Tìm hiểu về gỗ Ngọc Am trong khảo cổ học

1. Giới thiệu

Gỗ là một trong các loại vật liệu khá phổ biến trong đời sống hằng ngày. Ngay từ rất sớm, người xưa đã biết tìm kiếm và khai thác nhiều loại gỗ khác nhau để phục vụ cho công cuộc đấu tranh sinh tồn của mình. Các sản phẩm làm ra từ gỗ luôn là thứ gắn bó chặt chẽ với đời sống con người, bắt đầu là thứ phòng thân như gậy chống, gậy dò đường và dùng xua đuổi côn trùng hay rắn rết, vật tạo lửa, nấu ăn và duy trì hơi ấm, vũ khí để chiến đấu, công cụ lao động, nhà che nắng mưa cùng vật dụng sinh hoạt hằng ngày hay làm đẹp trong các dịp lễ hội. Thậm chí, gỗ còn là vật liệu không thể thiếu để chuyên chở linh hồn trong các nghi lễ tiễn đưa người chết về cõi bên kia. 

 Việt Nam là một quốc gia nằm trong vùng nhiệt đới, gió mùa nóng ẩm, mưa nhiều, song lại có nhiều vùng núi cao mang khí hậu cận ôn đới. Theo đó, về tổng thể trên phần đất liền nước ta quần động thực - vật vô cùng phong phú với nhiều giống loài khác nhau (Hoàng Hòe 1998). Ngay từ rất sớm, người xưa trên đất Việt Nam đã biết khai thác và sử dụng nhiều loại gỗ cho những chức năng và công dụng khác nhau. Trong số những loại cây gỗ được tìm thấy trong các cuộc khai quật khảo cổ học, gỗ Ngọc am  dường như luôn thu hút sự quan tâm tìm hiểu của không chỉ những người làm công tác nghiên cứu khảo cổ mà còn đông đảo những người yêu thích sưu tầm tìm hiểu về gỗ Ngọc am và văn hóa cổ truyền dân tộc. Bởi, gắn liền loại gỗ có mùi hương quyến rũ này luôn là những câu chuyện tâm linh và huyền bí về đời sống và số phận con người không chỉ ở thế giới bên kia mà cả trong thời hiện tại hôm nay. Măc dù, cho đến nay thông tin về loại gỗ này vẫn còn nhiều điểm chưa rõ ràng, nên thường dẫn đễn những hiểu sai lệch về nguồn gốc cũng như công năng của loại gỗ này. Bài viết qua tìm hiểu thực địa và đối chiếu, kết nối các nguồn dữ liệu liên quan, nhằm góp thêm thông tin tìm hiểu về loại gỗ khá thường gặp trong khảo cổ học, song quý hiếm đến gần như tuyệt chủng và có đôi chút thần bí này (Hình 1).

Anh-tin-bai
Hình 1. Đồ trang sức làm từ gỗ Ngọc am tại cao nguyên đá  Đồng Văn (Hà Giang) - (Nguồn: Nhóm tác giả)

2. Về tên gọi gỗ Ngọc am

Năm 2010, trong một chuyến công tác thực địa trên vùng công viên địa chất toàn cầu “Cao nguyên đá Đồng Văn”, sau nhiều ngày theo dấu các di tích khảo cổ, đang ngồi nghỉ bên đường thì chúng tôi được một người bạn kỹ sư làm việc ở công viên chỉ vào một thân cây gỗ chỏng trơ gần đó và bảo đó là gỗ Ngọc am. Tò mò, chúng tôi lấy dao cạo thử và một mùi thơm thoang thoảng tỏa ra như xác nhận lời của người bạn đồng hành về loại gỗ huyền bí này.

Thực ra, trước đó không lâu chúng tôi cũng đã có vài lần làm thí nghiệm đo tuổi carbon phóng xạ cho một số mẫu là gỗ Ngọc am, song do là gỗ quan tài nên trong quá trình thực hiện chúng tôi luôn phải sử dụng khẩu trang, găng tay và tủ hút khí độc nên cũng chẳng biết mùi vị của loại gỗ này ra sao? Chỉ sau đó, khi được xem lại báo cáo của các đoàn công tác thì mới biết đó là gỗ Ngọc am, một loại gỗ quý, trước kia chuyên được dùng làm quan tài cho các bậc vua chúa, hoàng tộc, người giàu có và quyền quý …. Theo đó, chúng tôi cũng có hiểu biết sơ lược rằng, đó là một loài cây thân gỗ lớn, đường kính có thể lên tới hơn 1m và chiều cao có thể đạt tới 30 - 35m, lá kim, hạt trần, sinh trưởng chủ yếu trong vùng khí hậu ôn đới hay cận ôn đới.

Chúng tôi có đề nghị với đoàn khảo sát là trên đường đi khảo sát nếu bắt gặp nơi nào có cây Ngọc am đang sinh trưởng, thì dừng lại để có thể tìm hiểu chi tiết hơn. Nhưng rất tiếc, cả 4 ngày sau đó chúng tôi không thấy được cây Ngọc am còn sống nào, mặc dù đã đi được một quãng đường khá dài, lòng vòng trong khu vực “Công viên địa chất toàn cầu” này và vẫn thấy đây đó những đống rễ, thân cây Ngọc am được đồng bào địa phương sưu tầm về để chờ bán hoặc trưng cất tinh dầu. Chứng tỏ sự cạn kiệt và nguy cơ tuyệt chủng của loại cây này trong công viên địa chất, tại nơi vẫn được cho là vùng thích nghi sinh trưởng.

Tìm hiểu về cây gỗ Ngọc am  trên nguồn Bách khoa toàn thư mở (Wikipedia 2022) và Tra cứu thực vật trên không gian mạng (Google.com) với từ khóa ban đầu là “Ngọc am” đã dần dẫn đến nhiều từ liên quan khác như: “Hoàng đàn”,  “Hoàng đàn rủ”, “Bách xanh”, “Tùng thơm”, “Trắc bách diệp”, “Bách mộc”, “Bách khóc”, “Pơ mu; “Sa mu”…Từ đó, tìm về những nguồn tài liệu tham khảo có độ tin cậy cao hơn, như: Viện Khoa học lâm nghiệp Việt Nam (2023); Viện Thực vật học Trung Quốc (2009); Viện Nghiên cứu đàn hương và thực vật quý hiếm; Hoàng Hòe (1998); Fu Liguo et al (1999); Lưu Nguyễn Đức Tố và nnk (2004); Trung tâm dữ liệu thực vật Việt Nam (2009).

