Một số giải pháp bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa phi vật thể Thăng Long – Hà Nội theo tinh thần Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị
Di sản văn hóa phi vật thể Thăng Long - Hà Nội là kết tinh lịch sử, bản sắc và tri thức văn hóa cộng đồng, đồng thời là nguồn lực quan trọng đối với sự phát triển bền vững của Thủ đô. Trước những tác động của đô thị hóa, hội nhập và biến đổi môi trường thực hành, công tác bảo tồn, phát huy di sản đang đặt ra nhiều yêu cầu mới. Trên cơ sở tinh thần Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 07/01/2026 của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam, bài viết phân tích nguồn lực, thực trạng và những vấn đề đặt ra trong bảo tồn, phát huy di sản văn hóa phi vật thể Thăng Long - Hà Nội. Từ đó, đề xuất một số giải pháp trọng tâm: đổi mới quản lý, hoàn thiện cơ chế, chính sách và huy động nguồn lực; phát huy vai trò chủ thể của cộng đồng, nghệ nhân; nâng cao chất lượng nguồn nhân lực; đẩy mạnh tư liệu hóa, chuyển đổi số; xây dựng phương thức bảo tồn phù hợp với từng loại hình di sản; gắn bảo tồn với giáo dục, du lịch văn hóa và công nghiệp văn hóa. Qua đó, nhấn mạnh yêu cầu kết hợp bảo tồn giá trị truyền thống với đổi mới sáng tạo, bảo đảm di sản được trao truyền và phát huy sức sống trong đời sống đương đại.  

Thăng Long - Hà Nội là trung tâm hội tụ, kết tinh và lan tỏa các giá trị văn hóa dân tộc. Hệ thống di sản văn hóa phi vật thể phong phú, gồm lễ hội, nghệ thuật trình diễn, tập quán xã hội, tín ngưỡng, nghề thủ công, ngữ văn và tri thức dân gian, phản ánh lịch sử cộng đồng, góp phần hình thành bản sắc và cốt cách người Hà Nội.

Đô thị hóa, công nghiệp hóa, hội nhập quốc tế và sự phát triển của công nghệ đang làm biến đổi môi trường thực hành, phương thức lưu truyền di sản. Một số loại hình đứng trước nguy cơ mai một do thiếu lực lượng kế cận, không gian thực hành bị thu hẹp và người trẻ ít tham gia. Việc khai thác di sản phục vụ du lịch, nếu thiếu định hướng, còn có thể dẫn đến thương mại hóa và sai lệch giá trị truyền thống.

Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 07/01/2026 của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam khẳng định văn hóa và con người là nền tảng, nguồn lực nội sinh, động lực phát triển bền vững; đồng thời xác định nhân dân là chủ thể sáng tạo và thụ hưởng văn hóa. Quan điểm này đặt ra yêu cầu lấy cộng đồng làm trung tâm, kết hợp bảo tồn giá trị truyền thống với đổi mới sáng tạo, ứng dụng khoa học - công nghệ và mở rộng khả năng tiếp cận di sản.

Trên cơ sở đánh giá nguồn lực, thực trạng và những vấn đề đặt ra, bài viết đề xuất một số giải pháp bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể Thăng Long - Hà Nội theo tinh thần Nghị quyết số 80-NQ/TW.

1. Nguồn lực và thực trạng bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể Thăng Long - Hà Nội

Di sản văn hóa phi vật thể là sản phẩm tinh thần gắn với cộng đồng, cá nhân và không gian văn hóa; được lưu truyền, tái tạo qua nhiều thế hệ bằng truyền miệng, truyền nghề, trình diễn và các hình thức thực hành khác. Vì vậy, sức sống của di sản phụ thuộc trực tiếp vào cộng đồng nắm giữ và môi trường thực hành.

Theo Đề án “Tổng kiểm kê bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể Hà Nội” năm 2015, thành phố có 1.793 di sản được nhận diện, kiểm kê và bước đầu tư liệu hóa, thuộc sáu loại hình: ngữ văn truyền khẩu, nghệ thuật trình diễn truyền thống, tập quán xã hội, lễ hội truyền thống, nghề thủ công truyền thống và tri thức dân gian[1]. Có 38 di sản được đưa vào Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia: 22 lễ hội truyền thống, 7 nghề thủ công truyền thống, 5 di sản nghệ thuật trình diễn dân gian và 4 di sản tập quán xã hội, tín ngưỡng; trong số đó có những di sản được UNESCO ghi danh. Ca trù là một trường hợp tiêu biểu thuộc Danh mục quốc gia và Danh sách di sản cần bảo vệ khẩn cấp của UNESCO[2].

