Chúa Nguyễn với việc đảm bảo an ninh và phát triển kinh tế vùng biên giới phía Tây Đàng Trong thế kỷ XVII - XVIII
Từ góc độ lịch sử, kinh nghiệm của các chúa Nguyễn trong việc kết hợp giữa đảm bảo an ninh và phát triển kinh tế ở vùng biên giới phía Tây cung cấp những gợi mở có giá trị cho việc hoạch định chính sách phát triển bền vững vùng biên giới trong bối cảnh hiện nay. Đó là yêu cầu phải gắn kết chặt chẽ giữa phát triển kinh tế với ổn định xã hội, tôn trọng đặc điểm văn hóa - dân tộc của cư dân địa phương, đồng thời xây dựng một cơ chế quản lý linh hoạt nhưng hiệu quả nhằm bảo vệ vững chắc chủ quyền quốc gia.

Trong tiến trình mở rộng không gian sinh tồn về phía Nam và phía Tây từ thế kỷ XVI đến XVIII, chính quyền các chúa Nguyễn ở Đàng Trong không chỉ đối diện với thách thức từ các thế lực chính trị bên ngoài mà còn phải giải quyết những vấn đề nội tại của một vùng biên viễn rộng lớn, đa tộc người và còn nhiều yếu tố bất ổn. Vùng biên giới phía Tây - trải dài từ khu vực Thuận Hóa, Quảng Nam đến Nam Bộ - không chỉ là địa bàn chiến lược về quân sự mà còn là không gian kinh tế giàu tiềm năng, giữ vai trò quan trọng trong mạng lưới trao đổi nội địa và khu vực.

Trong bối cảnh đó, việc đảm bảo an ninh gắn với phát triển kinh tế ở khu vực biên giới trở thành một yêu cầu cấp thiết đối với chính quyền Đàng Trong. Thực tiễn lịch sử cho thấy, các chúa Nguyễn đã triển khai một hệ thống chính sách tương đối toàn diện, bao gồm khẩn hoang, tổ chức lại dân cư, khai thác tài nguyên, thiết lập bộ máy quản lý vùng cao, kiểm soát các tuyến đầu nguồn, đồng thời xây dựng quan hệ ngoại giao mềm dẻo với các quốc gia lân cận. Những chính sách này không chỉ góp phần ổn định xã hội, thúc đẩy kinh tế mà còn tạo nền tảng cho việc củng cố chủ quyền và mở rộng lãnh thổ.

Bài viết tập trung phân tích các chính sách đảm bảo an ninh và phát triển kinh tế ở vùng biên giới phía Tây Đàng Trong dưới thời các chúa Nguyễn trong thế kỷ XVII-XVIII, qua đó làm rõ cách thức mà chính quyền Đàng Trong quản lý một không gian biên viễn hết sức phức tạp này.

1. Chính sách khẩn hoang - phát triển kinh tế và ổn định đời sống dân cư

Ngay từ khi vào trấn thủ Thuận Hóa (1558), các chúa Nguyễn đã phải đối diện với một không gian cai trị đầy thách thức. Đây vốn là vùng đất từng được xem là “ô châu ác địa”, nơi lưu đày tội nhân, binh lính thất trận và các thành phần “bất trị” của xã hội phong kiến. Dưới thời Lê sơ, mặc dù đã thiết lập bộ máy quản lý với chế độ Tam ty gồm Đô ty, Thừa ty, Hiến ty, song thực tế cho thấy hiệu lực quản lý còn hạn chế: “dân vẫn chưa một lòng” [1], nhiều cuộc nổi dậy địa phương diễn ra, việc thu thuế chủ yếu dựa vào tính tự nguyện do chính quyền chưa kiểm soát được đầy đủ nhân khẩu. Trong bối cảnh đó, việc cai trị vùng Thuận Hóa trở thành một nhiệm vụ đặc biệt khó khăn, đòi hỏi những biện pháp linh hoạt và hiệu quả. Nhận thức rõ tính chất chiến lược của vùng đất này, khi cử Nguyễn Hoàng vào trấn thủ, Trịnh Kiểm đã nhấn mạnh: "Thuận Hóa là nơi quan trọng, quân và của do đấy mà ra, buổi quốc sơ nhờ đấy mà nên nghiệp lớn. Nay lòng dân hãy còn tráo trở, nhiều kẻ vượt biển đi theo họ Mạc, sợ có kẻ dẫn giặc về cướp, ví không được tướng tài trấn thủ vỗ yên thì không thể xong. Đoan quận công là con nhà tướng, có tài trí mưu lược, có thể sai đi trấn ở đấy" [2].

Trên thực tế, Nguyễn Hoàng đã triển khai một chính sách cai trị mềm dẻo, lấy việc ổn định dân cư và phát triển kinh tế làm nền tảng cho an ninh lâu dài. Ông “vỗ về quân dân, thu dùng hào kiệt, sưu thuế nhẹ nhàng”, từ đó tạo dựng được sự ủng hộ rộng rãi của cư dân địa phương.

