọi cái “cá nhân chủ nghĩa” (individualisme)
là thế” [12, tr.92]. Còn trong bài “Nghĩa vụ là gì?” (1917), ông viết: “Các
nước Âu châu xướng ra nhân quyền, lại xướng ra dân quyền, làm kinh thiên động
địa vì hai chữ quyền lợi (...). Ai cũng có quyền lợi cả, mà duy có cái quyền
tối yếu là cái quyền quyết định mọi sự cạnh tranh thì không thuộc về ai. Bởi
vậy mà trong lịch sử châu Âu đã từng lắm phen biến loạn cải cách, gây nên cái
phong tục tự do bình đẳng ngày nay. Nhưng người Âu châu giàu tính tự trị, tập
thói tự do đã lâu đời, nên đã khởi ra mới có thể đương được cái phong trào ấy.
Thế mà lắm khi nó mạnh quá cũng còn sinh ra nhiều sự nguy hiểm cho xã hội” [13,
tr.217-218]. Qua những diễn giải của Phạm Quỳnh, có thể thấy, ông không hoàn
toàn phủ nhận chủ nghĩa cá nhân phương Tây, mà còn khẳng định nó có những điểm
tích cực. Nhưng, Phạm Quỳnh cũng nhấn mạnh nhiều hơn đến những tác hại của chủ
nghĩa đó khi ông nhìn nó chủ yếu từ khía cạnh vị lợi. Phạm Quỳnh không phủ nhận
cái gọi là chủ nghĩa cá nhân, nhưng ông phủ nhận việc lấy nó làm phương châm
sống. Vì vậy, ông đã chủ trương “chủ nghĩa gia tộc” để làm đối trọng với “chủ
nghĩa cá nhân”, lấy nghĩa vụ làm cái ưu tiên so với quyền lợi. Điều đó cũng cho
thấy, ý thức về cá nhân theo kiểu phương Tây không dễ dàng có được sự hòa nhập
vào trong nền văn hóa Việt Nam.
Có thể nói, những năm 20 của thế kỷ XX là thời điểm
bùng nổ thực sự của ý thức giải phóng cá nhân ở Việt Nam. Vấn đề con người cá
nhân và giải phóng cá nhân đã thực sự được đặt ra một cách đầy nhiệt huyết bởi
những nhân vật nổi bật của thời kỳ lịch sử này, chẳng hạn Nguyễn An Ninh, Trần
Hữu Độ hay Phan Khôi. Với bài diễn thuyết Lý tưởng của Thanh niên An
Nam năm 1923, Nguyễn An Ninh được xem như “người trí thức Việt Nam đầu
tiên đề cập đến quan niệm phương Tây về bản ngã một cách nồng nhiệt” [3,
tr.777]. Cách nhìn nhận về cá nhân theo hướng tích cực như vậy rõ ràng khác
biệt so với cách nhìn của Phạm Quỳnh ở thập niên trước đó. Nguyễn An Ninh đặc
biệt nhấn mạnh vào vấn đề tự do cá nhân và việc xây dựng lý tưởng sống của cá
nhân. Tự do trong cách hiểu của ông là thứ tự do về tinh thần, tư tưởng, là cái
mà mỗi người đều có mà không cần đợi chờ sự ban phát, nó không lệ thuộc vào địa
vị, đẳng cấp xã hội: “Tự do không phải là một vật gì mà ta có thể chuyền tay,
có thể cho hay bán. Ai cũng có thể có tự do được. Người nào đã sinh ra tự do,
thì dù có bị bắt làm nô lệ họ cũng sống tự do. Ngược lại, một người đã sinh ra
nô lệ, thì dù ngồi trên ngai vàng họ cũng là tên nô lệ” [10, tr.66]. Nếu như
Phạm Quỳnh cố gắng níu giữ chủ nghĩa gia tộc làm điểm tựa cho xã hội, thì
Nguyễn An Ninh lại đặt vấn đề thoát khỏi sự ràng buộc của gia đình và xã hội:
“Phải tranh đấu với môi trường sống của mình, với gia đình đang làm tê liệt
những cố gắng của chúng ta, chống lại cái xã hội tầm thường đang đè nặng lên
ta, chống lại những thành kiến hẹp hòi đang bủa vây quanh hành động của chúng
ta, chống lại những tư tưởng bạc nhược, hèn hạ, thấp kém đến nhục nhã, cứ ngày
càng hạ thấp vị trí của nòi giống chúng ta (...) các bạn trẻ, chúng ta phải bỏ
nhà cha mẹ ra đi, phải xa lánh gia đình, thoát khỏi cái xã hội chúng ta ngày
nay và lìa xa xứ sở” [10, tr.76]. Đối với ông, việc khám phá bản thân, làm chủ
bản thân và khẳng định bản thân là việc cần làm trước hết đối với mỗi người
Việt Nam trẻ tuổi. Rõ ràng, ở Nguyễn An Ninh, mỗi cá nhân là một phần tử tự do,
có ý thức về bản ngã của mình, nó không còn là một phần tử phải lệ thuộc vào xã
hội, mà nó là và phải là một phần tử có ý nghĩa với xã hội.