Bên cạnh các di sản đã được ghi danh, Hà Nội còn lưu giữ nhiều di sản văn hóa có giá trị, được cộng đồng bảo tồn và gìn giữ, có tiềm năng xây dựng hồ sơ đề nghị đưa vào Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia.

Công tác kiểm kê, lập hồ sơ, hỗ trợ nghệ nhân, duy trì câu lạc bộ và phục dựng một số nghi lễ đã đạt kết quả nhất định. Các di sản như Hội Gióng, Ca trù, lễ hội truyền thống, múa rối nước và nghề thủ công góp phần bảo tồn bản sắc, giáo dục truyền thống và tạo nguồn lực cho phát triển văn hóa, du lịch và công nghiệp văn hóa.

Tuy nhiên, hoạt động bảo tồn ở một số nơi còn phân tán, thiếu phối hợp giữa cơ quan quản lý, cơ sở nghiên cứu và cộng đồng. Nguồn lực chưa đáp ứng yêu cầu; chính sách hỗ trợ nghệ nhân và truyền dạy chưa đủ sức thu hút người kế cận. Tư liệu hóa, số hóa và xây dựng cơ sở dữ liệu còn thiếu đồng bộ, làm hạn chế hiệu quả quản lý, nghiên cứu và quảng bá. Khả năng chuyển hóa giá trị văn hóa thành dữ liệu, tri thức số, tài sản trí tuệ và sản phẩm sáng tạo cũng chưa theo kịp sự phát triển của môi trường số[3].

Đô thị hóa tiếp tục thu hẹp không gian thực hành của một số loại hình di sản. Việc khai thác phục vụ du lịch đôi khi thiên về trình diễn và thu hút khách, chưa chú trọng duy trì tính liên tục của thực hành văn hóa; một số phong tục, tri thức dân gian và nghệ thuật truyền thống có nguy cơ đứt gãy trao truyền.

Thực tiễn cho thấy bảo tồn không thể chỉ dừng ở kiểm kê, lập hồ sơ hay phục dựng đơn lẻ, mà cần gắn với bảo vệ di sản có nguy cơ mai một, duy trì môi trường thực hành và bảo đảm sự tham gia của cộng đồng. Đây cũng là yêu cầu phù hợp với Nghị quyết số 80-NQ/TW về phát triển văn hóa gắn với phát triển con người và huy động nguồn lực xã hội[4].

2. Một số giải pháp bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể Thăng Long - Hà Nội

2.1. Đổi mới quản lý, hoàn thiện cơ chế, chính sách và huy động nguồn lực


Hà Nội cần cụ thể hóa Nghị quyết số 80-NQ/TW trong các chương trình, kế hoạch bảo tồn di sản, gắn mục tiêu văn hóa với phát triển con người và kinh tế - xã hội. Việc quản lý cần chuyển từ cách tiếp cận hành chính đơn thuần sang quản trị di sản có sự tham gia thực chất của cộng đồng, nghệ nhân, chuyên gia và tổ chức xã hội. Định hướng này phù hợp với yêu cầu thúc đẩy chuyển hóa di sản và vốn văn hóa thành tri thức, tài sản trí tuệ, sản phẩm sáng tạo và nguồn lực phát triển[5].

Thành phố cần cập nhật kiểm kê, đánh giá tình trạng thực hành, khả năng trao truyền và mức độ nguy cấp của từng di sản để xác định thứ tự ưu tiên. Với di sản có nguy cơ mai một, cần xây dựng phương án bảo vệ riêng, phục hồi môi trường thực hành và hỗ trợ truyền dạy; với di sản được UNESCO ghi danh, cần thực hiện đầy đủ các yêu cầu bảo vệ, giám sát và báo cáo.

Cơ chế hỗ trợ nghệ nhân cần gắn với truyền dạy, nghiên cứu, tư liệu hóa và duy trì thực hành thường xuyên, thay vì chỉ hỗ trợ kinh phí tổ chức sự kiện. Thành phố cần khuyến khích doanh nghiệp, tổ chức xã hội và cá nhân tham gia đầu tư, đồng thời bảo đảm tính minh bạch, quyền lợi cộng đồng và mục tiêu bảo tồn. Có thể phát triển các lớp truyền dạy, mô hình truyền nghề và câu lạc bộ gắn với cộng đồng, đi kèm đánh giá định kỳ hiệu quả[6].