Kết quả cho thấy thông tin về loại gỗ này vô cùng phong phú, song ít thống nhất, một số tài liệu cho rằng cây gỗ Ngọc am là thuộc chi, họ Hoàng đàn, số khác lại không cho là vậy, nên dễ gây bối rối và hiểu lầm cho người ham mê tìm hiểu về loại gỗ có hương thơm đặc biệt này. Để tiện theo dõi, theo cách phân loại truyền thống trong thực vật học, chúng tôi cố gắng sắp xếp mối quan hệ giữa các loài cây liên quan theo trình tự: Giới - Ngành - Lớp - Bộ - Họ - Chi - Loài. Trong đó, tập trung chủ yếu vào hai hạng mục cuối cùng là Chi (Genus) Loài (Species), như trong (Hình 2).

Anh-tin-bai
Hình 2. Sơ đồ biểu diễn mối quan hệ của các loại cây trong họ Hoàng đàn (Nguồn: https://en.wikipedia.org)

Trong sơ đồ trên, Hoàng đàn là một họ thực vật thuộc ngành hạt trần, có tên khoa học là Cupressaceae, họ này bao gồm khoảng 27 - 30 chi và có tổng số tới khoảng 130 - 140 loài, phân bố khá rộng khắp ở các vùng có khí hậu cận ôn đới thế giới  (Christopher J. Eagle 2024; https://en.wikipedia.org và https://vi.wikipedia.org). Trong đó, có một số loài thuộc họ này đã từng sinh trưởng nhiều ở vùng núi cao ở Bắc Việt Nam, nhưng nay đã không còn thấy hoặc đang vào sách đỏ với nguy cơ tuyệt chủng rất cao, như: Sa mộc dầu (Cunninghamia konishii);  Hoàng đàn hữu liên (Cupressus tonkinensis); Thông nước (Glyptostrobus pensilis); Bách Đài Loan (Taiwania cryptomerioides); Bách vàng (Xanthocyparis vietnamensis, Cupressus vietnamensis) (Trung tâm dữ liệu thực vật Việt Nam 2009, Văn phòng Chính phủ 2021).

Tìm kiếm thông tin theo tên gọi địa phương về một số cây thân gỗ lớn có những tính chất gần gũi với loại cây Ngọc am trong khảo cổ học, như: Ngọc am, Hoàng đàn rủ, Hoảng đàn liễu, Bách mộc, Bách khóc, Hoàng đàn hữu liên…Sau đó, kết hợp với tra cứu tìm kiếm những danh pháp khoa học đồng nghĩa liên quan đến những loại cây này, chúng tôi sắp xếp, định loại quan hệ của một số loại cây phổ biến trong họ Hoàng đàn sinh trưởng ở Việt Nam mà có gắn bó với loại gỗ Ngọc am đã tìm thấy trong khảo cổ học, như chỉ trong Bảng 1.

Bảng 1. Một số cây thân gỗ lớn thuộc họ Hoàng đàn trong vùng Bắc Việt Nam

TT

Tên Việt Nam

Loài (Species)

Chi (Genus)

Họ (Famillia)

1

Bách vàng

Xanthocypariis vietnamensis

Bách vàng Calliropsis (Xanthocyparis)

Hoàng  đàn Cupressaceae

2

Bách xanh (Tùng hương, Pơ mu giả, Trắc bách diệp núi)

Calocedrus macrolepis

Tuyết Tùng Calocedrus

Hoàng đàn Cupressaceae

3

Hoàng đàn hữu liên

Cupressus tonkinensis 

Hoàng đàn

Cupressus

Hoàng đàn Cupressaceae

4

Ngọc am  (Hoàng đàn rủ,  Hoàng đàn liễu, Bách mộc, Bách khóc Trung Quốc)

Cupressus funebris (Chamaecyparis funebris; Cupressus pendula; Platycladus  funebris, Chinese weeping cypress, Juniperus quaternata, Callitropsis funebris)

Hoàng đàn

Cupressus

Hoàng đàn Cupressaceae

5

Hoàng đàn (Tùng có ngấn)

Cupressus torulosa

Hoàng đàn

Cupressus

Hoàng đàn Cupressaceae

6

Bách Vân Nam

Cupressus duclouxiana

Hoàng đàn

Cupressus

Hoàng đàn Cupressaceae

7

Bách Địa Trung Hải

Cupressus sempervirens

8

Bách Atlantic,

Cupressus atlantica

9

Bách Cashmia (Bách Butan)

Cupressus Cashmeriana

10

Bách Leyland

Leyland cypress

11

Tùng thơm, Thông Chanh, (Tuyết tùng chanh vàng)

Cupressus macrocarpa var. goldcrest

12

Trắc bách diệp (Trắc bá diệp)

Hoàng đàn

Cupressus

Hoàng đàn Cupressaceae

13

Pơ mu (Bách Phúc Kiến)

Fokienia hodginsii

Pơ mu

Fokienia

Hoàng đàn Cupressaceae

14

Sa mu (Sa mộc, Thông mụ)

Cunninghamia lanceolata

Sa mộc

Cunninghamia

Hoàng đàn Cupressaceae

15

Sa mu dầu (Sa mộc dầu)

Cunninghamia konishii

Sa mộc

Cunninghamia

Hoàng đàn Cupressaceae

Trong bảng trên, có thể thấy có một số loài cây tuy thuộc họ Hoàng đàn, song không cùng chi Hoàng đàn (Cupressus), nhưng gỗ có tinh dầu và thực tế được khai thác sử dụng tương tự như các loại cây gỗ thuộc chi Hoàng đàn, nên chúng tôi cũng nêu dẫn ra đây để người đọc thuận tiện tham khảo, so sánh, bởi cũng có một số nhà sưu tầm thường hay bị nhầm lẫn giữa cây gỗ Ngọc am (Cupresses funebris) và cây Samu dầu (Cunninghamia konishii hayata) hay cây Tuyết tùng nghĩa là cây tùng sống ở nơi núi có tuyết (Sinh vật rừng Việt Nam 2024)

Như vậy, tuy có một số tên gọi khác nhau, song Ngọc am đều đã được xem có cùng chi Hoàng đàn (Cupressus), thuộc họ Hoàng đàn (Cupressaceae) và có những tên gọi địa phương khá phổ biến là: Hoàng đàn rủ,  Hoàng đàn liễu, Bách mộc, Bách khóc Trung Quốc… và những tên khoa học đồng nghĩa là: Cupressus funebris; Chamaecyparis funebris; Cupressus pendula; Platycladus  funebris; Chinese weeping cypress; Juniperus quaternata; Callitropsis funebris…Theo đó, bước đầu có thể nhận định tên gọi địa phương của Ngọc am hay Hoàng đàn rủ là cây loại cây thân gỗ lớn, lá kim, thuộc chi Hoàng đàn (Cupressus), có tên khoa học là Cupressus funebris.