Một trong những trọng tâm của chính sách này là khuyến khích khẩn hoang nhằm giải quyết đồng thời hai vấn đề: gia tăng dân số quản lý được và khai thác tiềm năng kinh tế của vùng đất mới. Trong bối cảnh dân cư Đàng Trong ngày càng gia tăng do các đợt di cư từ phía Bắc và sự dịch chuyển của cư dân Chăm lên vùng cao, các chúa Nguyễn đã tận dụng nguồn nhân lực từ binh lính, dân lưu tán và cư dân bản địa để mở rộng diện tích canh tác. Chính quyền ban hành những quy định khuyến khích rõ ràng, đặc biệt là công nhận quyền sở hữu tư nhân đối với đất khai hoang: “Nếu có người khai khẩn rừng hoang mà cày thành ruộng thì cho trưng làm ruộng tư (bản bức tư điền), cho được cày mãi mà nộp thuế riêng” [3]. Đồng thời ở các khu vực miền núi như châu Bắc Bố Chính là vùng đất ven rừng, chính sách thuế khóa cũng được nới lỏng đáng kể nhằm thu hút dân cư: “dân đinh cứ 12 tuổi thì chịu việc quan, 20 tuổi là lão, đinh điền không phải nộp phú thuế, không khai hộ tịch” [4].

Đối với vùng Nam Bộ - một khu vực rộng lớn nhưng còn hoang hóa, sình lầy trước khi được khai phá - các chúa Nguyễn tiếp tục áp dụng chính sách linh hoạt, đặt trọng tâm vào việc “mộ dân lập ấp”. Chính quyền cho phép điều chỉnh linh hoạt địa giới đất đai giữa các dinh trấn: "có khi đất ở hạt Phiên Trấn mà cho trưng lầm đất của dân Trấn Biên, do khi đất của hạt Trấn Biên mà cho trưng làm đất của dân Phiên Trấn, nghe theo ý muốn của dân, không bó buộc gì, cốt cho mở đất vỡ hoang thành ruộng lập xã mà thôi" [5].

Nhờ đó, chỉ sau hai thế kỷ, vùng đất Đàng Trong đã có những biến đổi căn bản, từ một khu vực hoang vu trở thành nơi “đất đã mở mang, phong thổ nhân vật ngày một phồn thịnh, đồng ruộng rộng rãi các thứ lúa xanh tốt”, đời sống cư dân dần ổn định.

Bên cạnh việc khai khẩn đất đai, chính quyền chúa Nguyễn đặc biệt chú ý đến việc quản lý và tích hợp các cộng đồng cư dân bản địa ở vùng núi phía Tây - những nhóm người mà tư liệu phương Tây hay gọi là Kemoi,Rumoi, người Kinh gọi là người Mọi [6]. Đây là những cộng đồng quen sống tự do, do đó việc quản lý đòi hỏi sự kết hợp giữa mềm dẻo và kiểm soát. Các chúa Nguyễn cho phép họ tiếp tục sinh sống theo phong tục tập quán riêng, khai thác tài nguyên tại chỗ, đồng thời duy trì một cơ chế quản lý gián tiếp thông qua các thủ lĩnh địa phương theo mô hình từng được Bùi Tá Hán [7] áp dụng. Song song với đó là chính sách miễn giảm thuế, nhẹ hình phạt, tạo điều kiện để ổn định đời sống.

Một điểm đáng chú ý là chính quyền đã khéo léo lồng ghép các cộng đồng vùng cao vào mạng lưới kinh tế hàng hóa của toàn vùng. Các sản vật rừng như trầm hương, hồ tiêu, vàng, sáp ong… không chỉ là nguồn lợi kinh tế quan trọng mà còn trở thành hàng hóa có giá trị cao trong trao đổi với thương nhân nước ngoài. Đối với trầm hương"món hàng quý nhất có thể xuất từ xứ Đàng Trong ra các nước ngoài" [8], - chính quyền cho phép người dân tự do khai thác và buôn bán: “ai thích lấy bao nhiêu thì lấy”, “ai cũng có thể bán tùy thích”, chỉ một số loại đặc biệt mới do phủ chúa kiểm soát.

Bên cạnh đó, các chúa Nguyễn còn tổ chức lực lượng chuyên trách để thu mua và quản lý một số sản vật có giá trị cao. Ví dụ, việc thu mua hồ tiêu được thực hiện theo cơ chế định giá: mỗi gánh hồ tiêu được trả 5 tiền, sau đó vận chuyển về Thanh Hà để bán cho thương nhân ngoại quốc. Đối với vàng, chính quyền lập các “thuộc kim hộ”, miễn nghĩa vụ quân dịch cho những người tham gia khai thác. Những chính sách này vừa khuyến khích sản xuất, vừa đảm bảo nguồn thu cho nhà nước [9].

Một biện pháp khác để kích thích người dân địa phương tham gia vào guồng máy thương mại được các chúa Nguyễn áp dụng đó là thiết lập các nguồn với chức năng là các trung tâm mua bán hàng hóa. Các nguồn như Cơ Sa, An Đại, Kim Trà, Viên Kiều, Cảo Cảo… là nơi tập trung nhiều sản vật đặc trưng như ngà voi, trầm hương, mật ong, sáp ong, gỗ quý, lâm sản và thủ công phẩm. Đây cũng là không gian giao lưu kinh tế quan trọng, nơi cư dân miền xuôi mang muối, mắm, nông cụ, trâu bò lên trao đổi với cư dân vùng cao để lấy các sản vật rừng. Hoạt động trao đổi này không chỉ góp phần thúc đẩy kinh tế mà còn tăng cường sự gắn kết giữa các cộng đồng cư dân.