Theo Nghị quyết số 80-NQ/TW, đầu tư cho văn hóa là đầu tư cho phát triển bền vững. Việc bố trí tối thiểu 2% tổng chi ngân sách nhà nước hằng năm cho văn hóa và tăng dần theo yêu cầu thực tiễn cần được cụ thể hóa trong kế hoạch phù hợp[7]. Ngân sách nhà nước giữ vai trò dẫn dắt; xã hội hóa phải đi cùng trách nhiệm bảo tồn, không chuyển toàn bộ trách nhiệm bảo vệ di sản cho thị trường

2.2. Phát huy vai trò chủ thể của cộng đồng và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực

Cộng đồng là chủ thể sáng tạo, thực hành và trao truyền di sản. Vì vậy, chính sách bảo tồn cần xuất phát từ nhu cầu, tri thức và điều kiện thực tế của cộng đồng nắm giữ. Cơ quan quản lý có trách nhiệm định hướng, hỗ trợ; giới nghiên cứu cung cấp cơ sở khoa học; nghệ nhân giữ vai trò then chốt trong thực hành và truyền dạy.

Hà Nội cần bồi dưỡng cán bộ văn hóa cơ sở về kiểm kê, quản lý hồ sơ, tổ chức hoạt động bảo tồn và ứng dụng công nghệ; đồng thời tạo điều kiện để nghệ nhân mở lớp truyền dạy, hướng dẫn thực hành và đào tạo thế hệ kế cận. Với Ca trù, tuồng, chèo, múa rối nước và nghề thủ công, cần ưu tiên hình thức học trực tiếp từ nghệ nhân, kết hợp thực hành với nghiên cứu tư liệu.

Giáo dục di sản cần được tăng cường trong trường học và thiết chế văn hóa cộng đồng thông qua trải nghiệm, tham quan, giao lưu với nghệ nhân và tìm hiểu lịch sử địa phương. Nội dung giáo dục cần phù hợp từng lứa tuổi, tránh thiên về lý thuyết hoặc biến di sản thành hoạt động trình diễn đơn thuần.

Khi di sản được khai thác trong du lịch, biểu diễn hoặc sản xuất sản phẩm văn hóa, cần bảo đảm sự đồng thuận của cộng đồng, tôn trọng tri thức truyền thống và có cơ chế chia sẻ lợi ích hợp lý. Đây là điều kiện để cộng đồng chủ động duy trì di sản, thay vì chỉ thực hiện theo yêu cầu hành chính.

2.3. Đẩy mạnh tư liệu hóa, chuyển đổi số và đổi mới phương thức quảng bá di sản

Ứng dụng khoa học - công nghệ là yêu cầu quan trọng trong quản lý, nghiên cứu và phát huy di sản. Theo định hướng được nêu tại phiên họp thứ hai của Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển văn hóa Việt Nam, số hóa cần bảo đảm chất lượng, nguồn gốc rõ ràng, khả năng tìm kiếm, kết nối, chia sẻ và tái sử dụng dữ liệu. Hà Nội cần xây dựng cơ sở dữ liệu thống nhất, liên thông giữa cơ quan quản lý, đơn vị nghiên cứu và địa phương; hồ sơ mỗi di sản cần thể hiện lịch sử hình thành, đặc điểm thực hành, không gian văn hóa, nghệ nhân, cộng đồng nắm giữ và tình trạng bảo tồn[8].

Với di sản dựa vào truyền miệng, trình diễn và truyền nghề, cần ghi hình, ghi âm, lập phim tư liệu và hồ sơ khoa học để lưu giữ lời ca, nghi thức, kỹ thuật và tri thức của nghệ nhân. Với tư liệu Hán Nôm, sắc phong và tài liệu cổ, cần bảo quản bản gốc song song với số hóa, sao lưu và xây dựng công cụ tra cứu. Quá trình tư liệu hóa phải bảo đảm tính xác thực, kiểm chứng nguồn tin và tôn trọng quyền, giới hạn tiếp cận do cộng đồng quy định.

Trên nền tảng dữ liệu đã chuẩn hóa, thành phố có thể phát triển bản đồ di sản, triển lãm số, tư liệu nghe nhìn, thuyết minh đa ngôn ngữ và hình thức giới thiệu trực tuyến, qua đó mở rộng khả năng tiếp cận cho học sinh, sinh viên, người cao tuổi, người khuyết tật và công chúng ở xa.

