Di cư lao động của người Thái tại xã Na Mèo, tỉnh Thanh Hóa
29/06/2026
Thực hiện nhiệm vụ khoa học cấp cơ sở năm 2026 về “Di cư lao động của người Thái tại xã Na Mèo, tỉnh Thanh Hóa”, vừa qua, đoàn công tác của Viện Dân tộc học và Tôn giáo học tiến hành khảo sát thực địa tại xã Na Mèo, tỉnh Thanh Hóa nhằm tìm hiểu thực trạng, đặc điểm và những vấn đề đặt ra trong quá trình di cư lao động của đồng bào dân tộc Thái trên địa bàn.
Trong khuôn khổ chuyến công tác, đoàn nghiên cứu làm việc, trao đổi với lãnh đạo Văn phòng UBND xã, Phòng Văn hóa - Xã hội xã Na Mèo cùng trưởng bản Na Mèo nhằm thu thập thông tin thứ cấp về tình hình di cư lao động của người dân địa phương. Na Mèo là xã vùng III, biên giới của tỉnh Thanh Hóa, có 28,17 km đường biên giới tiếp giáp với huyện Viêng Xay, tỉnh Hủa Phăn (CHDCND Lào), giữ vị trí quan trọng về quốc phòng, an ninh và giao lưu kinh tế – văn hóa khu vực biên giới. Xã có diện tích tự nhiên khoảng 12.744 ha, gồm 09 bản với 936 hộ và 4.052 nhân khẩu. Đây là địa bàn cư trú của 04 dân tộc gồm Thái, Mông, Mường và Kinh. Đồng bào dân tộc thiểu số chiếm tỷ lệ lớn trong cơ cấu dân số của xã, trong đó người Thái là nhóm chiếm đa số, giữ vai trò chủ thể trong đời sống kinh tế, xã hội và văn hóa. Mặc dù những năm gần đây, đời sống của người dân xã Na Mèo có nhiều chuyển biến tích cực nhưng đây vẫn là địa bàn còn nhiều khó khăn. Sinh kế của người dân chủ yếu dựa vào sản xuất nông - lâm nghiệp quy mô nhỏ, đặc biệt là khai thác lâm sản phụ; điều kiện hạ tầng chưa đồng bộ; tỷ lệ hộ nghèo và cận nghèo ở mức cao, với 46 hộ nghèo (chiếm 5,07%) và 350 hộ cận nghèo (chiếm 38,55%). Những đặc điểm về vị trí địa lý, cơ cấu dân cư và điều kiện kinh tế - xã hội nêu trên đã và đang tác động đáng kể đến xu hướng dịch chuyển lao động của người dân địa phương, đặc biệt là lực lượng lao động trẻ người Thái.
Nội dung khảo sát tập trung làm rõ các vấn đề như: thực trạng di cư lao động của người Thái trong những năm gần đây; đặc điểm của các nhóm lao động di cư về độ tuổi, giới tính, trình độ học vấn và nghề nghiệp; các hình thức di cư phổ biến (di cư thời vụ, di cư dài hạn, lao động trong nước và lao động ngoài tỉnh); nguyên nhân thúc đẩy quá trình di cư; đồng thời phân tích những tác động của di cư lao động đối với kinh tế hộ gia đình, đời sống văn hóa, quan hệ xã hội và việc duy trì các giá trị truyền thống của cộng đồng người Thái tại địa phương.
Điểm nghiên cứu sâu là bản Na Mèo, một trong những bản có quy mô dân số lớn của xã. Hiện nay, bản có 296 hộ dân, nằm dọc theo tuyến Quốc lộ 217 dẫn lên Cửa khẩu Quốc tế Na Mèo, cách trung tâm xã khoảng 9 km. Đây là địa bàn sinh sống của cộng đồng người Thái, Kinh, Mông. Nhờ vị trí thuận lợi về giao thông và giao lưu biên giới, người dân trong bản có điều kiện tiếp cận sớm hơn với các cơ hội việc làm ngoài địa phương. Tuy nhiên, trong bối cảnh sinh kế truyền thống chủ yếu dựa vào sản xuất nông - lâm nghiệp, xu hướng lao động trẻ rời quê đi làm ăn xa ngày càng trở nên phổ biến, khiến bản Na Mèo trở thành địa bàn điển hình để nghiên cứu những tác động kinh tế, xã hội và văn hóa của quá trình di cư lao động đối với cộng đồng người Thái hiện nay.
