Hội thảo khoa học "Chính sách đổi mới sáng tạo trong công nghiệp quốc phòng của Hoa Kỳ dưới thời Biden và hàm ý cho Việt Nam"
Sáng 28/7/2026, tại trụ sở Khối các Viện quốc tế (176 Thái Hà, Đống Đa, Hà Nội), Viện Nghiên cứu Châu Âu và Châu Mỹ đã tổ chức Hội thảo khoa học với chủ đề “Chính sách Đổi mới sáng tạo trong công nghiệp quốc phòng của Hoa Kỳ dưới thời Biden và hàm ý cho Việt Nam”. Hội thảo nằm trong phạm vi triển khai nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp Bộ “Đổi mới sáng tạo trong công nghiệp quốc phòng của Hoa Kỳ” do TS. Trần Minh Nguyệt làm chủ nhiệm nhiệm vụ.
Tham dự hội thảo, về phía khách mời có PGS,TS. Nguyễn Duy Dũng, Nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu Đông Nam Á; PGS,TS. Phạm Thái Quốc, Học viện Khoa học xã hội.
Về phía Viện Nghiên cứu Châu Âu và Châu Mỹ có TS. Nguyễn Cao Đức, Phó Viện trưởng; TS. Nguyễn Lan Hương, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Hoa Kỳ và Canada; TS. Lê Thị Vân Nga, Trung tâm Nghiên cứu Mỹ Latinh; cùng các thành viên nhiệm vụ khoa học và cán bộ nghiên cứu của Viện.
Phát biểu khai mạc Hội thảo, TS. Trần Minh Nguyệt chỉ ra trong bối cảnh cạnh tranh quyền lực nước lớn ngày càng gay gắt, cùng sự bùng nổ của các công nghệ mới nổi như trí tuệ nhân tạo, Đổi mới sáng tạo trong công nghiệp quốc phòng không còn đơn thuần là hoạt động nghiên cứu phát triển công nghệ mà đã trở thành nội dung trọng tâm trong chính sách an ninh quốc gia của các nước lớn.
TS. Trần Minh Nguyệt - chủ nhiệm nhiệm vụ phát biểu khai mạc Hội thảo
Phát biểu dẫn đề Hội thảo, TS. Nguyễn Cao Đức nhấn mạnh hội thảo tập trung vào ba nhóm nội dung chính gồm: phân tích bối cảnh hình thành và động lực thúc đẩy Đổi mới sáng tạo công nghiệp quốc phòng Hoa Kỳ giai đoạn 2021-2025; đánh giá các đặc điểm chính sách dưới thời Biden cùng kết quả triển khai; và dự báo triển vọng chính sách dưới thời Trump nhiệm kỳ 2 để rút ra hàm ý cho Việt Nam.
TS. Nguyễn Cao Đức, Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Châu Âu và Châu Mỹ chủ trì Hội thảo
Tại Hội thảo, ThS. Vũ Đăng Linh nhận định chính sách đổi mới sáng tạo trong công nghiệp quốc phòng Hoa Kỳ dưới thời chính quyền Joe Biden phản ánh quá trình thích ứng chiến lược của toàn bộ hệ sinh thái công nghiệp quốc phòng trước những biến đổi của môi trường cạnh tranh quốc tế, đặc điểm chiến tranh hiện đại và những hạn chế nội tại của nền tảng công nghiệp quốc phòng Hoa Kỳ. Đổi mới sáng tạo trong công nghiệp quốc phòng Hoa Kỳ được thúc đẩy bởi sự tương tác của các động lực ở cấp độ quốc tế, khu vực và trong nước, trong đó cạnh tranh chiến lược với Trung Quốc là động lực chủ đạo và có ý nghĩa quyết định. Trọng tâm chính sách chuyển từ hỗ trợ các hoạt động đổi mới riêng lẻ sang tăng cường năng lực điều phối toàn bộ hệ sinh thái thông qua kết hợp chính sách công nghiệp, khoa học – công nghệ và quốc phòng, huy động nguồn lực khu vực tư nhân, thúc đẩy hợp tác công – tư và củng cố năng lực sản xuất các công nghệ chiến lược. Dù đạt được một số thành tựu, Hoa Kỳ vẫn còn một chặng đường dài phải đi để giải quyết các điểm nghẽn về thể chế, quy trình và nhân lực sản xuất quốc phòng cốt lõi.
ThS. Vũ Đăng Linh trình bày tại Hội thảo
Trong bài tham luận của TS. Nguyễn Minh Tuấn, Chiến lược An ninh Quốc gia (NSS) nhấn mạnh lợi thế dẫn đầu công nghệ của Hoa Kỳ, kiểm soát công nghệ lõi và chuỗi cung ứng. Chiến lược Quốc phòng Quốc gia (NDS) đẩy nhanh quá trình áp dụng và thực hiện lợi thế bất đối xứng. Chiến lược Công nghiệp Quốc phòng Quốc gia (NDIS) là bản kế hoạch tổng thể toàn diện đầu tiên về công nghiệp quốc phòng. NDIS mở rộng sang các sản phẩm tiên tiến với chi phí hợp lý, chấp nhận rủi ro để có giải pháp tác chiến tối ưu.