Vậy, những cây gỗ Ngọc am tìm thấy trong khảo cổ học và được cho là đã từng sinh trưởng nhiều ở vùng núi cao Hà Giang thuộc loài nào trong số những loài kể tên trên? So sánh thông tin về loài Cupressus funebris nêu trên với tư liệu nhận được về các loại gỗ Ngọc am trong khảo cổ học, như: Đó là loại cây thân gỗ lớn (để có thể được dùng làm tượng, quan tài, cột nhà…); có mùi thơm đặc trưng; có nguồn gốc theo dân gian truyền lại là chủ yếu được khai thác từ những vùng núi cao có khí hậu cận ôn đới và gỗ sau thời gian sử dụng thường có lớp phủ màu trắng xốp dạng bông tuyết…(Hình 3). 

Anh-tin-bai
Hình 3. Khi bay, hơi tinh dầu Ngọc am thường để lại lớp cặn bám trắng như tuyết trên bề mặt gỗ - (Nguồn: Nhóm tác giả)

Ngoài ra, kết quả phân tích mẫu tinh dầu lấy từ gỗ Ngọc am khảo cổ học và tinh dầu lấy từ các gốc cây Ngọc am tìm thấy ở Hà Giang cũng cho thấy chúng đều có các thành phần chính tương tự nhau là: α-cedrene (16.9%), cedrol (7.6%) và β-cedrene (5.7%).

Từ đó, có thể xác định rằng những cây gỗ Ngọc am trong khảo cổ học là một loài cây gỗ lớn thuộc họ Hoàng đàn (Cupressaceae), chi Hoàng đàn (Cupressus) và có một số tên gọi khác như: Hoàng đàn rủ, Hoàng đàn liễu, Bách mộc, Bách khóc Trung Quốc…và cũng có một số tên khoa học đồng nghĩa khác là: Cupressus funebris, Chamaecyparis funebris; Cupressus pendula, Platycyparis funebris… Ngoài ra, theo Viện Thực vật học Trung Quốc, nó cũng còn một số tên gọi dồng nghĩa khác như là: Juniperus quaternata; Cupressus funebris var. gracilis; Callitropsis funebris, Chinese weeping Cypress (http://plantplus.cn).

Dù vậy, theo phần lớn tài liệu công bố, danh pháp khoa học đang được sử dụng phổ biến hiện nay vẫn là: Cupressus funebris (Xiang Q et.al  2013; Christopher J Earle 2024). Theo đó, có thể hình dung những cây Ngọc am trong khảo cổ học qua so sánh với một số cây Cupressus funebris hiện còn thấy trên thế giới và như được chỉ trong các (Hình 4, và 5).

Anh-tin-bai
Cupressus funebris

Hình trên cho thấy, Cupressus funebris là loại cây có thân gỗ lớn, có tán hình tháp, cây trưởng thành có thể cao đến 30 - 35m, đường kính ngang ngực đến 1 - 2m. Vỏ cây nhẵn và màu nâu, nhành cành thường nằm ngang, rủ xuống ít hướng lên trên. Các cành con xếp thành một mặt phẳng, rủ xuống, màu xanh lá cây, mảnh, dẹt, rộng khoảng 1mm. Lá non, thường có màu xanh lam mềm dài 4 - 7mm, mọc vòng gồm 2 hoặc 4 lá và được giữ lại lâu trong quá trình sinh trưởng. Trong khi đó, lá trưởng thành có màu xanh lục nhạt hoặc xanh lục xám, dày đặc, xếp vảy, hai hàng dài 1 -1,5mm, vút nhọn ở đầu; các cặp lá mặt có đường thẳng ở phía sau trục; các cặp lá bên gấp đối diện nhau, chồng lên phần gốc của các cặp lá mặt, có gờ ở phía sau trục.

Nón phấn hình elip hoặc hình trứng, 2,5 - 5mm; 10 - 14 bào tử. Nón phấn hình elip hoặc hình trứng, 2,5 - 5mm; vi bào tử 10 - 14. Nón hạt khi chín có màu nâu sẫm, hình cầu, đường kính 0,8 - 1,5cm, mỗi vảy hữu thụ có 3 - 5 (hoặc 6  hạt). Hạt màu nâu nhạt, bóng, hình trứng ngược hình thoi hoặc gần tròn, dẹt, 2,5 - 3,5mm  (Fu et al 1999). Minh họa chi tiết các đặc điểm về lá và nón quả của lại cây này được trình bày trong (Hình 6).

Anh-tin-bai
Hình 6. Đặc điểm cấu tạo cành nhánh, hoa, nón và nón quả của câyCupressus funebris - (Nguồn: Fu et al 1999)

Chi tiết về những đặc điểm để có thể nhận biết cây Ngọc am theo cấu trúc lá và nón quả cây Hoàng đàn rủ (Cupressus funebris) được trình bày trong Hình 7.

Anh-tin-bai
Hình 7. Lá như có vảy, xanh phớt lam, nón quả màu xanh, khi khô nứt và có màu nâu - (Nguồn: Fu et al 1999)

Ở Việt Nam, theo một số nhà nghiên cứu, trước đây cây Ngọc am hay Hoàng đàn rủ thường được thấy dưới dạng một vài hay hàng chục cá thể sinh trưởng gần nhau trong các vùng núi cao của tỉnh Hà Giang (Lưu Nguyễn Đức Tố 2004., Nguyễn Tiến Hiệp và nnk 2009). Đó là loại cây gỗ thường xanh, khi trưởng thành có thể cao tời 20 - 30m với đường kính trên 50cm, lá dạng kim có cấu trúc xếp vẩy và rủ xuống ở đầu nhánh cành, gỗ có tinh dầu mang mùi thơm đặc trưng, được xếp vào chi Hoàng đàn (Cupressus), họ Hoàng đàn (Cupressaceae), thuộc bộ Thông (Pinales). 

Gần đây, theo thông báo của nhóm các nhà nghiên cứu ở Viện Khoa học lâm nghiệp Việt Nam, các nhà khoa học lâm nghiệp đã phát hiện và nghiên cứu bảo tồn thành công cây Hoàng đàn hữu liên có tên khoa học là Cupressus tonkinensis một loại Hoàng đàn đặc hữu tìm thấy ở vùng núi đá vôi trong huyện Hữu Liên, tỉnh Lạng Sơn và đã được J. Silba mô tả khoa học đầu tiên vào năm 1994 (Nguyễn Tiến Hiệp và nnk 2009; Viện Khoa học lâm nghiệp Việt Nam 2020). Tuy nhiên, trong một công bố khác về hai cá thể được gọi là Cupressus tonkinensis  ở Hữu Liên một số nhà khoa học lại gọi tên Việt Nam của chúng là Hoàng đàn tíaHoàng đàn rủ mặc dù vẫn xếp chúng vào cùng một giống loài (Vũ Đình Duy và nnk 2011). Điều này cho thấy rằng tên gọi Ngọc am hay Hoàng đàn rủ đều có những mối liên hệ khá chặt chẽ đến giống loài Hoàng đàn hữu liên Cupressus tonkinensis, bởi không những giống nhau về môi trường và khu vực sinh trưởng mà tán cây, nhánh lá và nón quả của chúng cũng khá giống nhau  (Hình 8).