Trần Hữu Độ - một người có quan điểm cấp tiến khác,
trong khoảng những năm 1923 – 1928, đã tiếp thu triệt để những ý niệm về quyền
lợi, về tự do của văn hóa phương Tây. Những tác phẩm của ông, như Hồi
trống tự do (1923), Tiếng chuông tri hồn (1925), Hồn
độc lập (1926), Thần quyền lợi (1927), Thanh
niên tu độc (1928) như những lời thúc giục người Việt Nam cần thay đổi
cách nhìn của mình về ý nghĩa của cá nhân. Nếu Phạm Quỳnh còn cố gắng níu giữ
cách nhìn duy đạo đức của Nho giáo, khi nhấn mạnh nghĩa vụ phải đi trước quyền
lợi, thì Trần Hữu Độ đã chuyển hẳn sang cách nhìn duy quyền lợi của phương Tây:
“Còn phần riêng của từng người, bất cần là: sĩ, nông, công, thương, nam, nữ,
mỗi người đều phải cầm chắc cái tư tưởng quyền lợi là món thứ nhứt. Quốc dân bị
chính phủ đè ép quyền lợi thì phải nổi lên mà tranh. Chính phủ thấy dân biết
tranh quyền lợi thì nhượng” [6, tr.18]. Với quan niệm như vậy, ông bảo vệ việc
con người theo đuổi những lợi ích cá nhân của mình: “Lợi kỷ nghĩa là lo lợi cho
mình. Cái tiếng nói lo cho mình lợi cho mình, mới nghe qua thì ai cũng ghét,
cũng khinh, cũng bỉ; song xét lại cho kỹ thì đáng kính, đáng phục lắm” [5,
tr.9]. Mặc dù vậy, Trần Hữu Độ không đem cá nhân đối lập với xã hội. Đối với
ông, ý thức về quyền lợi cá nhân chính là cơ sở cho ý thức về quyền lợi của
cộng đồng. Mỗi cá nhân cần phải biết được quyền lợi của mình, nhưng lại cũng
cần hy sinh quyền lợi của bản thân cho quyền lợi của toàn thể xã hội: “Cái
nghĩa vụ của cá nhơn mà đối với xã hội, thì phải bỏ cái hạnh phúc của cá nhơn
đi mà lo bảo toàn cái hạnh phúc của xã hội” [5, tr.16].
Trong khi đó, Phan Khôi có lẽ là người đầu tiên đã
bàn đến chủ nghĩa cá nhân ở góc độ lý luận khi đã đưa ra một định nghĩa, một
cách hiểu về chủ nghĩa cá nhân theo nghĩa tích cực của nó. Quan niệm về chủ
nghĩa cá nhân được ông trình bày trong bài viết Tư tưởng của Tây phương
và Đông phương năm 1928, ở đó, ông đã nhắc đến khái niệm “chủ nghĩa cá
nhân” và xem nó như một đặc trưng của văn hóa phương Tây: “Chữ tự chủ ở đây
nghĩa là mỗi người làm chủ lấy mình, cũng tức là cá nhân chủ nghĩa. Ở phương
Tây, nói rằng “một người”, nghĩa là đối với thế giới, đối với quốc gia mà nói,
chớ không phải phiếm nhiên. Đã gọi là người, thì người nào cũng vậy, ai ai cũng
có cái địa vị cái tư cách đối với thế giới đối với quốc gia, thật như ta thường
nói “đội trời đạp đất ở đời”. Như vậy, người nào tự chủ lấy người ấy, không ai
thuộc về ai cả” [8, tr.105]. Trong bài viết Cá nhơn chủ
nghĩa (1931), Phan Khôi định nghĩa: “Cá nhân chủ nghĩa là hết thảy
người trong nước, mỗi người đều độc lập về phần mình; mà độc lập cả hai đường:
Về tinh thần và về vật chất vậy. Độc lập về tinh thần, tức là mỗi người đều
biết tự suy nghĩ lấy, tự phán đoán lấy, nhắm lẽ phải ở đâu thì theo đó, chớ
không làm nô lệ cho ý kiến của người nào hay đảng phái nào. Độc lập về vật chất
tức là độc lập về kinh tế, mỗi người đều làm lấy mà nuôi sự sống mình, chớ
không chịu nhờ vả ai, dầu con cũng không nhờ cha, vợ cũng không nhờ chồng” [9,
tr.252]. Tôn sùng chủ nghĩa cá nhân và xem nó như một phương châm sống, Phan
Khôi đã dựa vào nó để tiến hành sự phê phán mạnh mẽ hướng vào truyền thống Nho
giáo, vào ý thức lịch sử của nó cũng như hệ thống thang bậc xã hội mà nó tạo
nên (đặc biệt là quan niệm về tam cương) [xem: 11, tr.71-73]. Như vậy, với
quyết tâm muốn thoát khỏi cái bóng của ý thức hệ Nho giáo, Phan Khôi đã khép
lại những năm 1920 với sự khẳng định của chủ nghĩa cá nhân.