Chuyển đổi số không thể thay thế thực hành và trao truyền trực tiếp. Dữ liệu số chỉ phát huy hiệu quả khi gắn với cộng đồng đang duy trì di sản; vì vậy cần kết hợp lưu trữ số với lớp học truyền nghề, sinh hoạt câu lạc bộ, biểu diễn và trải nghiệm tại không gian văn hóa phù hợp[9].

Công tác quảng bá cần dựa trên nội dung chính xác, có cơ sở khoa học và hình thức phù hợp với từng nhóm công chúng. Hội thảo, tọa đàm, triển lãm, phát thanh - truyền hình và nền tảng số cần được kết nối, đồng thời mở rộng giới thiệu di sản ra quốc tế và tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm bảo tồn.

2.4. Bảo tồn và phát huy giá trị theo từng loại hình di sản

2.4.1. Đối với lễ hội truyền thống


Hà Nội có 1.206 lễ hội, trong đó 22 lễ hội được đưa vào Danh mục quốc gia[10]. Lễ hội phản ánh lịch sử cộng đồng, tín ngưỡng và phong tục, đồng thời góp phần cố kết xã hội. Bảo tồn lễ hội cần gắn với giáo dục truyền thống và phát triển du lịch văn hóa, nhưng phải bảo đảm tính liên tục của nghi lễ, không gian thực hành và sự tham gia của cộng đồng; không lấy lượng khách hay doanh thu làm tiêu chí duy nhất.

Việc phục dựng nghi lễ phải dựa trên tư liệu lịch sử, ký ức cộng đồng và nghiên cứu khoa học, tránh bổ sung tùy tiện hoặc sân khấu hóa làm sai lệch truyền thống. Việc phục dựng nghi thức rước kiệu Đức Thánh Láng tại hội chùa Láng năm 2023 sau khoảng 70 năm gián đoạn và khôi phục Hội thề Trung hiếu đền Đồng Cổ cho thấy vai trò của nghiên cứu, cộng đồng và chính quyền trong phục hồi thực hành văn hóa.

Đối với Hội Gióng, cần tiếp tục nghiên cứu mối liên hệ giữa các địa điểm thực hành, xây dựng cơ sở dữ liệu khoa học và đưa di sản vào giáo dục học đường. Việc kết nối lễ hội với du lịch phải bảo đảm an toàn, trật tự, không gian thực hành và tính thiêng của nghi lễ.

2.4.2. Đối với nghệ thuật trình diễn dân gian

Hà Nội đã kiểm kê 79 di sản nghệ thuật trình diễn dân gian; trong đó, 05 di sản được đưa vào Danh mục quốc gia gồm múa và hát Ải Lao, múa rối cạn Tế Tiêu, múa rối nước Đào Thục, Hát Dô và Ca trù [11]. Một số loại hình đã kết nối với hoạt động du lịch, tạo cơ hội để công chúng tìm hiểu kỹ thuật chế tác và thưởng thức trình diễn của nghệ nhân.

Để bảo đảm sức sống của Ca trù, tuồng, chèo, hát dân gian và múa rối nước, cần duy trì đội ngũ nghệ nhân, tổ chức truyền dạy, hỗ trợ câu lạc bộ và tạo môi trường biểu diễn thường xuyên. Hoạt động giáo dục, giao lưu và biểu diễn cần hướng tới người trẻ, đồng thời bảo đảm việc sáng tạo mới không làm mất đặc trưng cơ bản của di sản.

Với Ca trù, cần hỗ trợ truyền dạy kỹ thuật hát, đàn, phách và các thể cách cổ; duy trì hoạt động câu lạc bộ, giao lưu và giới thiệu di sản trong nước, quốc tế. Tư liệu hiện có ghi nhận Hà Nội có 14 câu lạc bộ, nhóm Ca trù hoạt động; các nhóm đang lưu giữ hơn 30 thể cách, điệu múa cổ và có sáng tác mới[12]. Việc phát triển cần dựa trên hiểu biết về truyền thống và bảo đảm tính kế thừa.

Đối với múa rối nước và nghệ thuật gắn với làng nghề, có thể tổ chức trải nghiệm chế tác đạo cụ, tìm hiểu kỹ thuật biểu diễn và giao lưu với nghệ nhân. Du lịch cần góp phần duy trì lực lượng thực hành, tạo nguồn thu hợp lý cho cộng đồng, không chỉ khai thác tiết mục phục vụ khách.