Song song với các biện pháp kinh tế, chính quyền chúa Nguyễn cũng quan tâm đến việc đảm bảo an ninh cho cư dân vùng biên, đặc biệt là các cộng đồng người Thượng. Khi xảy ra các vụ nổi loạn hoặc cướp bóc, chính quyền nhanh chóng can thiệp để trấn áp và bảo vệ dân cư. Chẳng hạn, năm 1571, trước tình trạng thổ mục nổi loạn ở Quảng Nam, chúa đã sai Mai Đình Dũng đem quân dẹp yên và ở lại trấn giữ [10]. Hay trong trường hợp các lái buôn như Linh Vương, Quảng Phú tổ chức cướp bóc ở vùng núi, người Man đã bắt được Quảng Phú nộp cho chúa, và chính quyền đã xử tử cùng đồng đảng, đồng thời ban thưởng cho dân Man [11]. Những hành động này không chỉ củng cố trật tự mà còn tạo dựng niềm tin của cư dân đối với chính quyền.

Nhờ sự kết hợp giữa chính sách khẩn hoang, khai thác tài nguyên, phát triển thương mại và ổn định xã hội, vùng biên giới phía Tây Đàng Trong trong khoảng hai thế kỷ đã đạt được trạng thái tương đối ổn định. Theo ghi nhận của các nguồn tư liệu, “xứ sở người Mọi bước vào thời kỳ hoàn toàn yên tĩnh” và “người An Nam và người Mọi sống tuyệt đối hòa hiếu” dưới thời các chúa Nguyễn. Điều này cho thấy hiệu quả của một mô hình quản lý linh hoạt, biết dung hòa giữa lợi ích kinh tế và yêu cầu an ninh trong bối cảnh một không gian biên viễn đa dạng và phức tạp.

2. Củng cố và từng bước thiết lập bộ máy chính quyền chặt chẽ ở vùng cao

Nếu như chính sách khẩn hoang và phát triển kinh tế tạo nền tảng vật chất - xã hội cho sự ổn định của vùng biên giới phía Tây, thì việc thiết lập và củng cố bộ máy quản lý hành chính lại là điều kiện quyết định để chuyển hóa không gian “ngoại vi” thành một bộ phận hữu cơ trong hệ thống quyền lực của chính quyền Đàng Trong. Quá trình này không diễn ra một cách áp đặt đồng loạt, mà được triển khai từng bước, linh hoạt, phù hợp với đặc điểm cư dân và trình độ kiểm soát của nhà nước ở từng khu vực.

Trên thực tế, khi mới vào trấn thủ Thuận Hóa, các chúa Nguyễn đã kế thừa một số mô hình quản lý vùng cao từ thời trước, tiêu biểu là thiết chế do Bùi Tá Hán thiết lập. Theo đó, chính quyền không trực tiếp can thiệp sâu vào đời sống của cư dân bản địa mà thông qua các thủ lĩnh địa phương để thực hiện việc quản lý. Một viên quan cai trị được đặt dưới quyền của trấn thủ, thường là thủ lĩnh thổ dân, với chức danh “giao dịch” để trông coi trong xứ. Dân cư được tổ chức thành các “nguyên” - đơn vị tương đương với cấp huyện ở miền xuôi - và có nghĩa vụ nộp cống vật hàng năm. Bốn nguyên chính gồm: Nguyên Dà Bông và Cù Bà trong huyện Bình Sơn; Nguyên Phù Bà trong huyện Chương Nghĩa; Nguyên Ba Tơ trong huyện Mộ Đức.

Đáng chú ý, bộ máy quản lý ở đây mang tính chất “lai ghép”, kết hợp giữa yếu tố bản địa và yếu tố nhà nước. Các chức danh như Cai quan và Côn quan được đặt ra theo tỷ lệ một cai quan và một côn quan cho mỗi nguyên (riêng nguyên Dà Bông có hai cai quan và hai côn quan do có quan hệ buôn bán quan trọng hơn). Nhiệm vụ của các viên quan này là thu thuế các thương bộ [12]. Đồng thời, một số người Thượng được cấp giấy phép để tham gia buôn bán ở vùng người An Nam. Hệ thống thuế khóa cũng được quy định cụ thể: tổng định suất là 1450 quan, cộng với 20 quan tiền thay cho việc cống quế, tổng cộng là 1470 quan [13]; ngoài ra không phải nộp thêm loại thuế nào khác. Cơ chế này cho thấy một đặc điểm quan trọng trong cách thức quản lý của chính quyền chúa Nguyễn: thay vì áp đặt trực tiếp một mô hình hành chính đồng nhất, nhà nước chấp nhận duy trì cấu trúc xã hội bản địa, đồng thời “lồng ghép” các yếu tố quản lý của mình vào đó. Điều này vừa giảm chi phí cai trị, vừa hạn chế xung đột với các cộng đồng cư dân vốn quen với lối sống tự trị.

   Sau khi Bùi Tá Hán qua đời, để quản lý dân Man[14] ở đầu nguồn, họ Nguyễn sai Lê Minh Đức làm Cổn quan trông nom các sách dân man, lấy dân trong nguồn làm lính, ngăn ngừa ác man, trưng thu thuế lệ, các dân miền xuôi muốn lên đầu nguồn mưu sống thì phải trình đội trưởng mới cho đi, hẹn kỳ về phải đến nộp thuế, không cho quá kỳ phạm cấm, để phòng sinh chuyện [15].Như vậy, vùng cao không còn là không gian “mở” hoàn toàn mà đã được đặt dưới sự giám sát có hệ thống của nhà nước.