Có thể thấy, nếu như Nguyễn An Ninh nhấn mạnh đến
vấn đề tự do và lý tưởng sống của mỗi cá nhân, Trần Hữu Độ nhấn mạnh đến vấn đề
quyền lợi, thì Phan Khôi lại đặc biệt chú trọng đến tính độc lập, tự chủ trong
tư duy của mỗi cá nhân. Mỗi người trong số họ lại khai thác những khía cạnh
khác nhau của vấn đề cá nhân, qua đó dự phần vào cuộc giải phóng cá nhân ở Việt
Nam những năm đầu thế kỷ XX. Đến đây, những trí thức Việt Nam không chỉ bàn về
vấn đề con người cá nhân, mà đã thực sự bàn đến chủ nghĩa cá nhân như là một
phương châm sống, một triết lý sống. Điểm chung ở cả ba ông so với thế hệ trước
đó là, họ đã hướng đến giải phóng cá nhân trước khi hướng đến một sự giải phóng
sâu rộng về phương diện chính trị, xã hội. Tất nhiên, điều đó hoàn toàn không
ngăn cản họ thể hiện sự quan tâm của mình đến lĩnh vực sau. Sự quan tâm đến cá
nhân không hề làm suy giảm sự nhiệt tình của họ đối với vấn đề xã hội. Đối với
các ông, ý thức cá nhân gắn chặt với ý thức về trách nhiệm, và giải phóng cá
nhân là bước đầu tiên, trước khi tiến thêm một bước vào công cuộc giải phóng xã
hội.
Sự xáo trộn của những năm 1920 nhanh chóng dẫn đến
hiện tượng bùng vỡ của ý thức cá nhân ở thập niên tiếp theo. Thế hệ trí thức
những năm 1930 đã đẩy ý thức về con người cá nhân và sự phản kháng thiết chế
gia đình, xã hội truyền thống lên đỉnh điểm, ở đó, khái niệm “cá nhân” trở
thành một thứ định danh của thời đại. Sự hiện diện của ý thức về con người cá
nhân và chủ nghĩa cá nhân trong thập niên 20 của thế kỷ XX đã chuyển thành một
thứ phương châm, tôn chỉ cho hoạt động sáng tạo văn học của một thế hệ trí thức
thời kỳ này. Nhóm Tự lực văn đoàn có thể xem là đại diện cho
thế hệ trí thức này. Với họ, “trọng tự do cá nhân” chính là một trong mười tôn
chỉ hoạt động [ Xem: 18, tr.2]. Sau này, trong tác phẩm Mười điều tâm
niệm năm 1939 của Hoàng Đạo, một yếu nhân của Tự lực văn đoàn,
vấn đề khẳng định, đề cao con người cá nhân đã được nhắc lại một cách dứt
khoát. Hoàng Đạo đã phê phán tất cả những gì ràng buộc con người, cả ở bề
ngang, với những tôn ty trật tự trong xã hội và ở chiều dọc, với những uy quyền
từ quá khứ. Ông cũng phê phán sự lưỡng lự của những người trí thức Việt Nam
trong những thập niên trước, những người một mặt thừa nhận tính tích cực của
chủ nghĩa cá nhân, song mặt khác lại cố gắng níu kéo những trật tự cũ với niềm
tin vào sự “trung dung”: “Họ [những người thuộc phái điều hòa – TG.] muốn thu
thập chủ nghĩa cá nhân Tây phương, vì họ nghĩ một cách xác đáng rằng cá nhân có
phát triển được tài năng, tiến hóa mới chóng thấy. Nhưng họ muốn giữ lại cái