Anh-tin-bai
Hình 8. Tán cây, nhánh lá và nón quả của Hoàng đàn hữu liên - (Nguồn: Viện nghiên cứu cây đàn hương và thực vật quý hiếm)

Như vậy, nếu Ngọc am còn có tên địa phương là Hoàng đàn tía, Hoàng đàn rủ thì cũng chính là Hoàng đàn hữu liên với khoa học là Cupressus tonkinensis vẫn thuộc họ Hoàng đàn (Cupressaceae) chi Hoàng đàn (Cupressus). Và, đó sẽ là điều may mắn với những người đam mê sưu tầm và nghiên cứu loại cây này, bởi sẽ dễ dàng hơn nhiều khi không phải tìm hiểu thông tin về cây Ngọc am từ những cây Cupressus funebris đang sinh trưởng ở những vùng xa xôi.

3. Gỗ Ngọc am trong khảo cổ học

Gỗ Ngọc am có đặc tính càng già càng thơm, phần gốc thơm hơn phần ngọn, vùi càng lâu dưới đất càng thơm. Một công dụng khác khiến Ngọc am được giới nhà giàu (đại gia) ráo riết săn tìm, bởi nó còn được là một biểu tượng tâm linh. Các tượng Phật, tượng trang trí, tràng hạt, gối đầu… bằng gỗ Ngọc am được cho rằng có tác dụng có thể đuổi tà khí, đón rước thịnh vượng về nhà, khi xưa chỉ bậc đế vương mới dám dùng. Tuy nhiên, với phương pháp tiếp cận khảo cổ học chúng ta có một số thông tin về gỗ Ngọc am với một số loại hình như sau:

3.1. Gỗ Ngọc am làm quan tài

i) Câu truyện về gỗ Ngọc am đã được dùng làm quan tài ở Việt Nam, biểu hiện cho quyền lực, giàu sang và sự phú quý, có lẽ được bắt đầu từ một ngôi mộ cổ ở trên một quả đồi nhỏ xưa kia cây cối um tùm, dân làng thường gọi là “rừng cấm” thuộc làng Bái Trạch, huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa. Tháng 2 năm 1958, một nông dân, khi phát hoang làm vườn đã cuốc phải quách mộ và thấy ở bên trong có một quan tài sơn son. Một nhát búa bổ vào quan tài khiến từ quan tài tỏa ra mùi thơm. Ngay bấy giờ đã có nghi rằng ngôi mộ này là của vua Lê Dụ Tông nhà Lê, nên chính quyền đã cho trát kín lại bằng xi măng và giao cho dân xã trông nom. Tuy nhiên, vào tháng  4 năm 1964, do ngôi mộ ngày càng lộ ra khỏi mặt đất, nước mưa thấm vào, nên được Bộ Văn hóa cho phép Đội Khảo cổ tiến hành khai quật và quan tài đã được mang về Hà Nội nghiên cứu. Theo lịch sử, vị vua này sinh 1679 và mất vào tháng 2 năm 1731.

Theo những người tham gia khai quật, quan tài vua được làm bằng gỗ Ngọc am, một loại gỗ thơm (lõi cây thông); gỗ mịn, nặng, rất quý mà người Trung Quốc gọi là san mộc, có nhiều ở Hà Giang, Lào Cai. Khi xưa, người Trung Quốc vẫn thường mua ở Việt Nam về dùng làm áo quan. Khi mới đào lên, gỗ Ngọc am vẫn thoang thoảng mùi thơm và tuy đã chôn dưới đất nhiều năm, quan tài vẫn không chỗ nào mục nát (Baotanglichsu.vn).

Từ đó đến nay, những ngôi mộ có liên quan đến gỗ Ngọc am đã được phát hiện ở nhiều nơi trong cả nước. Nơi phát hiện khá nhiều mộ hợp chất bằng Ngọc am là vùng Hưng Yên, Hải Dương. Những ngôi mộ này có từ thời Hậu Lê, kéo dài đến tận thời Nguyễn. Chẳng hạn như:

ii) Ngôi mộ cổ ở xã An Vĩ, huyện Khoái Châu, tỉnh Hải Dương. Ngôi mộ này được người dân phát hiện khi đào mương thoát nước. Tuy nhiên, khi các nhà khảo cổ tiếp cận hiện trường, xác ướp trong ngôi ngôi mộ đã bị phân hủy khá nhiều và bốc mùi hôi khó chịu. Theo báo cáo khai quật, mộ được xây theo kiểu trong quan ngoài quách. Quan tài được làm bằng 4 tấm gỗ dày, kích thước lớn và hai tấm vuông ở đầu và chân. Quan tài khá nặng và được ghép nối bằng các khớp mộng và chốt gỗ chắc chắn (Hình 9).

Anh-tin-bai
Hình 9. Quan tài quan tư đồ Nguyễn Bá Khanh - (Nguồn: Báo Tri thức & Cuộc sống 2014)

Quách được xây bằng hợp chất làm từ vỏ sò đốt cháy trộn với mật đường và xơ giấy bản, quan tài làm bằng gỗ Ngọc am . Xác ướp được mặc 12 lớp áo, để bên ngoài 20 bộ. Số vải dùng để khâm liệm là 500m2.

Các hiện vật khác gồm một hộp đựng dầu bằng gỗ và một cái quạt. Tấm minh tinh với 72 chữ có ghi chức danh mạ vàng vẫn còn nguyên. Cho phép xác định  xác ướp là Đại Tư đồ, Quận công, quan Thái giám Nguyễn Bá Khanh mất vào cuối thế kỷ XVIII, thọ 64 tuổi.

