Vai trò cốt lõi của Khoa học xã hội trong Hệ sinh thái Đổi mới sáng tạo (ĐMST) quốc gia
1. Hệ sinh thái Đổi mới sáng tạo quốc gia và vị trí
của Khoa học xã hội
Hệ sinh
thái đổi mới sáng tạo quốc gia của Việt Nam đang phát triển mạnh mẽ, vươn lên
thứ 43/139 trên bảng xếp hạng Chỉ số Đổi mới sáng tạo Toàn cầu (GII) năm 2026.
Các trụ cột chính trong hệ sinh thái đổi mới sáng tạo quốc gia bao gồm: Nhà nước (Chính phủ và cơ quan quản lý), đóng
vai trò kiến tạo thể chế, hành lang pháp lý và điều phối chung (tiêu biểu là Bộ
Khoa học và Công nghệ và Bộ Tài chính); Doanh
nghiệp và Tập đoàn công nghệ là lực lượng trung tâm ứng dụng R&D,
hợp tác với các tên tuổi lớn toàn cầu như Google, NVIDIA, Meta, và Samsung; Viện nghiên cứu và Trường đại học là
nơi sản sinh nguồn nhân lực chất lượng cao và các tài sản trí tuệ, điển hình
qua mô hình kết nối tại các trường đại học lớn.
Hạt
nhân và mục tiêu phát triển bao gồm: Trung tâm Đổi mới sáng tạo Quốc gia (NIC)
giữ vai trò hạt nhân thúc đẩy, kết nối hệ sinh thái, hỗ trợ hàng nghìn startup
và doanh nghiệp đổi mới sáng tạo. Mục
tiêu đến năm 2030, đưa Việt Nam vào nhóm 40 quốc gia dẫn đầu GII, hình
thành ít nhất 10.000 doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo và 5 kỳ lân công nghệ. Tầm nhìn đến năm 2045, xây dựng hệ
sinh thái phát triển mang tầm quốc tế, lọt vào Top 30 GII và tạo ra thế hệ
doanh nhân có năng lực cạnh tranh toàn cầu.
Trong
bối cảnh chuyển đổi số và chuyển đổi xanh song hành, việc tích hợp sâu rộng
khoa học xã hội (KHXH) vào hệ sinh thái đổi mới sáng tạo (ĐMST) chính là chìa
khóa để chuyển hóa "tăng trưởng dựa trên công nghệ" thành "phát
triển dựa trên tri thức và con người", tạo ra sức đề kháng và sự thịnh vượng
lâu dài cho nền kinh tế. Trong hệ sinh thái đổi mới sáng tạo hiện đại, nếu khoa
học - công nghệ (KHCN) và kỹ thuật đóng vai trò là "động cơ" tạo ra
giải pháp kỹ thuật, sản phẩm và công nghệ mới, thì khoa học xã hội đóng vai trò
là "bệ phóng", "la bàn định hướng" và "chất keo gắn
kết".
Khoa
học xã hội không chỉ đóng vai trò “nghiên
cứu nền” cho đổi mới sáng tạo, mà ngày càng trở thành một cấu phần trực tiếp của hệ sinh thái ĐMST,
giúp biến tri thức khoa học – công nghệ thành giá trị kinh tế, xã hội và quản
trị, định hướng giá trị con người và cung cấp cơ sở lý luận chính sách trong hệ
sinh thái đổi mới sáng tạo quốc gia. Đổi mới sáng tạo không chỉ thuần túy là
công nghệ, mà là quá trình đưa tri thức vào thực tiễn để tạo ra giá trị kinh tế
- xã hội.
2. Vai trò cốt lõi của Khoa học xã hội trong hệ sinh
thái ĐMST quốc giaThứ nhất, KHXH có vai trò như một La bàn địnhhướng chính sách,
Thứ nhất, KHXH có vai trò như một La bàn định
hướng chính sách, thiết
kế thể chế và chính sách thúc đẩy ĐMST. Có thể nói, công nghệ tạo ra khả năng ĐMST, còn thể chế quyết định khả năng biến khả
năng đó thành kết quả. Đây là một vai trò đặc biệt quan trọng của KHXH.