Diễn giả đã đưa ra một số hàm ý cho Việt Nam như sau: Xây dựng cơ chế mua sắm đặc thù; Xây dựng cơ chế pháp lý bảo vệ cán bộ, nhà khoa học, doanh nghiệp khi thử nghiệm các giải pháp công nghệ mới; Huy động tiềm lực của các tập đoàn và các Startup tham gia giải các bài toàn an ninh – quốc phòng; Thành lập các quỹ hỗ trợ/đầu tư mạo hiểm cho các công nghệ lưỡng dụng; Nên tập trung vào các hệ thống tự hành/không người lái (UAV, USV, UUV), vũ khí thông minh, giải pháp tác chiến điện tử và an ninh mạng; Đẩy mạnh nghiên cứu tích hợp dữ liệu, tự động hóa chỉ huy và bảo mật truyền tin trên chiến trường số; Tạo mô hình "Cầu nối Đổi mới sáng tạo Quốc phòng"; Xây dựng cơ chế đặc thù về đãi ngộ, môi trường làm việc để thu hút các chuyên gia, kỹ sư công nghệ hàng đầu (kể cả chuyên gia gốc Việt ở nước ngoài) tham gia vào các dự án R&D quốc phòng trọng điểm.
TS. Nguyễn Minh Tuấn chia sẻ tại Hội thảo
TS. Nguyễn Lan Hương tập trung phân tích quá trình chuyển hóa đổi mới sáng tạo thành năng lực công nghiệp quốc phòng và quyền lực quốc gia của Hoa Kỳ. Tác giả đưa ra khung phân tích dựa trên ba trụ cột: chính sách, đổi mới sáng tạo và công nghiệp quốc phòng. Hoa Kỳ không chỉ thúc đẩy đổi mới, mà đang tổ chức lại quá trình chuyển hóa đổi mới thành năng lực công nghiệp quốc phòng. Hoa Kỳ hiện đang phải đối mặt với ba sức ép lớn về cạnh tranh công nghệ chiến lược, sự phát triển của công nghệ lưỡng dụng và AI, yêu cầu tự chủ chuỗi cung ứng. Do đó, chính sách của Mỹ đang dịch chuyển từ việc chỉ tập trung vào nghiên cứu sang đẩy mạnh quy mô sản xuất, bảo vệ chuỗi cung ứng và gắn kết với an ninh kinh tế. Từ kinh nghiệm của Hoa Kỳ, tác giả đề xuất một số hàm ý cho Việt Nam nhằm nâng cao năng lực chuyển hóa đổi mới. Đó là điều phối chính sách đồng bộ, xây dựng hệ sinh thái lưỡng dụng, tăng cường hấp thụ công nghệ, sản xuất có trọng điểm và mở rộng hợp tác phân tầng. Mục tiêu cốt lõi là tổ chức và chuyển hóa đổi mới thành năng lực công nghiệp quốc phòng và lợi thế chiến lược.
Toàn cảnh Hội thảo
Bên cạnh các bài tham luận, Hội thảo diễn ra sôi nổi hơn ở phiên bình luận của PGS,TS. Phạm Thái Quốc với những đánh giá về hệ sinh thái đổi mới sáng tạo quốc phòng Hoa Kỳ. Trước hết, ông chỉ ra những khoảng trống thông tin cần tiếp tục nghiên cứu do tính chất bảo mật khắt khe của lĩnh vực này, điển hình như công nghệ tên lửa vượt âm và radar. Cơ chế vận hành đặc thù của công nghiệp quốc phòng Mỹ cũng được phân tích chi tiết, làm nổi bật vai trò chủ đạo của khu vực tư nhân và các tập đoàn lớn trong cuộc chạy đua giành các gói thầu mỗi năm. Từ đó, nhiều câu hỏi mang tính phản biện về năng lực sản xuất vũ khí thực tế của Mỹ đã được đặt ra, đặc biệt trước tình trạng suy giảm nguồn cung viện trợ tại Ukraine và Trung Đông. Trong triển vọng hợp tác quốc phòng Việt - Mỹ, cần nhấn mạnh vào cơ hội hợp tác qua mảng công nghệ lưỡng dụng đi kèm với việc nhận diện rõ ràng các thách thức về chi phí và rào cản pháp lý.
PGS,TS Nguyễn Duy Dũng đánh giá đề tài do nhóm tác giả thực hiện mang tính thời sự và ý nghĩa chiến lược cao trong bối cảnh cạnh tranh địa chính trị, đặc biệt là cạnh tranh công nghệ quốc phòng giữa các cường quốc đang diễn ra gay gắt. Sự thay đổi trong phương thức tác chiến hiện đại được minh chứng qua vai trò xoay chuyển cục diện của UAV tại xung đột Nga - Ukraine. Từ đó làm rõ xu hướng chuyển dịch của Mỹ từ ưu thế quân sự truyền thống sang cạnh tranh công nghệ, kiểm soát chuỗi cung ứng dựa trên ba trụ cột: chính sách, nhân lực và công nghiệp quốc phòng. Theo ông, nhóm nghiên cứu cần tập trung chuyên sâu vào lăng kính quản lý chiến lược và chính sách vĩ mô. Đồng thời, cần bổ sung nội dung phân tích, so sánh chính sách giữa hai giai đoạn Trump 1.0 và Biden nhằm làm nổi bật tính kế thừa, phát triển. Qua đó tạo cơ sở vững chắc để đúc kết những bài học kinh nghiệm thực tiễn, có tính khả thi cao cho định hướng phát triển nền công nghiệp quốc phòng Việt Nam.
Hội thảo không chỉ góp phần làm rõ hơn bức tranh về chính sách Đổi mới sáng tạo trong công nghiệp quốc phòng của Hoa Kỳ dưới thời Tổng thống Joe Biden, mà còn mở ra những gợi ý quan trọng, phù hợp cho Việt Nam trong bối cảnh mới. Ban Chủ nhiệm hiệm vụ sẽ tiếp thu toàn bộ ý kiến đóng góp nhằm hoàn thiện báo cáo tổng hợp, báo cáo tư vấn cùng các kiến nghị phục vụ thiết thực cho quá trình hoạch định chính sách đối ngoại của Việt Nam trong giai đoạn tới./.