Ông sinh ra và lớn lên tại An Vĩ, ông làm quan duới triều vua Lê Hiển Tông, giữ nhiều chức vụ quan trọng trong triều đình. Nhờ có nhiều công lao với triều đình Hậu Lê nên khi tuổi cao ông đuợc nhà vua ban thưởng nhiều bổng lộc, cho về quê an nghỉ. Lăng mộ đã được ông cho xây dựng vào năm 1770. Nghiên cứu lăng mộ này đã làm sáng tỏ nhiều phương diện về phong tục tập quán, nghề cổ truyền, về văn hóa của người Việt thời Lê Trung Hưng. Di tích hiện nay và đã được xếp hạng di tích cấp quốc gia.

iii) Ngôi mộ ở làng Kiệt Thượng, xã Văn An, huyện Chí Linh, tình Hải Dương. Ngôi mộ này được cho là của cụ bà Nguyễn Thị Đức, là thân mẫu của cụ Vũ Hồn, thuộc tổ tiên của họ Vũ - Võ, hiện đang thờ trong ngôi đền lớn ở làng Mộ Trạch (xã Tân Hồng, huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương). Theo người dân kể lại, khi họ dùng xà beng bật nắp áo quan, một mùi thơm mát của dầu Ngọc am lan tỏa rất dễ chịu, không thấy mùi hôi thối bốc lên như ở những ngôi mộ bình thường khác. Khi soi đèn pin vào trong áo quan, thấy xác ướp quấn vải nổi lềnh bềnh trong lớp tinh dầu đặc sánh. Đồ tùy tàng chỉ vài đồ gốm như bát đĩa, cối giã trầu và vài đồng tiền xu cùng một số vật dụng nhỏ khác (Baotanglichsu.vn).

iv) Ngôi mộ nằm ở khu vườn đào Nhật Tân, phường Nhật Tân, quận Tây Hồ, thành phố Hà Nội. Ngôi mộ đã được phát hiện tình cờ khi tiến hành giải phóng mặt bằng xây dựng khu đô thị mới. Ngay sau đó, một cuộc khai quật khảo cổ học chữa cháy ngôi mộ này đã được tiến hành năm 2005. Theo các nhà khoa học khai quật mộ cổ, khi mở nắp quan tài ra, mùi thơm của tinh dầu Ngọc am còn phảng phất bay khắp xung quanh, xác chết vẫn còn nguyên vẹn, nổi lềnh phềnh trên bồn chất lỏng sánh đặc, nhưng không ai thấy sợ, bởi không phải thứ mùi đặc trưng, hôi ngai ngái của xác chết bay lên, mà là một thứ mùi thơm thoang thoảng rất dễ chịu lan tỏa khắp không gian (Hình 10).

Anh-tin-bai
Hình 10. Quan tài gỗ Ngọc am ở Nhật Tân - (Nguồn: Báo Tri thức & Cuộc sống 2014)

So sánh với những ngôi mộ đã tìm thấy trước đó, những người khai quật cho rằng mộ này có quan tài được làm bằng gỗ Ngọc am và người xưa đã sử dụng thêm tinh dầu gỗ Ngọc am để ướp xác. Ngôi mộ cổ này có niên đại khoảng đầu thế kỷ XVIII và được cho là gần sát với giai đoạn an táng Tiến sĩ Nguyễn Kiều. Ông là người xã Phú Xá, sinh năm 1695, đỗ tiến sĩ năm 1715, được dựng bia tại Văn Miếu năm 1717, mắt năm 1752.

Theo gia phả dòng họ Nguyễn, vào năm 1752, khi ông mất, nhà Hậu Lê đã xây mộ, cấp đất và đưa thi hài ông về đây an táng. Cách đó khoảng 2km, nằm trong khu dân cư là mộ phần của vợ ông là nữ sĩ Đoàn Thị Điểm mà cũng theo ghi chép của dòng họ Nguyễn, lúc sinh thời, ông Nguyễn Kiều cũng đã đưa hài cốt của bà về an táng tại đây. Chứng tỏ, kể  từ thời Lê Trung Hưng, giới vua chúa và quan lại giàu đã rất phổ biến sưu tầm và sử dụng quan tài Ngọc am và tinh dầu Ngọc am để làm nơi an nghỉ cuối đời của mình. Tuy nhiên, tập tục này gần như là không còn thấy xuất hiện ở những giai đoạn sau nữa và lý do có thể là đã không còn dồi dào nguồn gỗ Ngọc am nữa.

3.2. Gỗ làm tượng Phật

Gần đây, chúng tôi có dịp được tiếp xúc và nghiên cứu một số pho tượng Phật trong bộ sưu tập An Biên - Hải Phòng (Hình 11).

Anh-tin-bai
Hình 11. Một số tượng Phật bằng gỗ Ngọc am trong bộ sưu tập An Biên - Hải Phòng - (Nguồn: Nhóm tác giả)

Phần lớn các pho tượng được làm từ một thân cây gỗ nguyên khối và tỏa ra mùi thơm nhẹ. Gỗ có cấu trúc rắn và xốp với nhiều ô xoang nhỏ li ti kết nối nhau chứa tinh dầu, song có một số ô xoang do lượng tinh dầu trong đó đã bay thoát ra ngoài nên tạo thành các ô xoang rỗng. Theo thời gian, một lượng lớn tinh dầu và nước trong các ống mao mạch gỗ bay đi hết, làm cho các pho tượng gỗ Ngọc am này trở nên nhẹ như chỉ bằng khoảng một nửa so với gỗ thông thường.

Điều thú vị là trong các ống mao mạch và bề mặt gỗ có thấy bám dính những tinh thể hình kim màu trắng mà các nhà sưu tập hay gọi là gỗ mọc tuyết. Nhờ đó, những pho tượng Phật làm bằng gỗ Ngọc am thường thêm sắc màu huyền ảo, kỳ bí. Tượng có thể được tô sơn hoặc và đắp các mảng màu sắc khác nhau, song tổng thể tượng luôn có tỷ trọng nhẹ hơn nước, do đã có một lượng tinh dầu và hơi nước đáng kể chứa trong các hốc xoang mạch gỗ bay hơi qua thời gian sử dụng.

Kết quả phân tích từ phòng Thí nghiệm Khảo cổ học đã cho thấy, loại gỗ sử dụng để chế tác các bức tượng này là loại gỗ Ngọc am, Trên bề mặt gỗ làm tượng có một lớp cặn lắng đọng kiểu bụi tuyết màu trắng, đó là kết tinh của thành phần chất nặng không bay hơi của tình dầu gỗ Ngọc am (Hình 3).