2.4.3. Đối với nghề thủ công truyền thống

Hà Nội đã nhận diện, kiểm kê 175 nghề thủ công, trong đó có 06 nghề thủ công truyền thống đã được đưa vào Danh mục quốc gia gồm: cốm Mễ Trì, dát vàng bạc quỳ Kiêu Kỵ, gốm sứ Bát Tràng, thêu truyền thống Đông Cửu, dệt lụa Vạn Phúc, may Trạch Xá và làm xôi Phú Thượng[13]. Bảo tồn nghề cần gắn với duy trì kỹ thuật, truyền nghề, bảo vệ tri thức nghề và phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm.

Thành phố cần phối hợp với cộng đồng tổ chức lớp truyền nghề, hỗ trợ cải tiến kỹ thuật phù hợp và xây dựng thương hiệu gắn với nguồn gốc văn hóa. Với nghề đã mai một hoặc gián đoạn, như nghề làm giấy dó vùng Bưởi, cần sưu tầm tư liệu, ghi lại ký ức nghệ nhân và nghiên cứu quy trình trước khi phục dựng.

Phát triển làng nghề phải đồng thời nâng cao chất lượng sản phẩm, cải thiện thu nhập và duy trì môi trường thực hành. Du lịch trải nghiệm cần giúp khách hiểu đúng quy trình, giá trị văn hóa và tri thức nghề; đổi mới mẫu mã phải đi cùng truyền dạy bí quyết cho thế hệ trẻ.

2.4.4. Đối với tập quán xã hội và tín ngưỡng

Hà Nội lưu giữ nhiều tập quán và tín ngưỡng dân gian. Tư liệu kiểm kê đề cập 213 tập quán xã hội, trong đó 04 di sản đã được đưa vào Danh mục quốc gia: tục thờ Tản Viên Sơn Thánh, Mo Mường, kéo co ngồi, kéo mỏ và thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ của người Việt (được UNESCO ghi danh năm 2016). Khi sử dụng các số liệu và danh mục này trong hồ sơ chính thức, cần đối chiếu với danh mục kiểm kê và ghi danh hiện hành.

Cần tiếp tục điều tra, nghiên cứu và tư liệu hóa tập quán, tín ngưỡng; xác định giá trị cần bảo vệ và những yếu tố không còn phù hợp hoặc gây tác động tiêu cực. Việc bảo tồn phải dựa trên bối cảnh lịch sử, chức năng xã hội và ý kiến cộng đồng, đồng thời ngăn chặn sự biến tướng làm sai lệch di sản.

Có thể vận dụng có chọn lọc hương ước và phong tục tốt đẹp trong xây dựng môi trường văn hóa, đạo đức, lối sống và gia đình văn hóa ở cơ sở.

Các giá trị tương trợ, ý thức cộng đồng, sự tôn trọng người cao tuổi và trách nhiệm với quê hương cần được phát huy; những tập tục lạc hậu cần được điều chỉnh trên cơ sở tôn trọng con người, phù hợp pháp luật và chuẩn mực văn hóa hiện đại. Qua đó, di sản góp phần xây dựng người Hà Nội thanh lịch, văn minh và củng cố gắn kết xã hội.

2.4.5. Đối với ngữ văn dân gian và tri thức dân gian

Thần thoại, truyền thuyết, cổ tích, giai thoại, ca dao, tục ngữ, câu đối và các hình thức ngữ văn dân gian cần được sưu tầm, ghi chép, dịch thuật, đối chiếu dị bản và lưu trữ có hệ thống. Nghiên cứu cần xác định bối cảnh lưu truyền, địa điểm, người kể và sự biến đổi của tác phẩm trong đời sống cộng đồng.

Với tri thức dân gian về nghề nghiệp, ẩm thực, sản xuất và môi trường, cần ghi chép, phỏng vấn nghệ nhân, người cao tuổi và người có kinh nghiệm. Việc giới thiệu, ứng dụng tri thức cần tôn trọng quyền lợi người nắm giữ, đồng thời kết hợp hợp lý với tri thức khoa học để phục vụ giáo dục, nghiên cứu và sinh kế cộng đồng.