chế độ đại gia đình, và trong đại gia đình, điều cốt yếu là chủ nghĩa phục tòng
(...). Sự lưỡng lự ấy không đưa họ đến một kết quả nào cả” [4, tr.19]. Có thể
nói, tiếp nối tinh thần của thập niên 1920, Tự lực văn đoàn của
thập niên 1930 đã đứng hẳn về phía chủ nghĩa cá nhân, bênh vực và khẳng định vị
trí, sức mạnh của con người cá nhân. Hình ảnh con người cá nhân, với họ, là
hình ảnh của thời đại: “Thời đại này không phải là thời đại của đại gia đình và
của quỷ thần. Đời nay là đời của người sống, đời của cá nhân hay
nói cao hơn một bậc nữa, là đời của đoàn thể, đoàn thể hiểu
theo nghĩa rộng. Cá nhân đương giải phóng, cá nhân đương
thoát ly những chế độ nó buộc lùa người ta đi vào con đường nhỏ, hẹp, bùn lầy”
[4, tr.40]. Trên tinh thần đó, hình ảnh con người phản kháng, con người tự định
đoạt số phận trở thành trung tâm của nhiều tác phẩm văn học của Tự lực
văn đoàn. Con người hiện lên trong nhiều tác phẩm của họ là con người đang
vùng dậy phá vỡ mọi quy phạm, mọi sự định đoạt từ những gì nhân danh gia đình,
truyền thống, với khát vọng chỉ sống một cuộc đời cho nó, vì nó.
Khi con người cá nhân được
nhìn nhận trong vị thế biệt lập, không nhân danh ai ngoài chính bản thân mình,
cũng không còn chịu sự lệ thuộc vào những quy phạm của xã hội và lịch sử, thì
cũng là lúc nó được ném trả lại một khoảng không gian cho riêng mình. Đây cũng
là mảnh đất để một dòng mạch khác về ý thức cá nhân được nảy nở. Cùng với thứ
chủ nghĩa cá nhân đầy hào sảng, khẳng định cái cá nhân để hướng ra xã hội với
niềm tin sâu sắc vào khả năng tham gia cải biến xã hội, thì ở thập niên 30 của
thế kỷ XX, cũng tồn tại một thứ ý thức cá nhân không ngừng hướng vào nội tâm,
khám phá thế giới bên trong của mỗi con người, điều này đặc biệt được thể hiện
rõ trong lĩnh vực thơ ca. Đó chính là cái mà Hoài Thanh gọi là tinh thần của
Thơ Mới: “Chữ ta với họ to rộng quá. Tâm hồn của họ chỉ vừa thu trong khuôn khổ
chữ tôi. Đừng có tìm ở họ cái khí phách ngang tàng của một thi hào đời xưa như
Lý Thái Bạch, trong trời đất chỉ biết có thơ. Đến chút lòng tự trọng cần để
khinh cảnh cơ hàn, họ cũng không có nữa (...) Đời chúng ta nằm trong vòng chữ
tôi. Mất bề rộng ta đi tìm bề sâu. Nhưng càng đi sâu càng lạnh” [14, tr.63].
Khi mà người trí thức Việt Nam những năm 1930 sử dụng những khái niệm “cá nhân”
(Hoàng Đạo) hay “cái tôi” (Hoài Thanh) để định nghĩa cho thời đại của mình, thì
rõ ràng, ý thức về con người cá nhân đã không còn là câu chuyện của một vài nhà
trí thức hay nhóm trí thức, mà nó đã trở thành ý thức chung của một thế hệ trí
thức.