3.3. Gỗ làm cột chùa

Nhờ đặc tính tỏa ra mùi thơm mà phần lớn gỗ Ngọc am được dùng trong mục đích tạo hương liệu, làm tượng hay làm quan tài cho các bậc quyền quý. Tuy nhiên, một số tài liệu gần đây cho thấy, trong một số chùa cổ ở vùng Bắc Bộ, gỗ Ngọc am cũng đã được sử dụng để tăng tính tôn nghiêm và quý hiếm, như:

- Trong khu di tích Chùa Thầy, ở huyện Hoài Đức thành phố Hà Nội, tại Điện Thánh ở chùa Thượng Điện có một bộ khung bằng gỗ gồm 4 cột cái và 16 cột quân. Trong số 4 cột cái đó, có một cây cột bằng gỗ Ngọc am và một cây cột gỗ bằng gỗ chò vẩy có chu vi tới 1,8m (Cục Di sản văn hóa 2014). Các cây cột này được coi là vô cùng quý giá bởi đã có tuổi gần 1000 năm, kể từ khi chùa được dựng đến nay.

- Tại chùa Quỳnh Lâm, phường Tràng An, thị xã Đông Triều, trong ngôi điện lớn ngoài cùng còn gọi là Thích Ca Phật điện, có nhiều cột gỗ lớn, trong đó có hai cột gỗ Ngọc am rất quý với đường kính hơn 100cm, có mùi thơm tự nhiên đặc trưng rất dễ chịu (Báo Quảng Ninh 2021). Chùa Quỳnh Lâm được cho có lịch sử khởi dựng từ thời Lý và trùng tu lớn vào thời Trần, Lê, Nguyễn. Tuy không rõ các các cột gỗ Ngọc am này được đưa vào chùa giai đoạn nào, song cũng phần nào cho thấy sự quý hiếm và tôn nghiêm của nơi thờ tự. Ngoài ra, trong chùa còn có tấm bia đá cổ, minh chứng rõ ràng cho lịch sử hàng ngàn nay của chùa.

Như vậy, trong khảo cổ học, nhìn chung gỗ Ngọc am thường thấy dưới dạng là các hiện vật mang tính chất tâm linh như: Cột gỗ ở một số chùa đình đền ở Bắc Việt  Nam; Tượng Phật trong sưu tập An Biên - Hải Phòng mà  kết quả xác định niên đại carbon phóng xạ  (14C) và nghiên cứu so sánh phong cách trang trí trên tượng cho thấy những tượng gỗ nêu trên có niên đại từ thế kỷ XVII đến thế kỷ XIX. Kết quả này cho thấy tập quán sử dụng những cây gỗ Ngọc am làm tượng Phật cũng có khoảng thời gian tương đương với truyền thống sử dụng gỗ Ngọc am để ướp xác trong mộ hợp chất. bắt đầu vào khoảng thế kỷ XVII.

Như vậy, việc phát hiện những cây gỗ Ngọc am được sử dụng trong những không gian tín ngưỡng linh thiêng ở vùng Bắc bộ đã phần nào cho thấy tên gọi Ngọc am của loại gỗ này là có mối liên hệ với một số tập quán truyền thống sử dụng loại gỗ này như: Làm tượng Phật; Làm cột chùa hay làm quan tài cho các bậc“đế vương, quyền quý” sang thế giới bên kia. Bởi, theo nghĩa Hán -Việt, chữ Ngọc am gồm có: Ngọc là quý và am là nơi thờ Phật, theo đó có thể hiểu gỗ Ngọc am  có nghĩa là loại gỗ quý dùng để làm chùa hay làm tượng Phật.

Ngoài ra, trong dân gian gỗ Ngọc am được biết đến với nhiều tên gọi địa phương khác nhau và thường làm liên tưởng đến sự bi ai như: Hoàng đàn rủ, Hoàng đàn liễu, Bách mộc (柏木), Bách khóc…Tên Trung Quốc là Bách khóc (Weeping crypress), còn tên La tinh thì ngoài từ Cupresssus cũng thường gắn với từ funebris, mà có thể tạm hiểu là nấm mồ (Christopher J. Earle 2024). Phải chăng từ này đã được gắn vào cũng bởi thói quen sử dụng loại gỗ này làm quan tài trong văn hóa truyền thống của người Phương Đông thời kỳ này.

4. Thị trường gỗ Ngọc am hiện nay

Tinh dầu gỗ Ngọc am có mùi thơm đặc trưng và tính kháng khuẩn, đặc tính này cho phép có thể nhận biết gỗ Ngọc am giữa nhiều loại gỗ có tinh dầu khác. Tinh dầu gỗ Ngọc am có nhiều công dụng, như: Khử trùng, chống viêm, an thần, giúp nhanh bình phục vết thương, đuổi muỗi côn trùng, diệt nấm mốc...Ở nồng độ nhẹ, tinh dầu Ngọc am có mùi thơm thoang thoảng dễ chịu cho cảm giác an thần ấm áp, song khi nồng độ cao thì dễ gây choáng váng, thậm chí với một số người có thể gây kích ứng trên da nếu sử dụng với 1 lượng quá nhiều. Do vậy, một số nhà sản xuất đã có khuyến cáo sử dụng tinh dầu Ngọc am như: Không sử dụng cho phụ nữ đang mang thai; Có thể gây nôn mửa, buồn nôn, khát và làm tổn hại cho hệ tiêu hóa nếu dùng tùy tiện không đúng cách.

Hoạt chất cedrol trong tinh dầu Ngọc am có thể làm hạ huyết áp, vì vậy những người huyết áp thấp hoặc suy giảm chức năng tuần hoàn não nên thận trọng khi dùng vì có thể làm hạ huyết áp gây chóng mặt. Tuy nhiên, vài chục năm trở lại đây, thị trường gỗ và tinh dầu Ngọc am đang có dấu hiệu sôi động trở lại. Nhiều người đã chịu bỏ ra một khoản tiền lớn để được sở hữu một hiện vật nào đó được từ gỗ Ngọc am, với niềm tin chắc rằng loại gỗ thơm này sẽ cho tinh thần thư thái, diệt trừ tai ương và mang đến những điều may mắn cho gia chủ. Gần đây, gỗ Ngọc am càng được săn tìm ráo diết cho những nhu cầu chăm sóc sức khỏe làm bồn tắm, chậu ngâm chân, ốp vách phòng xông hơi, vòng đeo tay sử dụng như là những liệu pháp hương liệu, dược liệu. Phần gỗ vụn, mùn cưa và các mảnh rễ nhỏ sẽ được bào nhỏ và chưng cất lấy tinh dầu.