KHXH cung cấp luận cứ cho việc xây dựng chính sách khoa học, công nghệ và ĐMST;
chính sách tài chính, thuế và đầu tư cho R&D; chính sách sở hữu trí tuệ; cơ
chế thử nghiệm chính sách và regulatory sandbox; chính sách phát triển nhân
lực; chính sách hỗ trợ startup và doanh nghiệp ĐMST; cơ chế liên kết Nhà nước – viện nghiên cứu – trường đại học –
doanh nghiệp. Công nghệ mới như trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, công nghệ
sinh học, năng lượng mới luôn đi trước luật pháp, vì vậy KHXH cần cung cấp các
nghiên cứu thực nghiệm và lý luận để xây dựng khung pháp lý, chính sách thử
nghiệm (sandbox) và hành lang an toàn. Để đánh giá các hệ lụy về mặt kinh tế,
pháp lý, bình đẳng xã hội và an ninh quốc gia của các làn sóng công nghệ mới,
cần đo lường tác động và rủi ro, từ đó giúp chính phủ điều chỉnh kịp thời để
ĐMST không để lại ai phía sau.
Thứ hai, KHXH giải mã và định hình yếu tố con người - xã hội. Công nghệ dù tiên tiến đến đâu cũng sẽ thất
bại nếu người dân không sẵn sàng đón nhận. KHXH (xã hội học, tâm lý học, kinh
tế học hành vi) nghiên cứu thái độ, văn hóa, thói quen và rào cản tâm lý của
công cộng đối với cái mới. KHXH giải quyết các bài toán lớn của quốc gia và khu
vực như già hóa dân số, biến đổi khí hậu, chênh lệch vùng miền thông qua các mô
hình tổ chức, sinh kế và phúc lợi xã hội mới, chứ không chỉ dựa vào phần cứng
hay phần mềm.
Thứ ba, KHXH góp phần tối ưu hóa hệ sinh thái và liên kết các
chủ thể đồng kiến tạo giá trị. KHXH có thế mạnh trong nghiên cứu mạng lưới, thể chế và quan hệ giữa các chủ thể. KHXH là cầu nối kết nối "Nhà
nước - Viện/Trường - Doanh nghiệp - Người dân", nghiên cứu cơ chế vận hành
của mạng lưới ĐMST, cách thức thúc đẩy hợp tác công - tư (PPP), và mô hình
"Đồng kiến tạo tri thức" giữa nhà khoa học, doanh nghiệp và cộng
đồng. KHXH góp phần xây dựng hệ sinh thái văn hóa khởi nghiệp, nghiên cứu các
yếu tố văn hóa thúc đẩy tinh thần dám nghĩ, dám làm, chấp nhận rủi ro và quản
trị tri thức trong các tổ chức và doanh nghiệp. Có thể hình dung hệ sinh thái
bao gồm: Nhà nước ↔ Viện nghiên cứu – Đại học - Doanh nghiệp – Startup ↔ Nhà đầu tư – Tổ chức tài chính - Thị trường ↔ Cộng đồng – Người sử dụng. Trong mạng lưới này, KHXH đóng vai trò “kiến trúc sư thể chế và kết nối tri thức”,
giúp các chủ thể hiểu nhau, hợp tác và đồng kiến tạo giá trị.
Thứ tư, KHXH dánh giá hiệu quả, tác động và giá trị lan tỏa. Xây dựng hệ thống chỉ số đo lường ĐMST toàn
diện không chỉ dựa trên số lượng sáng chế hay kinh phí R&D, mà còn đo lường
tác động lan tỏa, chất lượng cuộc sống, sự công bằng và tính bền vững, chuyển
từ lượng sang chất. Đảm bảo rằng các thành quả của ĐMST phục vụ cho sự phát
triển bao trùm và bền vững, giảm thiểu bất bình đẳng xã hội và bảo vệ các nhóm
dễ bị tổn thương. AI, robot, công nghệ sinh học, dữ liệu lớn, công nghệ lượng
tử… tạo ra không chỉ cơ hội mà cả những vấn đề xã hội mới. KHXH giúp đánh giá
tác động của AI đến việc làm và cơ cấu nghề nghiệp; bất bình đẳng số; quyền
riêng tư và quản trị dữ liệu; đạo đức AI; tác động xã hội của tự động hóa; thay
đổi hành vi và quan hệ xã hội; tác động địa chính trị của công nghệ; các rủi ro
đối với an ninh kinh tế và xã hội. Do đó, KHXH góp phần hình thành “ĐMST có trách nhiệm”.
