Tín ngưỡng, nghi lễ của người Lô Lô Đen ở tỉnh Cao Bằng: Giá trị văn hóa và định hướng phát triển
Tín ngưỡng và nghi lễ của người Lô Lô Đen là một hệ thống văn hóa - tâm linh chặt chẽ, phản ánh thế giới quan vạn vật hữu linh, quan niệm phức hợp về linh hồn và mối quan hệ bền chặt giữa con người với tổ tiên, cộng đồng và tự nhiên. Bài viết của TS. Nguyễn Ngọc Thanh và PGS.TS. Lê Hải Đăng đăng trên Tạp chí Thông tin Khoa học xã hội số 3 năm 2026 phân tích những đặc trưng cốt lõi của hệ thống tín ngưỡng, nghi lễ Lô Lô Đen ở tỉnh Cao Bằng. Trên cơ sở so sánh với người Dao và người Hmông, bài viết chỉ ra mức độ thiêng và tính khép kín cao của hệ thống nghi lễ Lô Lô Đen, từ đó bàn luận khả năng ứng dụng vào phát triển du lịch cộng đồng gắn với bảo tồn văn hóa và đề xuất một số định hướng chính sách phù hợp. 

Description: Anh-tin-bai

Ảnh minh họa: Quan lang nhà gái hát đối trong lễ xin dâu trong đám cưới của người Lô Lô Đen

(Nguồn ảnh: Báo Tuyên Quang Online)

Trọng tâm nghiên cứu trước hết tập trung làm rõ thế giới quan “vạn vật hữu linh” và quan niệm về linh hồn trong đời sống tâm linh của người Lô Lô Đen. Theo các tác giả, con người không chỉ tồn tại ở phương diện thể xác mà còn gắn với hệ thống hồn vía có ý nghĩa đặc biệt trong đời sống tinh thần và các nghi lễ truyền thống. Quan niệm này được phản ánh thông qua nhiều thực hành tín ngưỡng, trong đó đỉnh đầu được coi là vị trí linh thiêng gắn với hồn vía của con người; đồng thời hình thành niềm tin vào Thần Đá trong khu rừng cấm - nơi cộng đồng tổ chức các nghi lễ cầu mùa, cầu bình an và gìn giữ sự hài hòa giữa con người với tự nhiên. Đời sống tâm linh của người Lô Lô Đen còn gắn chặt với trống đồng - một biểu tượng văn hóa đặc biệt, giữ vai trò quan trọng trong các nghi lễ truyền thống, nhất là nghi lễ tang ma. Theo nghiên cứu, trống đồng luôn được sử dụng theo cặp đực - cái và chỉ xuất hiện trong những nghi lễ có ý nghĩa đặc biệt đối với cộng đồng. Bên cạnh đó, mối liên kết giữa các thành viên trong dòng họ còn được thể hiện thông qua hệ thống thờ cúng tổ tiên với cách bài trí ban thờ, hình nhân tre và các nghi lễ vòng đời như tục “át vía” khi đón dâu hay nghi lễ “ma khô” (gù mù) nhằm tiễn đưa người đã khuất về với tổ tiên theo quan niệm truyền thống của cộng đồng.

Để làm nổi bật tính đặc thù tộc người, các tác giả đã so sánh hệ thống nghi lễ của người Lô Lô Đen với người Dao và người Hmông. Trong khi nghi lễ người Dao (như lễ cấp sắc) có cấu trúc tương đối mở, dễ tách lớp giữa phần lõi thiêng và phần hình thức để trình diễn trong du lịch, còn nghi lễ người Hmông mang tính linh hoạt, dễ chuyển hóa thành sinh hoạt cộng đồng ngoài trời; thì nghi lễ của người Lô Lô Đen lại có mức độ thiêng cực kỳ cao và cấu trúc khép kín. Các thực hành nghi lễ của người Lô Lô Đen gắn chặt với những không gian văn hóa đặc thù như nhà ở, bếp lửa, nghĩa địa, hang đá và khu rừng cấm; đồng thời phải tuân thủ nghiêm ngặt những quy định, kiêng kỵ liên quan đến trống đồng và các nghi lễ tâm linh. Chính những đặc điểm này tạo nên giá trị riêng của di sản văn hóa Lô Lô Đen, đồng thời cũng đặt ra yêu cầu phải có cách tiếp cận phù hợp trong quá trình bảo tồn và phát huy giá trị, tránh làm ảnh hưởng đến tính nguyên gốc và sự thiêng liêng của các thực hành văn hóa truyền thống.