4. Kết luận
Nếu như vào cuối thế kỷ XIX, trong cuốn Đại
Nam quấc âm tự vị (1895) của Huình Tịnh Paulus Của hoàn toàn chưa có
mục từ “cá nhân”, chứ chưa nói đến mục từ “chủ nghĩa cá nhân”, thì đến những
năm 30 của thế kỷ XX, mục từ này đã xuất hiện trong một số cuốn từ điển
như Việt Nam tự điển (1931) của Hội Khai Trí Tiến Đức
hay Giản yếu Hán Việt từ điển (1932) của Đào Duy Anh, với định
nghĩa ngày càng rõ ràng hơn(*). Như vậy, sau khoảng bốn thập niên,
người Việt Nam đã tiến một bước dài trên con đường đi tìm, khẳng định và giải
phóng ý thức về con người cá nhân. Không như những gì mà Phạm Quỳnh lo ngại hồi
đầu thế kỷ, ý thức về cá nhân của người Việt Nam những thập niên sau đó đã
không hoàn toàn rơi vào thái cực “vụ sự lợi lộc, sự sung sướng của từng người,
lấy cái nhân thân một người làm trung tâm thế giới”, mà trái lại, nó hoặc trở
thành động lực cho một thái độ sống tích cực, dấn thân, hoặc trở thành cơ sở
cho một quá trình khai phá chiều sâu nội tâm con người, mà cả hai gặp nhau ở sự
khẳng định giá trị của cá nhân hơn là khẳng định lợi ích vị kỷ của cá nhân hay
sự ly khai của cá nhân khỏi xã hội. Những ý tưởng về tự do, quyền lợi của người
Việt Nam đầu thế kỷ XX vừa là kết quả của quá trình phương Tây hóa về mặt tư
tưởng, lại vừa là kết quả của quá trình chống phương Tây hóa/thực dân hóa về
mặt chính trị, vì vậy, trên thực tế, nó đã trở thành chỗ dựa cho người Việt
trong quá trình tự đổi mới, tự giải phóng ý thức bản thân. Với ý nghĩa đó, sự
thức tỉnh của ý thức về con người cá nhân trong giai đoạn lịch sử này đánh dấu
bước chuyển sâu sắc trong nhân sinh quan của người Việt, đồng thời cũng mở ra
những khả năng mới cho công cuộc giải thực dân hóa đang diễn ra ở Việt Nam lúc
bấy giờ.
Tài liệu tham khảo:
[1] Alain Laurent
(1999), Lịch sử cá nhân luận, Phan Ngọc dịch, Nxb Thế giới, Hà Nội.
[2] Đào Duy Anh (1932), Giản yếu Hán Việt từ điển, quyển Thượng,
Imprimerie Tieng Dan, Huế.
[3] David G. Marr (2000), “Concepts of ”Individual” and ”Self” in Twentieth -
Century Vietnam”, Modern Asian Studies, Vol.34, No.4, 2000, pp.769-796.
[4] Hoàng Đạo, Mười điều tâm niệm, Nxb Xuân Thu, Los Alamitos CA, U.S.A.
[5] Trần Hữu Độ (1926), Hồi trống tự do, Tự do tòng thơ, Imprimerie Du
Centre, Saigon.
[6] Trần Hữu Độ (1927), Thần quyền lợi, Tự do tòng thơ, Imprimerie Bảo
tồn, Saigon.(*)
[7] Hội Khai Trí Tiến Đức khởi thảo (1954), Việt Nam tự điển, Văn mới, Sài
Gòn – Hà Nội.
[8] Phan Khôi (2003), Tác phẩm đăng báo 1928, Nxb Đà Nẵng, Đà Nẵng.
[9] Phan Khôi (2007), Tác phẩm đăng báo 1931, Nxb Hội nhà văn, Hà Nội.
[10] Nguyễn An Ninh (2009), Tác phẩm, Nxb Văn học, Hà Nội.
[11] Hoàng Minh Quân (2016), Sự phê phán Nho giáo của Phan Khôi – Một bước đi
mới trong tiến trình phê phán Nho giáo ở Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX, Tạp
chí Triết học, số 8, tr.71-78.
[12] Phạm Quỳnh (1917), “Nghĩa gia tộc”, Nam Phong, số 2, quyển I.
[13] Phạm Quỳnh (1917), “Nghĩa vụ là gì?”, Nam Phong, số 4, quyển I.
[14] Hoài Thanh – Hoài Chân (2004), Thi nhân Việt Nam, Nxb Văn học, Hà
Nội.
[15] Lương Đức Thiệp (2016), Xã hội Việt Nam từ sơ sử đến cận đại, Nxb Tri
thức, Hà Nội.
[16] Phan Châu Trinh (2005), Toàn tập, t.3, Nxb Đà Nẵng, Đà Nẵng.
[17] Trung tâm Khoa học Xã hội và Nhân văn Quốc gia – Viện Nghiên cứu Hán Nôm
(2004), Ngữ văn Hán Nôm, t.1 (Tứ thư), Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội.
[18] Tự lực văn đoàn (1934), “Tự lực văn đoàn”, Phong Hóa, số 87, tr.2