Thứ năm, KHXH nhận diện nhu cầu và vấn đề cần đổi mới, thúc đẩy
thương mại hóa và chấp nhận ĐMST. KHXH giúp trả lời câu hỏi “Đổi mới để giải quyết vấn đề gì, cho ai và trong bối cảnh nào?”
thông qua nghiên cứu nhu cầu của người dân, doanh nghiệp và Nhà nước, biến đổi
xã hội, nhân khẩu học, hành vi tiêu dùng; những vấn đề mới nảy sinh từ AI, tự
động hóa, già hóa dân số, đô thị hóa, biến đổi khí hậu; các “điểm nghẽn” thể
chế, thị trường và xã hội cản trở ĐMST. Đây là khâu xác định đúng bài toán ĐMST, trước khi đầu tư vào công nghệ. Một
công nghệ tốt chưa chắc trở thành một sản phẩm thành công. Cần hiểu người sử dụng có chấp nhận không, doanh
nghiệp có sử dụng không, thị trường có đủ lớn không? KHXH đóng góp thông
qua nghiên cứu thị trường, hành vi người tiêu dùng, kinh tế học ĐMST, quản trị
doanh nghiệp, marketing và truyền thông, nghiên cứu tổ chức, nghiên cứu niềm
tin xã hội. Đây chính là cầu nối từ “phát
minh → đổi mới → thị trường → tác động xã hội”.
Thứ sáu, KHXH tạo lập tri thức và ý tưởng cho
ĐMST. Các ngành kinh tế học, xã
hội học, chính trị học, quan hệ quốc tế, tâm lý học, quản trị, luật học… cung
cấp tri thức để hình thành ý tưởng sản phẩm, dịch vụ và mô hình kinh doanh mới;
dự báo xu hướng thị trường và xã hội; nghiên cứu mô hình phát triển quốc gia;
phát hiện các cơ hội ĐMST từ những thay đổi về kinh tế – xã hội. ĐMST vì vậy
không chỉ xuất phát từ phòng thí nghiệm công nghệ mà còn từ “phòng thí nghiệm xã hội”.
Thứ bảy, KHXH xây dựng nguồn nhân lực và văn
hóa đổi mới. ĐMST
cần một văn hóa chấp nhận thử nghiệm,
sáng tạo và thất bại có kiểm soát. KHXH nghiên cứu và góp phần xây dựng
văn hóa ĐMST, năng lực sáng tạo, kỹ năng lãnh đạo và quản trị ĐMST, cơ chế
khuyến khích nhà khoa học, hệ thống đánh giá và đãi ngộ, môi trường làm việc
sáng tạo, mạng lưới nhân tài, công đồng cư dân. Đặc biệt, trong nền kinh tế tri
thức, vốn xã hội và vốn con người
trở thành một bộ phận quan trọng của năng lực ĐMST quốc gia.
Thứ tám, KHXH dự báo tương lai và định hướng
ĐMST chiến lược. Đây là
lĩnh vực rất phù hợp với các viện nghiên cứu KHXH. KHXH có thể kết hợp nghiên
cứu xu thế; phân tích dự báo (foresight); xây dựng kịch bản; phân tích dữ liệu;
nghiên cứu địa kinh tế – địa chính trị; mô hình hóa kinh tế – xã hội… để trả
lời cho câu hỏi “Việt Nam cần ĐMST
trong những lĩnh vực nào, vào thời điểm nào và theo mô hình nào để tạo lợi thế
phát triển dài hạn?”
“5 vai trò của KHXH trong hệ
sinh thái ĐMST”
|
Vai trò
|
Câu hỏi trung tâm
|
Sản phẩm
|
|
Nhận diện
|
Xã
hội và nền kinh tế cần gì?
|
Bản
đồ vấn đề/cơ hội
|
|
Kiến tạo
|
Có
thể đổi mới như thế nào?
|
Ý
tưởng, mô hình, giải pháp
|
|
Thiết kế thể chế
|
Làm
thế nào để ĐMST phát triển?
|
Chính
sách, thể chế
|
|
Đánh giá
|
ĐMST
tạo ra tác động gì?
|
Đánh
giá tác động, rủi ro
|
|
Dự báo
|
ĐMST
sẽ phát triển theo hướng nào?