Description: Anh-tin-bai

Ảnh minh họa: Nghi lễ đón cậu già, cậu non đến nhà chia buồn cùng gia đình vừa đi vừa hát và mời rượu để người đã mất cũng có thể chứng kiến trong lễ ma khô của người Lô Lô Đen ở Cao Bằng

(Nguồn ảnh: Báo Lao động)

Từ thực tiễn đó, nghiên cứu đề xuất các định hướng chính sách quan trọng cho mô hình du lịch cộng đồng tại địa bàn cư trú của người Lô Lô Đen, điển hình là xóm Khuổi Khon (Cao Bằng). Trước hết, cần khẳng định vai trò chủ thể của người dân địa phương trong việc tự quyết định nội dung và mức độ giới thiệu văn hóa ra bên ngoài. Thứ hai, phải phân tách rạch ròi giữa không gian thiêng và không gian du lịch, tuyệt đối không đưa các nghi lễ cốt lõi vào trình diễn trực tiếp. Thứ ba, cần chuyển hướng từ “biểu diễn” sang “diễn giải văn hóa”, tập trung tổ chức các không gian trải nghiệm gián tiếp như xem chế tác trống, nghe kể chuyện và giải thích ý nghĩa biểu tượng vũ trụ. Cuối cùng, Nhà nước cần hỗ trợ kinh phí bảo tồn tại chỗ để nghệ nhân truyền dạy tiếng nói, đồng thời quy hoạch hạ tầng không làm phá vỡ cấu trúc nhà sàn và rừng cấm của bản.

Từ những phân tích trên có thể thấy, bài viết không chỉ góp phần làm rõ những giá trị văn hóa đặc sắc của hệ thống tín ngưỡng và nghi lễ của người Lô Lô Đen ở tỉnh Cao Bằng, mà còn gợi mở cách tiếp cận phù hợp trong quá trình bảo tồn và phát huy di sản văn hóa các dân tộc thiểu số. Thông qua việc kết hợp giữa nghiên cứu lý luận, khảo sát thực tiễn và đối sánh văn hóa, công trình đã cung cấp thêm cơ sở khoa học cho việc xây dựng các chính sách bảo tồn gắn với phát triển du lịch cộng đồng theo hướng bền vững.

Đồng thời, nghiên cứu cũng nhấn mạnh rằng, việc phát huy giá trị di sản văn hóa chỉ có thể đạt hiệu quả lâu dài khi các yếu tố thiêng, không gian văn hóa truyền thống và vai trò chủ thể của cộng đồng được tôn trọng. Đây là một gợi mở có ý nghĩa không chỉ đối với việc bảo tồn văn hóa của người Lô Lô Đen mà còn có giá trị tham khảo đối với công tác bảo tồn và phát huy di sản văn hóa của nhiều tộc người thiểu số ở Việt Nam hiện nay.

Thông tin bài viết:

- Nhan đề: Tín ngưỡng, nghi lễ của người Lô Lô Đen ở tỉnh Cao Bằng: Giá trị văn hóa và định hướng phát triển

- Chủ đề: Dân tộc học, Nhân học, Văn hóa học

- Tác giả: TS. Nguyễn Ngọc Thanh (Hội Dân tộc học và Nhân học Việt Nam); PGS.TS. Lê Hải Đăng (Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam)

- Nguồn trích: Tạp chí Thông tin Khoa học xã hội số 3 năm 2026.

VTT
Nguồn bài viết: Trang Thông tin điện tử Viện Thông tin Khoa học xã hội
Tin xem nhiều
Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tất cả: 1