Nghiên cứu thành phần cũng cho biết, tinh dầu gỗ Ngọc am được đặc trưng bởi 2 chất liệu chính Cedrene và Cedrol. Bởi vậy, tinh dầu của những cây bộ thông có mang 2 chất liệu này thì mùi hương của chúng cũng gần giống với mùi hương của tinh dầu Ngọc am và thường được gọi tên chung là: Cedar wood essential oil. Do vậy, ngoài gỗ Ngọc am, niềm tin vào phong thủy từ những cây gỗ thơm cũng mở rộng, gắn liền với nhiều loài cây thuộc họ Hoàng đàn (Cupressaceae) với các chi loài, như:  Pơ mu, Bách Phúc Kiến (Fokienia hodginsii); Bách xanh, Tùng hương (Calocedrus macrolepis), Hoàng Đàn, Tuyết Tùng (Cedarwood) và một số thực vật lá kim khác. Bởi gỗ của các chi loài này cũng có đặc tính như hương thơm, chứa tinh dầu, bền vững theo thời gian, có những cây gỗ đã tồn tại hàng trăm năm, thậm chí gần nghìn năm và có rất nhiều niềm tin tưởng rằng những cây gỗ này có khả năng trừ tà ma.

5. Thảo luận

Như trên đã cho thấy Ngọc am là loài cây thân gỗ lớn thuộc chi Hoàng đàn (Cumpresus), họ Hoàng đàn (Cumpressaceae) có tên khoa học là Cupressus funebris, hiện tại gần như đã không còn thấy ở Việt Nam và Nam Trung Quốc. Do vậy, trong tên khoa học của nó thường được gắn thêm chữ Endl để ghi nhận tình trạng tuyệt chủng và nguy cơ tuyệt chủng của loại cây quý hiếm này. Tuy rằng, trước đây Ngọc am hay Hoàng đàn rủ được cho là sinh trưởng nhiều ở vùng Tây Côn Lĩnh, Hoàng Su Phì, Hà Giang. Song, những cánh rừng Ngọc am đó đã bị khai thác cạn kiệt vào khoảng các năm 1946 - 1947, khi chính quyền Pháp đã cho khai thác ồ ạt để bán sang Trung Quốc.

Thông tin khảo cổ học về cây cột gỗ Ngọc am tìm thấy ở Điện Thánh, trong khu chùa Thầy (Sài Sơn, Hà Nội) được cho là đã có từ thời xây dựng đến nay. Trước đó, khi thiền sư Từ Đạo Hạnh còn trụ trì, chùa chỉ là một am nhỏ. Sau khi ông mất, vua Lý Nhân Tông (1072 - 1128) đã cho xây dựng mở rộng thành hai cụm chùa lớn. Từ đó đến nay, chùa luôn là một trung tâm Phật giáo lớn của vùng đồng bằng Bắc Bộ. Điều này. cho chúng ta tin tưởng rằng gần 1000 năm cách nay, Ngọc am đã được xem là loại gỗ quý và được chọn lựa để dùng trong các công trình tâm linh quan trọng, nhằm tăng thêm ý nghĩa linh thiêng và huyền ảo của công trình.

Đến khoảng thế kỷ XVII, nhu cầu sử dụng gỗ Ngọc am đã được mở rộng sang lĩnh vực làm quan tài ướp xác cho bậc vua chúa, đế vương. Chẳng bao lâu sau đó, thói quen làm quan tài bằng loại gỗ thơm này đã nhanh chóng lan rộng đến hoàng gia và giới quan lại giàu có. Nhu cầu dùng gỗ Ngọc am để làm tượng Phật cũng xuất hiện. Gỗ Ngọc am có thớ mịn, cấu tạo đặc, chắc với các ô xoang chứa đầy tinh dầu nên ít bị co ngót, cong vênh, nứt nẻ cho phép đảm bảo được tính mỹ thuật và kỹ thuật của sản phẩm Tinh dầu gỗ Ngọc am có mùi thơm dễ chịu, có tác dụng sát khuẩn, chống xâm nhập của vi sinh vật và mối mọt nên tượng sẽ được bền lâu. Ở môi trường thuận lợi, cây Ngọc am có đời sống khá dài và có kích thước lớn đáng kể, nên có thể sử dụng nguyên khối hoặc không cần ghép quá nhều để tạc thành các pho tượng Phật kích thước như ý.

Ngoài ra, cũng còn nhiều niềm tin dân gian khác để nói về giá trị (dược liệu hay tâm linh) của loại gỗ này. Đến nay truyền thống dùng gỗ Ngọc am để thể hiện nhu cầu tâm linh hay đẳng cấp xã hội vẫn được duy trì. Hiện tại, trên vùng núi Hà Giang vẫn có những người đi săm, tìm những gốc cây gỗ Ngọc am đang còn ẩn sâu dưới lòng đất mong kiếm được nhiều tiền. Gần đây có thêm phát hiệm mới về những cây Hoàng đàn hữu liên còn sót ở trên các vách núi đá vôi huyện Hữu Liên, tỉnh Lạng Sơn. Đó là loại cây đặc hữu sinh trưởng ở vùng núi rmiền Bắc nước ta, với tên khoa học là Cupressus tonkinensis. Công tác nghiên cứu bảo tồn và nhân giống loại cây này đang được tiến hành và tin rằng không lâu nữa sẽ được tận mắt những cánh rừng cây hoàng đàn (Ngọc am?) cổ xưa xanh tươi ngay trên vùng đất vốn là bản địa của chúng.

6. Lời kết

Ngọc am hay Hoàng đàn rủ là loại cây thân gỗ lớn, thường xanh, cây lá kim, thuộc họ Hoàng đàn, chi Hoàng đàn với tên khoa học là Cupressus funebris. Tinh dầu gỗ Ngọc am có các thành phần chính là: α-cedrene (16.9%), cedrol (7.6%), and β-cedrene (5.7%), có mùi thơm đặc trưng giúp phân biệt nó với những cây tinh dầu khác. Trong khảo cổ học gỗ Ngọc am thường được thấy với những loại hình cơ bản, như là: Tượng Phật; Quan tài ướp xác; Cột gỗ thơm trong các công trình kiến trúc tâm linh.

Những rừng cây Ngọc am xưa kia ở Hà Giang đã bị tàn phá tận diệt. Phát hiện mới gần đây về Hoàng đàn hữu liên là loại cây thân gỗ, lá kim còn sống trên một số vách núi đá vôi ở vùng Hữu Liên, với tên khoa học: Cupressus tonkinensis có nhiều nét giống với Hoàng đàn rủ, nên có thể cùng loại với những thân cây gỗ Ngọc am ở Hà Giang xưa kia.

Trên đây là một số nghiên cứu bước đầu và còn có những vấn đề có thể chưa thực sự thuyết phục. Do bởi tính phức tạp về ý nghĩa tâm linh của Ngọc am, cũng như nguy cơ biến mất của loại cây gỗ quý này ở nước ta. Mong rằng sẽ có thêm nghiên cứu về loại cây này trong tự nhiên cũng như trong khảo cổ học.