|
Kịch
bản, foresight, chiến lược
|
3. Triển vọng đóng góp của Khoa học xã hội
Trong
bối cảnh Việt Nam đang đẩy mạnh triển khai Nghị quyết 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, ĐMST và
chuyển đổi số, triển vọng đóng góp của các ngành khoa học xã hội (KHXH)
có thể chuyển từ vai trò chủ yếu là
“nghiên cứu, tư vấn” sang vai trò “kiến tạo, kết nối, dự báo, đánh giá và đồng hành với toàn bộ chu trình
ĐMST”. Nghị quyết 57 xác định thể chế, nhân lực, hạ tầng, dữ liệu và
công nghệ chiến lược là các trọng tâm; đồng thời yêu cầu phát triển các viện
nghiên cứu, trong đó có Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam, thành các chủ thể nghiên
cứu mạnh. OECD đã chỉ ra rằng những phương pháp đo lường truyền thống thường đánh giá thấp đóng góp của KHXH đối với đổi
mới, đặc biệt trong nền
kinh tế số, các kênh đóng góp của KHXH phức tạp hơn và không dễ thể hiện qua
bằng sáng chế hay chi tiêu R&D. Trong bối cảnh Việt Nam, điều này đặc biệt
quan trọng vì mục tiêu của Nghị quyết 57 không chỉ là tạo ra công nghệ mà còn chuyển hóa tri thức mới và công nghệ thành
giá trị mới cho xã hội. Kết luận sơ kết triển khai Nghị quyết tháng
7/2026 cũng nhấn mạnh trực tiếp yêu cầu gắn tạo ra tri thức mới, làm chủ công
nghệ với chuyển hóa thành giá trị xã hội.
Trong giai đoạn 2026–2030, triển vọng đóng góp của
khoa học xã hội vào hệ sinh thái đổi mới sáng tạo quốc gia sẽ ngày càng chuyển
từ vai trò hỗ trợ, tư vấn sang vai trò đồng kiến tạo tri thức, thiết kế thể
chế, dự báo chiến lược, kết nối các chủ thể và đánh giá tác động xã hội của đổi
mới sáng tạo. Trong bối cảnh các công nghệ chiến lược ngày càng hội tụ với
những vấn đề kinh tế – xã hội phức tạp, năng lực cạnh tranh của hệ sinh thái
đổi mới sáng tạo quốc gia không chỉ phụ thuộc vào năng lực tạo ra công nghệ mà
còn phụ thuộc vào khả năng hiểu xã hội, thiết kế thể chế, tổ chức hợp tác và
chuyển hóa công nghệ thành giá trị kinh tế – xã hội. Đặc biệt, với mục tiêu của Nghị quyết 57 và
yêu cầu các viện nghiên cứu trở thành chủ thể nghiên cứu mạnh, đây là thời điểm thuận lợi để định vị lại
KHXH như một “hạ tầng tri thức” của hệ sinh thái ĐMST quốc gia, thay vì xem KHXH là một khu vực đứng
bên ngoài hệ sinh thái công nghệ.
Tài liệu tham khảo
1. OECD (2001), Social sciences and innovation. OECD Publishing,
https://www.oecd.org/en/publications/social-sciences-and-innovation
2. Paunov, C., & Planes-Satorra, S. (2023). Engaging citizens in innovation
policy: Why, when and how? OECD Science, Technology and Industry Policy
Papers, No. 149. OECD Publishing, https://doi.org/10.1787/ba068fa6-en
3. Paunov, C., Planes-Satorra, S., & Moriguchi, T. (2017). What role for
social sciences in innovation? Re-assessing how scientific disciplines
contribute to different industries. OECD Science, Technology and Industry
Policy Papers, No. 45. OECD Publishing. https://doi.org/10.1787/8a306011-en
4. UNESCO (2024), Science, technology and innovation policy instruments for the
Sustainable Development Goals: A global outlook. UNESCO.
5. UNESCO (2026), Fields of expertise: Social and human sciences.
6. OECD Science, Technology and Industry Policy Papers, 5
February 2021, The design and implementation of mission‑oriented innovation
policies-A new systemic policy approach to address societal challenges, https://www.oecd.org/en/publications/the-design-and-implementation-of-mission-oriented-innovation-policies
7. Paunov, C., Planes-Satorra, S., &
Moriguchi, T. (2017). What role for social sciences in innovation?
Re-assessing how scientific disciplines contribute to different industries.
OECD Science, Technology and Industry Policy Papers, No. 45. OECD Publishing. https://doi.org/10.1787/8a306011-en
8. OECD (2026), Forging new
frontiers in mission-oriented innovation policies. OECD Publishing.
https://doi.org/10.1787/d13d0142-en.
9. OECD (2025), Unlocking the
potential of research infrastructure ecosystems to tackle societal challenges.
OECD Policy Briefs, No. 31. OECD Publishing. https://doi.org/10.1787/4be749f9-en.
10.
https://giaoduc.net.vn/dinh-vi-vai-tro-cua-khoa-hoc-xa-hoi-va-nhan-van-trong-thoi-dai-ai-va-chuyen-doi-so-post259990.gd
11. https://nhandan.vn/khoa-hoc-xa-hoi-va-nhan-van-la-nen-tang-cho-phat-trien-ben-vung-post880451.html
12.
Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển
khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.