Bước sang thế kỷ XVIII, khi điều kiện kinh tế - xã hội ổn định hơn và dân cư gia tăng, chính quyền Đàng Trong bắt đầu tiến hành một quá trình “chuẩn hóa hành chính” ở quy mô rộng lớn hơn. Năm 1726, chúa Nguyễn Phúc Chu sai Nguyễn Đăng Đệ đi tuần xét và định rõ chức lệ cho các thuộc mới lập. Theo đó, các đơn vị hành chính được tổ chức lại theo tiêu chí dân số và địa lý: “hễ những nơi gần núi ven biển thì lập làm thuộc… mỗi thuộc đều lấy thôn, phường, nậu, man lẻ tẻ họp lại…”. Hệ thống chức quan cũng được quy định cụ thể: nơi có trên 500 người đặt một Cai thuộc và một Ký thuộc; dưới 450 người đặt một Ký thuộc; dưới 100 người đặt một Tướng thần[16].Quy định này phản ánh một bước tiến quan trọng trong quá trình thể chế hóa quyền lực nhà nước ở vùng biên: từ mô hình quản lý gián tiếp dựa vào thủ lĩnh bản địa chuyển dần sang mô hình hành chính hóa với các chức danh do nhà nước bổ nhiệm. Tuy nhiên, sự chuyển đổi này vẫn mang tính linh hoạt, dựa trên quy mô dân cư và điều kiện cụ thể của từng địa phương, cho thấy sự thích ứng của chính quyền với thực tiễn đa dạng của vùng biên viễn.

Ở khu vực biên giới phía Tây Nam Bộ - nơi được sáp nhập muộn hơn và có tính chất phức tạp hơn về dân tộc và chính trị - các chúa Nguyễn đã áp dụng một mô hình quản lý mang tính quân sự - hành chính kết hợp, thông qua việc thành lập các “đạo”. Theo ghi chép trong Gia Định thành thông chí, sau khi lấy đất Tầm Phong Long, chính quyền đã lập các đạo như Tân Châu đạo, Châu Đốc đạo, Đông Khẩu đạo, Kiên Giang đạo, Long Xuyên đạo [17]… với nhiệm vụ vừa quản lý hành chính vừa đảm bảo an ninh. Các đạo này được bố trí lực lượng quân sự để “trấn áp, chẹn giữ những nơi yếu hại ở địa đầu” [18], qua đó hình thành một hệ thống phòng thủ biên giới tương đối vững chắc.

Vai trò của các đạo không chỉ là cơ quan điều hành, quản lý về mặt hành chính mà còn đảm nhiệm cả nhiệm vụ trị an, đảm bảo an ninh và bảo vệ cư dân vùng đất mới. Trường hợp năm 1748-1753, khi người Côn Man bị Chân Lạp đàn áp, chúa Nguyễn đã cử Nguyễn Cư Trinh tổ chức chiêu dụ, bảo vệ và đưa hơn ba vạn người về định cư ở vùng Bình Thanh, chân núi Bà Đinh[19]. Nhóm cư dân này không chỉ được bảo hộ mà còn trở thành lực lượng quan trọng trong việc khai phá và bảo vệ vùng biên giới. Điều này cho thấy chính quyền chúa Nguyễn đã sử dụng linh hoạt chính sách “di dân - định cư - quân sự hóa” như một công cụ để củng cố quyền kiểm soát lãnh thổ.

Như vậy, có thể thấy sự kết hợp linh hoạt giữa các phương thức quản lý này đã giúp chính quyền Đàng Trong không chỉ mở rộng phạm vi kiểm soát mà còn duy trì được trật tự ở một không gian biên viễn rộng lớn, đa dạng và tiềm ẩn nhiều yếu tố bất ổn.

3. Chính sách quản lý vùng đầu nguồn

Nếu như ở miền xuôi, các vùng cửa sông, cửa biển được xem là cửa ngõ đi vào vương phủ, thì ở miền núi các vùng đầu nguồn cũng được xem là cánh cửa bước vào vùng đất mới. Do đó, việc đảm bảo an ninh ở các vùng đầu nguồn cũng có ý nghĩa không kém so với việc giữ vững độc lập ở vùng trung tâm. Để đảm bảo an ninh, bên cạnh việc thiết lập một bộ máy quản lý hành chính nói chung, các chúa Nguyễn còn đặt các Tuần canh, các sở Tuần ty và các trạm kiểm soát ở các vùng đầu nguồn [20] để phối hợp giám sát các thương nhân khi đến buôn bán ở vùng cao, và để đảm bảo an ninh khi có biến.

Hệ thống tuần ty được phân bố rộng khắp các địa phương từ Thuận Hóa đến Gia Định, tạo thành một mạng lưới kiểm soát liên hoàn. Chẳng hạn, ở huyện Hương Trà có sở tuần Tam Kỳ, tuần cửa Eo; huyện Quảng Điền có tuần Hiền Sĩ; huyện Đăng Xương có tuần Lâm Lang, tuần An Khương; huyện Hải Lăng có tuần nguồn Long Xã, tuần Viên Kiệu; huyện Minh Linh có tuần nguồn Du Xã, tuần Tân Lộc, tuần Cổ Lâm. Ở xứ Quảng Nam, hệ thống này tiếp tục được mở rộng với các tuần Tiểu Áo, Đại Chiêm, cửa biển Đà Nẵng, Ô Gia, Thu Bồn, Hoa Nông…; tại các phủ Quảng Ngãi, Quy Nhơn, Phú Yên, Bình Khương, Diên Khánh, Bình Thuận đều có các tuần canh đặt tại cửa biển, đèo núi và đầu nguồn sông. Đến khu vực Gia Định, các tuần Đồng Tranh, Cổ Thác, cửa Mỹ Tho, Ý Đào, Ba Rơm, cửa Cần Giờ, cửa Tắc Khái tiếp tục đảm nhiệm chức năng kiểm soát địa bàn [21].