Trong nhà trường, có thể tổ chức hoạt động tìm hiểu truyện kể, địa danh, danh nhân, phong tục và tri thức truyền thống Thăng Long - Hà Nội. Kết hợp trải nghiệm trực tiếp với học liệu số sẽ giúp thế hệ trẻ hiểu di sản và nâng cao ý thức kế thừa.

2.4.6. Đối với di sản có nguy cơ mai một và tư liệu Hán Nôm

Với di sản đã mai một hoặc có nguy cơ thất truyền, cần đánh giá mức độ nguy cấp, nghiên cứu tư liệu và xây dựng phương án phục hồi phù hợp. Việc phục dựng phải dựa trên chứng cứ lịch sử, ký ức cộng đồng và tri thức người thực hành; cần phân biệt yếu tố có căn cứ với nội dung bổ sung trong quá trình tái tạo.

Tư liệu Hán Nôm, sắc phong và tài liệu cổ cần được kiểm kê, bảo quản bản gốc, số hóa và đưa vào cơ sở dữ liệu tra cứu. Những tư liệu có giá trị cần được phiên âm, dịch thuật và đối chiếu để làm rõ nội dung lịch sử, văn hóa, góp phần nhận diện không gian văn hóa và quá trình hình thành các thực hành di sản Thăng Long - Hà Nội.

Phục hồi di sản cần có sự phối hợp giữa cơ quan quản lý, cơ sở nghiên cứu, chuyên gia và cộng đồng. Hiệu quả không chỉ nằm ở việc tái hiện nghi lễ đã mất, mà còn ở khả năng duy trì thực hành, truyền dạy và tạo dựng môi trường để di sản tiếp tục hiện diện trong đời sống.

2.5. Gắn bảo tồn di sản với phát triển văn hóa, du lịch và hội nhập quốc tế

Theo Nghị quyết số 80-NQ/TW, văn hóa cần trở thành nguồn lực nội sinh và động lực phát triển bền vững. Hà Nội cần gắn bảo tồn di sản phi vật thể với du lịch văn hóa và công nghiệp văn hóa, đồng thời bảo đảm lợi ích cộng đồng và tính xác thực của di sản[14].

Có thể xây dựng sản phẩm du lịch văn hóa dựa trên tư liệu đã được kiểm chứng, kết nối phố cổ, khu vực hồ Gươm - hồ Tây, không gian sông Hồng, làng cổ Đường Lâm, làng nghề và các điểm di sản ở phía Đông, phía Bắc thành phố. Các tuyến cần có nội dung lịch sử - văn hóa rõ ràng, chất lượng dịch vụ phù hợp và phương thức giới thiệu hiện đại[15]

Sản phẩm du lịch nên kết hợp tham quan với trải nghiệm thực hành, tìm hiểu lịch sử và giao lưu nghệ nhân. Quy mô hoạt động phải phù hợp sức chứa không gian, đời sống cộng đồng và đặc điểm từng di sản; không tổ chức trình diễn hoặc tái hiện nghi lễ tùy tiện để đáp ứng thị trường.

Nguồn thu từ khai thác di sản cần được quản lý minh bạch và tái đầu tư cho bảo tồn, truyền dạy, cải thiện sinh kế cộng đồng. Tăng cường liên kết giữa các điểm di sản, làng nghề và thiết chế văn hóa sẽ tạo ra các tuyến trải nghiệm có chất lượng khoa học, mở rộng khả năng tiếp cận cho người dân và du khách.

Hà Nội cần mở rộng hợp tác quốc tế về bảo vệ di sản, đào tạo nhân lực và ứng dụng công nghệ. Quảng bá quốc tế phải đi đôi với giới thiệu chính xác giá trị văn hóa, tôn trọng quyền cộng đồng và tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm phù hợp, qua đó nâng cao năng lực quản lý và khẳng định bản sắc Thăng Long - Hà Nội.

Kết luận

Di sản văn hóa phi vật thể Thăng Long - Hà Nội là nguồn lực quan trọng để bảo tồn bản sắc, giáo dục truyền thống và phát triển con người Thủ đô. Tuy nhiên, đô thị hóa, hội nhập và biến đổi lối sống đang đặt ra yêu cầu đổi mới công tác bảo tồn theo hướng đồng bộ, thực chất và bền vững.

