Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam: Từ nghiên cứu thực tiễn đến các tác phẩm chính luận
Không gian trưng bày của Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam là nơi chuyển tải những kết quả nghiên cứu khoa học đến công chúngHưởng ứng Cuộc thi Chính luận về
bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng lần thứ Sáu năm 2026 do Đảng ủy Viện Hàn lâm
Khoa học xã hội Việt Nam (Viện Hàn lâm) phát động, cán bộ Bảo tàng Dân tộc học
Việt Nam (Bảo tàng) đã gửi 28 tác phẩm dự thi qua 3 đợt, trong đó 04 tác phẩm
được lựa chọn tham gia vòng thi cấp Trung ương. Các tác phẩm đều được hình
thành từ thực tiễn nghiên cứu, sưu tầm, trưng bày và giáo dục di sản.
Là đơn vị trực thuộc Viện Hàn
lâm, Bảo tàng không ngừng tích lũy những tư liệu và luận cứ khoa học từ quá
trình nghiên cứu và hoạt động chuyên môn. Chính nền tảng đó đã giúp các tác giả
chuyển hóa thực tiễn thành những tác phẩm chính luận có chiều sâu, góp phần làm
rõ các vấn đề đặt ra trong công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.
Từ bốn góc nhìn đến một mục tiêu
chung
Hoạt động nghiên cứu, sưu tầm và trưng bày là nền tảng hình thành những luận cứ khoa học và các tác phẩm chính luận của cán bộ Bảo tàng
Bốn tác phẩm lựa chọn với bốn hướng
tiếp cận khác nhau, song cùng hướng tới một mục tiêu chung là bảo vệ nền tảng
tư tưởng của Đảng.
Tác phẩm “Từ di sản đến sức mạnh
mềm quốc gia: Vai trò của Bảo tàng trong đấu tranh phản bác các quan điểm sai
trái về văn hóa Việt Nam” (thể loại Tạp chí) của tác giả Lê Hải Đăng nhận diện
các biểu hiện xuyên tạc lịch sử, văn hóa trên không gian mạng và khẳng định vai
trò của bảo tàng như một thiết chế văn hóa - khoa học đặc thù. Điểm nổi bật của
tác phẩm là cách vận dụng khái niệm “sức mạnh mềm” của Joseph Nye để lý giải khả
năng chuyển hóa di sản thành nguồn lực quốc gia, từ đó đề xuất các giải pháp đổi
mới trưng bày, tăng cường chuyển đổi số và truyền thông nhằm đưa tri thức khoa
học đến gần công chúng hơn.
Tác phẩm “Củng cố khối đại đoàn kết
các dân tộc thiểu số nhằm bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng trong bối
cảnh chuyển đổi số” (thể loại Tạp chí) của tác giả Lương Văn Thiết xác định khối
đại đoàn kết các dân tộc thiểu số là một trụ cột chiến lược của cách mạng Việt
Nam. Giá trị riêng của tác phẩm nằm ở việc nhận diện những nguy cơ chia rẽ ngay
từ nội bộ và những thách thức mới do chuyển đổi số đặt ra đối với việc giữ gìn
bản sắc, củng cố niềm tin của đồng bào; trên cơ sở đó, đề xuất giải pháp phát
huy sức mạnh đoàn kết dân tộc trong giai đoạn mới.
Tiếp cận từ góc nhìn văn hóa, tác
phẩm “Văn hóa dân tộc - ‘Lá chắn thép’ và nguồn lực nội sinh chiến lược trong
cuộc đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng” (thể loại Báo) của tác giả Lê
Thị Thanh Phượng nhìn nhận văn hóa dân tộc ở hai vai trò song hành: vừa là “lá
chắn thép” trước âm mưu xâm nhập văn hóa, xuyên tạc lịch sử và làm mai một bản
sắc, vừa là nguồn lực nội sinh chiến lược nuôi dưỡng sức mạnh tinh thần của dân
tộc. Cách đặt vấn đề “văn hóa là khởi nguồn và là đích đến của chính trị” tạo
nên dấu ấn lập luận riêng cho tác phẩm.
Trong khi đó, tác phẩm “Bí thư
chi bộ khơi dậy sức dân nơi ‘lõi nghèo’ Huổi Lọng” (thể loại Tạp chí) của tác
giả Vũ Hồng Nhi lại chọn kể một câu chuyện thực tế ở bản Huổi Lọng, xã Chiềng
La, tỉnh Sơn La. Sức thuyết phục của tác phẩm đến từ những con số biết nói: từ
một “bản 5 không”, thu nhập bình quân tăng từ khoảng 13 lên 21,5 triệu đồng/người/năm,
tỷ lệ hộ nghèo giảm từ 32,25% xuống còn 13,02%. Qua tấm gương Bí thư Chi bộ
kiêm Trưởng bản Lò Văn Yên, tác phẩm cho thấy công tác xây dựng Đảng ở cơ sở được
đo bằng chính sự đổi thay trong đời sống của đồng bào.
Nghiên cứu khoa học đồng hành
cùng nhiệm vụ chính trị
Thông qua trưng bày và các chương trình giáo dục di sản, Bảo tàng góp phần lan tỏa giá trị văn hóa, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc
Bốn tác phẩm được lựa chọn tuy tiếp
cận từ bốn góc nhìn khác nhau nhưng đều gặp nhau ở một mục tiêu xuyên suốt là
góp phần bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng thông qua việc gắn kết
nghiên cứu khoa học với thực tiễn chính trị - xã hội. Nếu tác phẩm của Lê Hải
Đăng tiếp cận từ lĩnh vực bảo tàng học và văn hóa, vận dụng lý thuyết “sức mạnh
mềm” để khẳng định giá trị của di sản trong đấu tranh phản bác các quan điểm
sai trái thì Lương Văn Thiết lại đi từ vấn đề đại đoàn kết các dân tộc thiểu số,
nhận diện những thách thức mới của chuyển đổi số đối với việc củng cố niềm tin
và khối đoàn kết toàn dân tộc. Ở một hướng tiếp cận khác, Lê Thị Thanh Phượng
nhấn mạnh văn hóa dân tộc vừa là “lá chắn thép” bảo vệ bản sắc, vừa là nguồn lực
nội sinh chiến lược để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Trong khi đó, Vũ Hồng
Nhi lựa chọn phản ánh sinh động thực tiễn xây dựng Đảng ở cơ sở thông qua câu
chuyện đổi thay của bản Huổi Lọng, chứng minh rằng hiệu quả của công tác xây dựng
Đảng được thể hiện bằng những chuyển biến cụ thể trong đời sống nhân dân. Sự đa
dạng về cách tiếp cận nhưng thống nhất về mục tiêu đã cho thấy nghiên cứu khoa
học không chỉ dừng lại ở việc lý giải các vấn đề lý luận mà còn trực tiếp cung
cấp luận cứ, minh chứng thực tiễn và các giải pháp khả thi, góp phần phục vụ hiệu
quả nhiệm vụ chính trị và bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong bối cảnh mới./.