Hội thảo khoa học “Phản ánh của lý thuyết vùng rìa trong chiến lược Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương của Mỹ”
Chiều 17/7/2026, tại trụ sở Khối các Viện quốc tế (176 Thái Hà, Đống Đa, Hà Nội), Viện Nghiên cứu Châu Âu và Châu Mỹ đã tổ chức Hội thảo khoa học với chủ đề “Phản ánh của lý thuyết vùng rìa trong chiến lược Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương của Mỹ”. 
Anh-tin-bai

 

Hội thảo nằm trong khuôn khổ nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp Bộ “Chiến lược Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương của Mỹ nhìn từ  lý thuyết vùng rìa” với mã số KHXH/NV/2025-123 do TS. Nguyễn Lan Hương làm chủ nhiệm.

Tham dự hội thảo, về phía khách mời có PGS, TSKH. Trần Khánh, Đại học Thành Đô; TS. Nguyễn Đình Luân, nguyên Phó Tổng Biên tập Tạp chí Nghiên cứu Quốc tế, Học viện Ngoại giao; Đại sứ Nguyễn Đăng Quang, nguyên Đại sứ Việt Nam tại Indonesia, Quỹ Hòa bình và Phát triển Việt Nam.

Về phía Viện Nghiên cứu Châu Âu và Châu Mỹ có PGS.TS. Nguyễn Chiến Thắng, Viện trưởng; PGS.TS. Đặng Minh Đức, Phó Viện trưởng; TS. Vũ Thụy Trang, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Nga và SNG; TS. Nguyễn Lan Hương, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Hoa Kỳ và Canada, cùng các cán bộ nghiên cứu của Viện.

Phát biểu khai mạc Hội thảo, PGS, TS. Nguyễn Chiến Thắng nhấn mạnh việc tập trung giải thích lý thuyết vùng rìa để từ đó nhìn thấy được vai trò của Việt Nam và chiến lược của Mỹ tại khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương.

Tại hội thảo, TS. Nguyễn Lan Hương, chủ nhiệm nhiệm vụ chỉ ra bối cảnh thế giới đã biến đổi sâu sắc từ sự trỗi dậy đa diện của Trung Quốc, sự cạnh tranh lan trên các lĩnh vực mới, sự chuyển dịch chiến lược của Hoa Kỳ. Không gian cạnh tranh ngày càng mở rộng, chủ thể ngày càng đa dạng, công cụ cạnh tranh thay đổi căn bản và mức độ đan xen ngày càng sâu sắc. Lý thuyết của vùng rìa giải thích tốt về ý nghĩa của các không gian ven Á – Âu, lợi ích lâu dài của Hoa Kỳ trong duy trì khả năng tiếp cận, nguy cơ quyền lực tập trung quá mức, vai trò của các chủ thể khu vực đối với tương quan lực lượng. Tuy nhiên, lý thuyết vùng rìa không đủ để giải thích về sự phụ thuộc kinh tế giữa các cường quốc, công nghệ và mạng lưới xuyên quốc gia, vai trò chủ động của các nước vừa và nhỏ, thể chế, luật pháp quốc tế và chính trị trong nước.

Anh-tin-bai
TS. Nguyễn Lan Hương, chủ nhiệm nhiệm vụ báo cáo

Trong tham luận của PGS, TSKH. Trần Khánh, lý thuyết vùng rìa chỉ nhấn mạnh tọa độ địa lý là bất biến, còn vị thế của một quốc gia luôn thay đổi theo thời đại. Quá khứ chứng minh Việt Nam từng bị coi là vùng ngoại vi, đóng vai trò bàn đạp để Pháp và Mỹ tiếp cận Trung Quốc. Trong chiến dịch ngăn chặn chủ nghĩa cộng sản thời Chiến tranh Lạnh, Việt Nam cũng chưa phải ưu tiên số một của Mỹ. Tuy nhiên, cục diện đã xoay chiều, với chiến lược Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương, Mỹ tập trung vào các quốc gia ven biển Đông Á và Đông Nam Á để tạo vành đai kiềm chế đối thủ. Từ thời Tổng thống Obama, Việt Nam vươn lên thành ưu tiên hàng đầu của Mỹ tại Đông Nam Á. Nhờ vị trí đắc địa và sức mạnh tổng hợp quốc gia ngày càng tăng, Việt Nam trở thành mắt xích quan trọng mà Mỹ muốn lôi kéo nhằm kiềm chế Trung Quốc. Câu trả lời là Việt Nam vô cùng quan trọng  trong chiến lược "vùng rìa" của Mỹ, nhưng thực tế vẫn chưa thể là ưu tiên số một tuyệt đối trong tính toán chiến lược của Washington.