Việc bố trí dày đặc các trạm tuần này cho thấy một chiến lược kiểm soát không gian mang tính hệ thống: thay vì chỉ tập trung vào các trung tâm hành chính, chính quyền chúa Nguyễn đã mở rộng sự hiện diện của mình tới các điểm nút giao thông và kinh tế then chốt. Các tuần ty không chỉ có nhiệm vụ quân sự mà còn đóng vai trò như các “trạm gác kinh tế”, nơi kiểm tra, giám sát và đánh thuế các hoạt động buôn bán giữa miền xuôi và miền ngược.

Đặc biệt, để tăng cường khả năng phòng thủ và kiểm soát lâu dài, chính quyền còn cho xây dựng các công trình quân sự dọc theo các tuyến đầu nguồn quan trọng. Các thành lũy như thành Hóa Châu, thành Ninh Viễn, dinh Lưu Đồn (Dinh Mười), Dinh Trạm… được bố trí tại thượng lưu các con sông lớn, phối hợp với hệ thống tuần ty để tạo thành một mạng lưới phòng thủ nhiều tầng. Điều này cho thấy việc kiểm soát đầu nguồn không chỉ nhằm ngăn chặn các mối đe dọa từ bên ngoài mà còn để kiểm soát nội bộ, đặc biệt là các hoạt động di chuyển và tụ tập của cư dân vùng cao.

Một khía cạnh quan trọng khác của chính sách quản lý đầu nguồn là kiểm soát các tuyến thương mại và giao lưu kinh tế. Các vùng đầu nguồn chính là nơi hội tụ của các tuyến đường trao đổi hàng hóa giữa miền xuôi và miền núi, đồng thời cũng là cửa ngõ kết nối với các khu vực bên ngoài như Ai Lao, Vạn Tượng hay các bộ lạc dọc dãy Trường Sơn. Việc đặt các trạm kiểm soát tại đây cho phép chính quyền vừa khuyến khích hoạt động thương mại, vừa duy trì khả năng giám sát và điều tiết.

Thực chất, đây là một cơ chế “kiểm soát mềm” đối với thương mại: nhà nước không ngăn cản lưu thông hàng hóa mà thông qua các điểm kiểm soát để nắm bắt dòng chảy hàng hóa, thu thuế và hạn chế các nguy cơ mất an ninh. Điều này đặc biệt quan trọng trong bối cảnh các thương nhân ngoại quốc  thường xuyên lên vùng cao trao đổi với cư dân bản địa, mang theo không chỉ hàng hóa mà còn cả những yếu tố có thể gây bất ổn như vũ khí, tin tức hoặc các mối liên kết chính trị.

Chính sự kết hợp giữa kiểm soát an ninh và điều tiết kinh tế tại các vùng đầu nguồn đã góp phần quan trọng trong việc duy trì sự ổn định của vùng biên giới phía Tây. Đây không chỉ là một biện pháp mang tính quản lý, mà còn phản ánh tư duy chiến lược của chính quyền chúa Nguyễn trong việc xây dựng một nhà nước có khả năng kiểm soát không gian rộng lớn và đa dạng, thông qua những thiết chế linh hoạt nhưng hiệu quả.

4. Chính sách ngoại giao biên giới

Để đảm bảo an ninh vùng biên giới, bên cạnh việc ổn định đời sống dân cư vùng cao, các chúa Nguyễn còn tìm cách "thiết lập các liên minh" [22] ở vùng biên giới phía Tây để tránh cùng lúc phải đối diện với nhiều kẻ thù, từ đó có thể tập trung cho cuộc chiến với chúa Trịnh ở phía Bắc, với Chân Lạp và Xiêm ở phía Nam và những âm mưu thôn tính từ các thế lực phương Tây ở phía Đông. Điểm nổi bật trong chính sách này là việc các chúa Nguyễn không lựa chọn con đường đối đầu trực diện, mà ưu tiên thiết lập các quan hệ mang tính lệ thuộc lỏng, thông qua cơ chế thần phục - triều cống kết hợp với trao đổi lợi ích. Đây là một hình thức ngoại giao mang tính thực dụng, vừa đảm bảo danh nghĩa chính trị, vừa tạo điều kiện cho giao thương và kiểm soát khu vực biên viễn.

Đối với nước Nam Bàn ở phía Tây đầu nguồn phủ Phú Yên xứ Quảng Nam có hai vùng đất là Thủy Xá và Hỏa Xá [23] - chính quyền Đàng Trong duy trì một chính sách vừa kiểm soát vừa dung nạp. Theo lời tâu bày của Cai đội Luận bình hầu Văn Thế Nghị ở huyện Tuy Viễn thì nước này có hơn 50 thôn, là đất của người Đê và người Man (tức người Chàm và người Mọi) với khoảng 40 tù trưởng. Vùng đất này từ sau chiến thắng của vua Lê Thánh Tông (1471), đã được vua Lê phong vương và cho thần phục triều cống hàng năm. Đến các chúa Nguyễn vẫn tiếp tục duy trì sự tự do có chừng mực, tức là có kiểm soát dưới chế độ thần phục –triều cống, đồng thời cũng thường xuyên biếu quà để vỗ yên. Ngay khi vào trấn nhậm vùng đất Thuận Hóa, Chúa Nguyễn Hoàng đã quy định "cứ 5 năm một lần sai người đến các nước ấy cho quà (gồm áo gấm, mũ, nồi đồng, chảo sắt, và chén đĩa bằng sứ). Đổi lại, các tù trưởng địa phương dâng cống các sản vật như kỳ nam, sáp ong, nhung hươu, mật gấu, voi đực… để hiến [24]. Cơ chế trao đổi này cho thấy một đặc trưng quan trọng của ngoại giao biên giới Đàng Trong: không nhằm sáp nhập trực tiếp lãnh thổ mà thiết lập một vùng đệm chịu ảnh hưởng, trong đó các cộng đồng bản địa vừa duy trì tính tự trị, vừa thừa nhận vị thế “trên - dưới” với chính quyền chúa Nguyễn. Đến thời Nguyễn Phúc Chu, khi xuất hiện hiện tượng không tuân thủ nghĩa vụ thuế, chính quyền đã sử dụng biện pháp “ngoại giao kết hợp hành chính” thông qua việc cử người am hiểu phong tục địa phương như Kiêm Đức đi chiêu dụ, “lấy nghĩa kẻ trên người dưới khuyên bảo dân Man, định ra thuế lệ”, từ đó tái lập trật tự mà không cần sử dụng vũ lực quy mô lớn.