TÀI LIỆU DẪN

BÁO QUẢNG NINH 2021. Chùa Quỳnh Lâm - Danh lam cổ tự xứ Đông  https://baoquangninh.vn.

BẢO TÀNG LỊCH SỬ QUỐC GIA VIỆT NAM 2010. Chùa Thầy. https://baotanglichsu.vn.

BẢO TÀNG LỊCH SỬ QUỐC GIA VIỆT NAM 2013. Bí ẩn 10 xác ướp cổ nổi tiếng của Việt Nam. https://baotanglichsu.vn.

BÁO TRI THỨC & CUỘC SỐNG 2014. Truyền thuyết Ngọc am  và những ngôi mộ không phân hủy, https://kienthuc.net.vn.

CHRISTOPHER J. EARLE 2024. Cupressus funebris (Chinese weeping cypress) description. The Gymnosperm Database.  https://www.conifers.org.

CỤC DI SẢN VĂN HÓA 2014. Di tích lịch sử và kiến trúc nghệ thuật chùa Thầy và khu vực núi đá Sài Sơn, Hoàng Xá Phượng Cách. https://dsvh.gov.vn.

FU LIGUO, YU YÒNGFU, and ROBERT R. MILL 1999. Taxodiaceae. In Wu Zheng-yi and Peter H. Raven (eds.). Flora of China, Volume 4. Beijing: Science Press; St. Louis: Missouri Botanical Garden.

HOÀNG HÒE (Cb) 1998. Bảo vệ và phát triển rừng Việt Nam. Nxb. Giáo dục 1998.

LUU NGUYEN DUC TO, PHILIP IAN THOMAS 2004. Conifers of Vietnam. Nxb. Thế giới.

NGUYỄN TIẾN HIỆP, PHAN KẾ LỘC, NGUYỄN ĐỨC TỐ LƯU, PHIIP IAN THOMAS, ALJIOS FARJON, LENID AVERYANV và JACINTO REGAAD JR  2009. Giới thiệu các loài Hạt trần ở Việt Nam: Hoàng đàn. Trong "Thông Việt Nam, nghiên cứu hiện trạng và bảo tồn". Trung tâm Dữ liệu thực vật Việt Nam. http://botanyVN.com.

NGUYỄN TIẾN HIỆP, TÔ VĂN THẢO, NGUYỄN SINH KHANG. PHẠM VĂN THẾ, NGUYỄN THỊ THANH HƯƠNG, LỆNH XUÂN CHUNG, NGUYỄN TRƯỜNG SƠN, PHAN KẾ LỘC 2009. Tính đa dạng của hệ thực vật Việt Nam 27: Các quần thể Xanthocyparis vietnamensis Bách vàng việt mới được phát hiện tại tỉnh Hà Giang. Trung tâm Dữ liệu thực vật Việt Nam. http://botanyVN.com.

SINH VẬT RỪNG VIỆT NAM 2024. Tra cuu thuc vat rung viet nam. http://www.vncreatures.net.

TRUNG TÂM DỮ LIỆU THỰC VẬT VIỆT NAM 2009. Các quần thể Bách vàng Việt Nam mới phát hiện ở Hà Giang. https://www.botanyvn.com.

VĂN PHÒNG CHÍNH PHỦ 2021. Nghị định 84/2021/NĐ-CP.

VIỆN KHOA HỌC LÂM NGHIỆP VIỆT NAM 2023. Nghiên cứu bảo tồn và phát triển cây Hoàng đàn Hữu Liên (Cupressus tonkinensis Silba. J.) ở một số tỉnh miền núi phía Bắc Việt Nam. https://vafs.gov.vn.

VIỆN NGHIÊN CỨU ĐÀN HƯƠNG VÀ THỰC VẬT QUÝ HIẾM (ISAF) (2022). Hoàng đàn hữu liên. https://Viendanhuong.com.

VIỆN THỰC VẬT HỌC TRUNG QUỐC 2009. Cupressus funebris.. https://www.plantplus.cn.

VŨ ĐÌNH DUY, NGUYỄN MINH TẤM, BÙI THỊ TUYẾT XUÂN, ĐỖ HỮU THƯ, NGUYỄN MINH ĐỨC 2011. Mối quan hệ di truyền của một số loài Thông (Coniferales) ở Việt Nam trên cơ sở xác định trình tự Nucleotide vùng gene RBCL (Rubilose-1,5Bisphophate Carboxylase). Tuyển tập Hội nghị toàn quốc về Sinh thái và Tài nguyên sinh vật lần thứ IV, Hà Nội 2011. Trung tâm Dữ liệu thực vật Việt Nam http://botanyVN.com.

WIKIPEDIA 2022. Chi Bách vàng  https://vi.wikipedia.org.

WIKIPEDIA 2024. Plants named cypress. https://en.wikipedia.org.

XIANG, Q., CHRISTIAN, T & ZHANG, D 2013. “Cupressus funebris”. IUCN Red List of Threatened Species. e.T42218A2962455. doi:2305/IUCN.UK.2013-1. RLTS.T42218A2-962455.en.

AGARWOOD IN ARCHAEOLOGY

NGUYỄN QUANG MIÊN, LÊ CẢNH LAM AND CHÂU ANH TUẤN

Agarwood is a type of wood often found in archaeology, the wood has a charming aroma and contains spiritual and mysterious stories about human life and destiny not only in the afterlife but also in the present day. In our country, this type of tree is almost extinct, so information about this type of wood is still unclear and inconsistent about the origin and function. The article through field surveys and comparative analysis in the laboratory has determined.

Agarwood is a large, coniferous tree, growing mainly in sub-temperate environments. The main components of essential oil from the wood are: α-cedrene (16.9%), cedrol (7.6%), and β-cedrene (5.7%). In nature, Agarwood is also known as Cupressus funebris, belonging to the genus Cumpresus, family Cumpressaceae, with the scientific name Cupressus funebris.

Nowadays, the lush forests of Agarwood trees on the limestone cliffs of our country no longer exist. The recent discovery of Cupressus tonkinensis, a woody, coniferous tree species that still lives in the Hữu Liên region, with the scientific name: Cupressus tonkinensis, has many similarities to Agarwood, so it may be the same species as the Agarwood trees in Hà Giang in the past.

Agarwood is a type of wood with many special functions in terms of aromatherapy, medicine, as well as complex properties in terms of spiritual meaning. This precious wood species is in danger of disappearing in our country, so it is in great need of research, conservation and development.

Nguyễn Quang Miên; Lê Cảnh Lam; Châu Anh Tuấn
Nguồn bài viết: Trang Thông tin điện tử Viện Khảo cổ học
Tin xem nhiều
Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tất cả: 1