Anh-tin-bai
GS.TSKH. Trần Khánh chia sẻ tại hôi thảo

TS. Nguyễn Đình Luân đem đến cái nhìn trực quan về sự điều chỉnh ưu tiên địa – chính trị trong Chiến lược an ninh quốc gia 2026 của Mỹ. Tại khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương, Mỹ đặt mục tiêu không để Trung Quốc thách thức sự lãnh đạo của mình và giữ nguyên trạng chuỗi đảo thứ nhất (mạng lưới đồng minh và đối tác), nên Mỹ thể hiện sự răn đe bằng sức mạnh tích hợp và không đối đầu trực tiếp với Trung Quốc. Các kịch bản tại khu vực này có thể là cạnh tranh có kiểm soát để tránh đối đầu, xung đột cục bộ (Đài Loan và Biển Đông), hoặc hòa hoãn.

Anh-tin-bai
TS. Nguyễn Đình Luân phát biểu tại Hội thảo

Không chỉ dừng lại ở các bài tham luận, Hội thảo còn sôi nổi hơn với phiên bình luận của các nhà khoa học. Nổi bật là phân tích của Đại sứ Nguyễn Đăng Quang về tư duy địa chính trị Mỹ. Dù tự nhận là siêu cường thế giới, Mỹ thực tế đánh giá tổng tiềm lực của đại lục Á - Âu vượt xa mình. Tuy nhiên, do khu vực này hiện vẫn bị chia tách nên chưa thể trực tiếp đe dọa vị thế nước Mỹ. Xác định địa lý là nhân tố cơ bản không thể thay thế và nhận thấy bản thân chưa kiểm soát được châu Á, Mỹ đã có bốn lần điều chỉnh chiến lược trọng tâm kể từ khi Liên Xô sụp đổ: từ chiến lược an ninh hợp tác (thời kỳ Tổng thống Clinton); ưu thế chống khủng bố (thời kỳ Tổng thống Bush); biệt lập mới xoay trục vào trong (thời kỳ Tổng thống Trump); cam kết có chọn lọc (thời kỳ Tổng thống Biden). Những thay đổi chiến lược này định hình rõ cách tiếp cận liên minh theo từng khu vực.

Tại châu Âu, NATO tiếp tục là đồng minh cốt lõi để làm lá chắn an ninh trước Nga. Ngược lại ở châu Á, do thiếu vắng một khối liên minh đa quốc gia, Mỹ chọn cách dựa vào năm mối quan hệ đồng minh song phương, trong đó Nhật Bản đóng vai trò quốc gia trung tâm và là cầu nối chiến lược tại Thái Bình Dương. Bên cạnh đó, Mỹ cũng đang củng cố vững chắc thể chế liên minh ba bên Mỹ - Nhật - Hàn, đồng thời hướng tới mục tiêu gắn kết ASEAN vào các cấu trúc mới như QUAD và AUKUS.

Anh-tin-bai
Đại sứ Nguyễn Đăng Quang bình luận

Theo TS. Nguyễn Thị Hải Yến, lý thuyết "vùng rìa" vẫn giữ nguyên giá trị khi trọng tâm cạnh tranh toàn cầu dịch chuyển sang việc thiết lập nền kinh tế số, tiêu biểu qua vai trò của các trung tâm sản xuất bán dẫn. Trong cục diện này, ASEAN vẫn giữ vị trí yết hầu tại ngã tư Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương. Bất kỳ sự đứt gãy nào tại khu vực này cũng sẽ khiến toàn bộ chiến lược Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương bị chia cắt làm đôi. Dưới lăng kính địa chiến lược đó, Mỹ đánh giá Việt Nam là một điểm chốt trọng yếu trong chuỗi cung ứng khu vực, từ đó tạo động lực thúc đẩy Mỹ ngày càng xích lại gần và thắt chặt quan hệ song phương hơn.

Phát biểu tổng kết hội thảo, PGS.TS. Nguyễn Chiến Thắng đánh giá cao chất lượng các tham luận và ý kiến trao đổi của các chuyên gia, nhà khoa học. Hội thảo không chỉ đúc kết được những điểm cốt lõi từ lý thuyết vùng rìa mà còn gợi mở nhiều định hướng chiến lược mang tính thực tiễn. Những kết quả này sẽ là nguồn tài liệu tham khảo có giá trị lớn cho báo cáo tư vấn chính sách sau này./.   

Hoàng Long
Nguồn bài viết: Viện Nghiên cứu Châu Âu và Châu Mỹ
Tin xem nhiều
Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tất cả: 1