Đối với các nước lớn hơn như Vạn Tượng, chính sách của các chúa Nguyễn cũng thể hiện rõ tính linh hoạt. Sau các xung đột ban đầu, chính quyền chuyển sang chiến lược hòa hoãn, cho phép buôn bán qua lại với dân Man ở Cam Lộ, từ đó tạo dựng mối quan hệ “mến đức sợ oai”. Hoạt động triều cống giữa hai bên mang tính không định kỳ, “nhiều ít tùy ý không có định hạn” [25], phản ánh tính chất không ràng buộc chặt chẽ nhưng vẫn duy trì được quan hệ chính trị ổn định. Đồng thời, việc chúa Nguyễn “gửi gấm, vóc, sô, lụa cho tù trưởng” [26] cho thấy yếu tố kinh tế - vật chất đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì quan hệ ngoại giao. Theo ghi nhận của Lê Quý Đôn, chính quyền Đàng Trong còn chủ động thiết lập quan hệ trao đổi với các khu vực như Lạc Hoàn và Vạn Tượng, “họ vui lòng đổi chác, tùy thời dâng đồ cống, thông mua bán, công tư được đầy đủ” [27]. Điều này cho thấy ngoại giao biên giới không tách rời khỏi hoạt động thương mại, mà ngược lại, chính thương mại là nền tảng để củng cố quan hệ chính trị và an ninh khu vực.

Đối với Ai Lao - một khu vực thường xuyên xảy ra xung đột biên giới - chính sách của các chúa Nguyễn thể hiện rõ sự kết hợp giữa răn đe và vỗ về. Trước các hành vi cướp bóc, chính quyền kiên quyết trấn áp, như năm 1621 đã “sai người đi đánh bắt hết bè đảng”. Tuy nhiên, sau khi dẹp yên, chúa Nguyễn lại áp dụng chính sách khoan dung: “cởi hết trói ra và cấp cho quần áo, lương thực, răn dạy rồi thả về” [28]. Chính sách này không chỉ nhằm chấm dứt xung đột trước mắt mà còn tạo dựng lòng tin lâu dài, khiến “quân Man cảm phục, từ đấy không làm phản nữa” [29]. Không dừng lại ở đó, để kiểm soát hiệu quả khu vực trọng yếu này, năm 1622, chính quyền còn cho đặt dinh Ai Lao [30] trên sông Hiếu Giang với lực lượng khoảng 600 lính, tạo thành một điểm kiểm soát quân sự trực tiếp. Khu vực Cam Lộ - nơi “dưới thông với cửa Việt, trên tiếp với các sách nguồn sái đất Ai Lao” - được xác định là vị trí chiến lược, nơi hội tụ các tuyến giao thông và thương mại quan trọng; là con đường huyết mạch trong buôn bán hương liệu và cũng là con đường quan trọng để các nước láng giềng hay quân Trịnh có thể mượn đường vào dinh phủ Đàng Trong. Mọi con đường của người Man từ dọc miền núi phía Tây ra vùng đồng bằng đều đi qua vùng đất này, và các nước ở xa như Lạc Hoàn, nước Vạn Tượng, phủ Trấn Ninh, châu Quỳ Hợp, các bộ lạc Lào "đều có đường thông đến đấy, rất là xung yếu". Tại đây, các chúa Nguyễn thiết lập hệ thống tuần ty như tuần Ba Giăng (đồn Hiếu Giang), tuần Ngưu Cước… kết hợp với dinh Ai Lao để tạo thành một mạng lưới kiểm soát vừa mang tính quân sự, vừa mang tính hành chính.

   Như vậy có thể thấy, với các chính sách vừa cứng rắn, vừa mềm dẻo, các chúa Nguyễn đã từng bước thu phục được người dân vùng đất mới, đồng thời đã thiết lập được các liên minh dọc biên giới phía Tây, điều đó đã đóng một vai trò then chốt trong việc duy trì tình hình ổn định cả về mặt chính trị lẫn kinh tế của Đàng Trong và tránh cho chính quyền chúa Nguyễn phải đối phó cùng lúc với nhiều kẻ thù, nhờ đó Đàng Trong mới có cơ hội phát triển nhanh chóng như vậy.

 5. Nhận xét

Vấn đề bảo vệ và phát triển kinh tế, ổn định đời sống dân cư vùng biên giới luôn là mối quan tâm thường trực của các triều đại từ nhà nước sơ khai Văn Lang - Âu Lạc cho đến nhà nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam hiện nay. Đảm bảo an ninh vùng biên giới không chỉ giúp cho kinh tế trong cả nước có sự phát triển đồng đều, có thể khai thác hết các nguồn lợi thiên nhiên ở vùng cao mà còn giúp cho nền độc lập của đất nước được đảm bảo.