Thực hiện tinh thần Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 07-01-2026 đòi hỏi Hà Nội hoàn thiện cơ chế, chính sách; phát huy vai trò chủ thể của cộng đồng; nâng cao chất lượng nhân lực; đẩy mạnh tư liệu hóa, chuyển đổi số; và xây dựng phương án phù hợp với từng loại hình di sản. Khai thác di sản cho giáo dục, du lịch và công nghiệp văn hóa phải gắn với bảo vệ giá trị truyền thống, duy trì môi trường thực hành và bảo đảm lợi ích cộng đồng.

Hiệu quả bảo tồn cần được đánh giá không chỉ bằng số lượng di sản được kiểm kê, xếp hạng hay phục dựng, mà quan trọng hơn bằng khả năng duy trì thực hành, trao truyền tri thức và phát huy giá trị trong đời sống đương đại. Sự phối hợp giữa Nhà nước, giới nghiên cứu, nghệ nhân, cộng đồng và các tổ chức xã hội là điều kiện để di sản Thăng Long -Hà Nội tiếp tục được gìn giữ, sáng tạo và lan tỏa.

 Chú thích:

1. Bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hoá, phát triển công nghiệp văn hoá thành phố Hà Nội, UBND thành phố Hà Nội, 2023.

2. Đề án bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hoá phi vật thể trong Danh mục do sản văn hoá phi vật thể quốc gia trên địa bàn thành phố Hà Nội đến năm 2025, định hướng đến năm 2030 của Uỷ ban Nhân dân Thành phố Hà Nội.

3. Thông báo ý kiến chỉ đạo của đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại Phiên họp thứ hai của Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển vănn hoá Viêt Nam.

4. Bộ Chính trị, Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 07-01-2026 về phát triển văn hóa Việt Nam.

5. Thông báo Kết luận Phiên họp thứ hai của Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển văn hoá Việt Nam.

6. Kế hoạch Triển khai Chươgn trình hành động số 08-CTr/TU ngày 17-3-1926 của ban Thường vụ Thành uỷ Hà Nôi thực hiện Nghị quyết số 80/NQ/TW ngày 07-0101926 của Bộ Chính trị về phát triển văn hoá Việt Nam.

7. Bộ Chính trị, Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 07-01-2026 về phát triển văn hóa Việt Nam.

8. Thông báo ý kiến chỉ đạo của đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại Phiên họp thứ hai của Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển vănn hoá Viêt Nam.

9. Kế hoạch Triển khai Chươgn trình hành động số 08-CTr/TU ngày 17-3-1926 của ban Thường vụ Thành uỷ Hà Nôi thực hiện Nghị quyết số 80/NQ/TW ngày 07-0101926 của Bộ Chính trị về phát triển văn hoá Việt Nam.

10. Đề án bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hoá phi vật thể trong Danh mục do sản văn hoá phi vật thể quốc gia trên địa bàn thành phố Hà Nội đến năm 2025, định hướng đến năm 2030 của Uỷ ban Nhân dân Thành phố Hà Nội.

11. Đề án bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hoá phi vật thể trong Danh mục do sản văn hoá phi vật thể quốc gia trên địa bàn thành phố Hà Nội đến năm 2025, định hướng đến năm 2030 của Uỷ ban Nhân dân Thành phố Hà Nội.

12. Bảo tồn di sản văn hóa phi vật thể ca trù Hà Nội - Cổng thông tin Sở Văn Hóa Thể Thao Hà Nội.

13. Đề án bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hoá phi vật thể trong Danh mục do sản văn hoá phi vật thể quốc gia trên địa bàn thành phố Hà Nội đến năm 2025, định hướng đến năm 2030 của Uỷ ban Nhân dân Thành phố Hà Nội.

14. Kế hoạch Triển khai Chươgn trình hành động số 08-CTr/TU ngày 17-3-1926 của ban Thường vụ Thành uỷ Hà Nôi thực hiện Nghị quyết số 80/NQ/TW ngày 07-0101926 của Bộ Chính trị về phát triển văn hoá Việt Nam.

15. Kế hoạch Triển khai Chươgn trình hành động số 08-CTr/TU ngày 17-3-1926 của ban Thường vụ Thành uỷ Hà Nôi thực hiện Nghị quyết số 80/NQ/TW ngày 07-0101926 của Bộ Chính trị về phát triển văn hoá Việt Nam.

TS. Nguyễn Thị Lệ Hà
Nguồn bài viết: Viện Sử học
Ý kiến bạn đọc
Họ tên no image
Nội dung no image
Mã kiểm tra no image
Tin xem nhiều
Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tất cả: 1