Bằng việc kết hợp các phương pháp nghiên cứu như phỏng vấn sâu, thảo luận nhóm, quan sát tham dự và khảo sát hộ gia đình, đoàn nghiên cứu đã thu thập được nhiều tư liệu phản ánh bức tranh đa chiều về di cư lao động của người Thái ở bản Na Mèo, xã Na Mèo. Kết quả khảo sát bước đầu cho thấy, trong bối cảnh sinh kế tại chỗ còn phụ thuộc chủ yếu vào sản xuất nông - lâm nghiệp quy mô nhỏ, di cư lao động đang trở thành một chiến lược thích ứng và cải thiện sinh kế quan trọng của nhiều hộ gia đình người Thái. Việc tham gia vào thị trường lao động ngoài địa phương không chỉ giúp người lao động có cơ hội tiếp cận việc làm ổn định và mức thu nhập cao hơn mà còn tạo ra nguồn lực tài chính đáng kể hỗ trợ gia đình ở quê nhà.
Đoàn nghiên cứu thực hiện thảo luận nhóm với cán bộ thôn Na Mèo, xã Na Mèo
Kết quả nghiên cứu cho thấy, nguồn tiền do lao động di cư gửi về góp phần nâng cao mức sống của các hộ gia đình, cải thiện điều kiện nhà ở, đầu tư cho giáo dục của con em, chăm sóc sức khỏe, mua sắm tư liệu sản xuất và mở rộng các hoạt động sinh kế. Đối với nhiều hộ dân, đặc biệt là các hộ có hoàn cảnh khó khăn, thu nhập từ di cư lao động đã trở thành nguồn thu chủ lực, giúp giảm bớt áp lực kinh tế, hạn chế nguy cơ tái nghèo và tạo điều kiện từng bước vươn lên ổn định cuộc sống. Trên phương diện rộng hơn, di cư lao động không chỉ góp phần giải quyết việc làm, giảm áp lực dư thừa lao động tại địa phương mà còn trở thành một trong những động lực quan trọng thúc đẩy quá trình giảm nghèo và phát triển kinh tế - xã hội ở khu vực miền núi, biên giới như xã Na Mèo hiện nay.
Tuy nhiên, bên cạnh những tác động tích cực về kinh tế, quá trình di cư lao động cũng đặt ra không ít thách thức đối với đời sống gia đình và cộng đồng người Thái tại địa phương. Việc một bộ phận lao động trẻ rời quê đi làm ăn xa trong thời gian dài đã làm thay đổi cấu trúc và chức năng của gia đình truyền thống, gia tăng gánh nặng chăm sóc con cái và người cao tuổi đối với những thành viên ở lại. Qua trao đổi với cán bộ địa phương và người dân, nghiên cứu bước đầu ghi nhận xu hướng gia tăng các mâu thuẫn gia đình và tình trạng ly hôn trong những năm gần đây. Tại điểm nghiên cứu sâu là bản Na Mèo, một số trường hợp ly hôn đã và đang kéo theo những hệ lụy đáng quan tâm liên quan đến việc nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục trẻ em. Bên cạnh đó, sự vắng mặt kéo dài của một bộ phận thanh niên trong độ tuổi lao động cũng ảnh hưởng đáng kể đến đời sống cộng đồng và hiệu quả triển khai một số nhiệm vụ ở cơ sở. Theo phản ánh của cán bộ địa phương, việc nhiều lao động trẻ đi làm ăn xa khiến công tác tập hợp, vận động đoàn viên thanh niên gặp không ít khó khăn; tỷ lệ tham gia các hoạt động cộng đồng và phong trào tại bản có xu hướng giảm. Trong điều kiện là một xã biên giới, tình trạng thiếu hụt lực lượng thanh niên tại chỗ cũng ảnh hưởng nhất định đến việc huy động nhân dân tham gia phối hợp tuần tra, bảo vệ đường biên, cột mốc và thực hiện phong trào toàn dân tham gia bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, an ninh biên giới quốc gia. Đồng thời, việc thiếu vắng lớp trẻ trong các sinh hoạt cộng đồng cũng làm suy giảm cơ hội trao truyền tri thức địa phương, thực hành văn hóa truyền thống và duy trì các mối liên kết xã hội vốn là nền tảng của cộng đồng người Thái.
Trương Văn Cường, Nguyễn Thành Trung
Nguồn bài viết: Viện Dân tộc học và Tôn giáo học