Chính quyền chúa Nguyễn ở Đàng Trong đã sớm ý thức được việc này, vì thế ngay khi vào trấn trị ở vùng đất Thuận - Quảng và sau là cả vùng đất Nam Bộ, các chúa Nguyễn đã từng bước thực hiện các chính sách và biện pháp khéo léo, phù hợp với đặc điểm dân cư của từng vùng, phù hợp với hoàn cảnh và chủ trương tạo nên các liên minh hơn là tạo thêm thế lực thù địch, do đó chính quyền Đàng Trong đã có thể duy trì sự yên ổn ở vùng biên giới trong gần 200 năm tồn tại. Trong các chính sách đảm bảo an ninh mà các chúa Nguyễn đề ra thì chính sách thu phục lòng dân và từng bước thiết lập bộ máy quản lý ở đây được xem là chính sách mang lại hiệu quả cao và nổi bật nhất. Các chúa Nguyễn đã ý thức được việc quản lý người vùng cao biên giới, những bộ lạc quen sống tự do là điều hết sức khó khăn. Do đó, việc từng bước vỗ về dân cư, cho họ được phép duy trì những thói quen, phong tục cũ, được khai thác các nguồn lâm, thổ sản ở địa phương, được tham gia vào guồng máy thương mại và được ở trên những vùng đất mà họ khai phá. Song sự "tự do" cũng có chừng mực trong sự quản lý của nhà nước, thông qua bộ máy quản lý đến các nguồn, các sách, đến các thuộc hay thiết lập các dinh, đạo, đồn, trấn giữ ở các vùng đầu nguồn là biện pháp hữu hiệu để trấn áp các cuộc nổi dậy đồng thời bảo vệ người dân khỏi sự quấy phá của các thế lực thù địch.

 Bên cạnh đó, chính sách thiết lập liên minh với các nước biên giới phía Tây, đã giúp chính quyền Đàng Trong không chỉ có thêm đồng minh trong việc chống lại các thế lực thù địch mà còn tránh gây thêm những câu kết giữa cư dân vùng biên giới với láng giềng làm phản, từ đó chính quyền Đàng Trong mới đủ sức đương đầu với quân Trịnh ở Đàng Ngoài và từng bước mở rộng lãnh thổ, đánh bại âm mưu xâm chiếm của Chân Lạp và Xiêm.

Tuy nhiên, khi chính quyền chúa Nguyễn ngày một suy yếu, các chính sách không còn được thực hiện nghiêm ngặt như trước, nạn quan lại nhũng nhiễu dân chúng đặc biệt ở các vùng đầu nguồn, các lái buôn miền xuôi lên miền ngược ngày một nhiều và không có sự kiểm soát chặt chẽ,thuế khóa ngày một cao,… Điều đó đã dẫn đến sự nổi dậy của cư dân vùng biên giới, phong trào nông dân Tây Sơn ở vùng núi cao Bình Định đã được hình thành từ những sự nổi loạn ấy và các nước lân bang cũng dựa vào đó đưa quân vào xâm chiếm. Biên giới lãnh thổ của quốc gia bị đe dọa bởi chính sự lơi là trong cách quản lý, và những yếu kém, bất đồng trong nội bộ chính quyền cai trị. Đó là bài học quý giá cho việc đảm bảo an ninh vùng biên giới hiện nay.

Từ góc độ lịch sử, kinh nghiệm của các chúa Nguyễn trong việc kết hợp giữa đảm bảo an ninh và phát triển kinh tế ở vùng biên giới phía Tây cung cấp những gợi mở có giá trị cho việc hoạch định chính sách phát triển bền vững vùng biên giới trong bối cảnh hiện nay. Đó là yêu cầu phải gắn kết chặt chẽ giữa phát triển kinh tế với ổn định xã hội, tôn trọng đặc điểm văn hóa - dân tộc của cư dân địa phương, đồng thời xây dựng một cơ chế quản lý linh hoạt nhưng hiệu quả nhằm bảo vệ vững chắc chủ quyền quốc gia.



[1] Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục, tập 1, Nxb. Giáo Dục, 2004, tr.27.

[2] Quốc sử quán triêu Nguyễn, Đại nam thực lục, tập 1, Tiền biên, sđd, tr.28.

[3] Quốc sử quán triều Nguyễn (2002), Sđd, Tập 1, tr. 82.

[4] Lê Quý Đôn, Phủ biên tạp lục, sđd, tr. 100.

[5] Trịnh Hoài Đức, Gia Định thành thông chí, sđd, tr.80.

[6] Người Mọi vốn xuất phát từ tên gọi Tơmoi, Kemoi, Rumoi chỉ là từ được người phương Tây dùng để chỉ những người bản địa trên vùng núi Trung Đông Dương, và người Việt dùng để chỉ những người láng giềng sinh sống trên vùng núi nằm phía Tây của mình. Theo Henri Maitre, Rừng người Thượng, vùng rừng núi và cao nguyên miền Trung Việt Nam, Nxb Tri Thức, Hà Nội, 2008, tr.20. Sau này để tránh gọi theo tính miệt thị, người ta gọi chung là người Thượng là danh từ gọi chung những nhóm sắc tộc bản địa sinh sống trên cao nguyên miền Trung Việt Nam, như Ba Na, Jarai, Ê đê, Cơ ho, Mạ, Xơ Đăng, Mơ Nông,…

[7] Bùi Tá Hán người huyện Chương Nghĩa tỉnh Quảng Nam. Ông làm quan dưới triều Lê Trung Hưng, từ chức Thổ quan được phong dần lên chức Chưởng phủ sự, Tổng trấn Quảng Nam Thiếu bảo, Trấn Quận công. Dưới thời chúa Nguyễn, Bùi Tá Hán thường đem quân đi đánh các man Thạch Bích ở Quảng Nghĩa, theo ven núi đặt đồn để chống giữ. Sau khi chết được phong tặng Thái Bảo, được lập đền thờ. Đến năm Minh Mạng thứ 13 (1832) được phong thêm là Khuông Tĩnh biên Thụ đức thượng đẳng thần. Theo Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam liệt truyện, tập 1, Tiền biên, Nxb. Thuận Hóa, Huế, 2005, tr.100-101.

[8] C.Borri, Xứ Đàng Trong năm 1621, Nxb. Tổng hợp TP.Hồ Chí Minh, 2014, tr.35.

[9] Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục, tập 1, sđd, tr.142.

[10] Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục, sđd, tr.30

[11] Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục, sđd, tr.110.

[12] Thương bộ là các thương nhân được cấp thẻ môn bài, được độc quyền buôn bán ở vùng cao.

[13] Số thuế này được phân cụ thể đến các Nguyên như sau:

+ Nguyên Dà Bông: 600 quan

+ Nguyên Cù Ba: 350 quan và 20 quan tiền thay quế cống

+ Nguyên Phù Bà: 140 quan

+ Nguyên Ba Tơ: 360 quan

[14] Man hay Mọi đều là danh từ dùng chỉ các bộ tộc sống dọc biên giới phía Tây Trung bộ và Nam Bộ nói chung.

[15] Lê Quý Đôn, Phủ biên tạp lục, Nxb. Khoa học xã hội, 1977, tr.210 - 211.

[16] Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục, Tập 1, sđd, tr.140-141.

[17] Trịnh Hoài Đức, Gia Định thành thông chí, Nxb. Giáo Dục, Hà Nội, 1998, tr.80. Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục, Tiền biên, sđd, tr.166.

[18] Trịnh Hoài Đức, Gia Định thành thông chí, sđd, tr.80. Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục, Tiền biên, sđd, tr.166.

[19] Lê Quý Đôn, Phủ biên tạp lục,sđd, tr.69. Đại Nam thực lục, tập 1, chép là hơn 5.000 người, sđd, tr.164-

[20] “Nguồn”, có 3 chức năng chính: trước hết đó là một cái chợ, nối bằng đường sông xuống đồng bằng và bằng đường mòn lên miền núi. Thứ hai, là địa điểm đánh thuế hàng hóa, nơi đây có sự hiện diện của quân đội. Cuối cùng đây là một đơn vị hành chính, gần tương đương với một tổng ở đồng bằng. Theo Anddrew Hardy, “Nguồn” trong kinh tế hàng hóa ở Đàng Trong”, Uỷ ban nhân dân tỉnh Thanh Hoá, Hội khoa học lịch sử Việt Nam, Kỷ yếu Hội thảo khoa học, Chúa Nguyễn và Vương triều Nguyễn trong lịch sử Việt Nam từ thế kỉ XVI đến thế kỉ XIX, 2008, Nxb. Thế Giới, 2008, tr.55-65.

[21] Phan Khoang, Việt sử Xứ Đàng Trong 1558-1777, Nhà sách Khai Trí, Sài Gòn, 1969, tr.493-495.

[22] Theo Li Tana, Xứ Đàng Trong, Lịch sử kinh tế -xã hội Việt Nam thế kỷ 17-18, Nguyễn Nghị dịch, Nxb. Trẻ, TP.Hồ Chí Minh, 2006, tr.198.

[23] Sách Đại Việt địa dư toàn biên, chép về vùng đất này như sau: Thủy Xá, Hỏa Xá ở ngoài cõi Nam Bàn nước Chiêm Thành cũ. Bây giờ trong Thượng đạo tỉnh Phú An có núi Bà Nam rất cao. Thủy Xá ở phía đông núi ấy, phía đông giáp đồn Phúc Sơn, tỉnh Phú An, phía nam thì là mán quen thuộc ở Thạch Thành, phía bắc thì mán lạ ở tỉnh Chiêm (Bình Định). Hỏa Xá ở phía Tây núi ấy, phía tây tiếp giáp với Sơn Bốc sở nam nước Chân Lạp, phía nam thì là lạc man, phía trên là sông Đại Giang, phía dưới là sông Ba Giang làm giới hạn bờ cõi hai nước ấy". Phương đình Nguyễn Văn Siêu, Đại Việt Địa dư toàn biên, Nxb. Văn hóa, Hà Nội, 1997, tr.332.

Vùng đất này nay thuộc khu vực tỉnh Đắk Lắk và Lâm Đồng

[24] Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục, tập 1, Tiền biên, Nxb. Thuận Hóa, 2004, tr.157. Lê Quý Đôn, Phủ biên tạp lục, Nxb. Khoa học xã hội, 1977, tr. 123.

[25] Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục, tập 1, Tiền biên, sđd, tr.167.

[26] Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục, tập 1, Tiền biên, sđd, tr.167.

[27] Lê Quý Đôn, Phủ biên tạp lục, sđd, tr.207.

[28]  Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục, tập 1, Tiền biên, sđd, tr.41.

[29] Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục, tập 1, Tiền biên, sđd, tr.40-41.

[30] Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục, tập 1, Tiền biên, sđd, tr.40.

TS. Nguyễn Thị Hải
Nguồn bài viết: Viện Sử học, Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam
Tin xem nhiều
Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tất cả: 1