Chuyển đổi số trong đổi mới quản trị địa phương ở Việt Nam hiện nay
Trong điều kiện chính quyền địa phương hai cấp vận hành, chuyển đổi số tạo khả năng tổ chức công việc trên dữ liệu dùng chung, phối hợp giữa cấp tỉnh và cấp xã, theo dõi trách nhiệm xử lý và cải thiện việc cung cấp dịch vụ công. Bài viết phân tích yêu cầu đổi mới quản trị địa phương theo Nghị quyết số 57-NQ/TW, những chuyển biến bước đầu và các điều kiện để chuyển đổi số đem lại kết quả thực chất cho người dân, doanh nghiệp.
Từ khóa: chuyển đổi số; quản trị địa phương; chính quyền địa phương hai cấp; dịch vụ công; Nghị quyết số 57-NQ/TW.
Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị đã xác định phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong mối quan hệ trực tiếp với “đổi mới phương thức quản trị quốc gia” [1]. Từ ngày 01/7/2025, mô hình chính quyền địa phương hai cấp đi vào vận hành trên phạm vi cả nước [3]. Mô hình này đặt ra yêu cầu việc chuyển giao thẩm quyền và tổ chức giải quyết công việc tại địa phương phải đi cùng khả năng kết nối thông tin, phối hợp xử lý và phục vụ người dân thuận tiện hơn. Chuyển đổi số vì thế không chỉ là số lượng phần mềm hay hồ sơ điện tử, mà cần được xem xét từ hoạt động quản trị và kết quả phục vụ.
1. Yêu cầu đổi mới quản trị địa phương trong bối cảnh chuyển đổi số hiện nay
Quản trị địa phương bao gồm việc xác định vấn đề, ra quyết định, tổ chức thực hiện, phối hợp giữa các chủ thể và giải trình về kết quả ở địa bàn. Trong bối cảnh hiện nay, đổi mới quản trị đặt ra cả ở cách phân định trách nhiệm lẫn cách chính quyền sử dụng thông tin để đáp ứng nhu cầu của xã hội.
Luật Tổ chức chính quyền địa phương số 72/2025/QH15 quy định hệ thống đơn vị hành chính và tổ chức chính quyền địa phương theo hai cấp, đồng thời xác lập khuôn khổ phân định nhiệm vụ, quyền hạn giữa các cấp [2]. Cấp xã trực tiếp tiếp nhận nhiều việc hơn, nên hồ sơ và dữ liệu cần đi theo thẩm quyền giải quyết. Nếu thông tin vẫn bị chia cắt theo cơ quan hoặc theo địa giới cũ, việc thu gọn đầu mối vẫn chưa được thực hiện một cách thực chất. Đây là lý do chuyển đổi số phải gắn với thiết kế lại quy trình phối hợp giữa cấp tỉnh, cấp xã và cơ quan chuyên môn.
Nghị quyết số 57-NQ/TW xác định: “Thể chế, nhân lực, hạ tầng, dữ liệu và công nghệ chiến lược là những nội dung trọng tâm, cốt lõi” [1, mục I.3]. Công nghệ chỉ phát huy tác dụng khi có quy tắc chia sẻ dữ liệu, nhân lực vận hành và trách nhiệm rõ ràng của từng chủ thể. Đối với địa phương, một hồ sơ được quét thành tệp điện tử nhưng vẫn phải nhập lại nhiều lần, qua nhiều khâu phê duyệt như trước thì chưa tạo được thay đổi đáng kể về phương thức quản trị.
Xét về bản chất, chính quyền địa phương không chỉ là một tầng nấc của bộ máy hành chính. Đây là cấp giải quyết những tình huống cụ thể của người dân như: đăng ký khai sinh, chứng thực văn bản, đất đai, trợ giúp xã hội, điều kiện kinh doanh, xây dựng hoặc phản ánh về môi trường sống... Từ đó, chất lượng quản trị ở địa phương được nhận biết qua khả năng giải quyết đúng thẩm quyền, đúng thời hạn và hợp lý trong hoàn cảnh thực tế. Nếu chuyển đổi số chỉ tập trung ở khâu nộp hồ sơ, trong khi khâu thẩm định và phối hợp giải quyết hồ sơ vẫn rườm rà, ách tắc, thì người dân sẽ không cảm nhận được sự thay đổi.
Trong mô hình chính quyền địa phương hai cấp, cấp xã gần người dân và doanh nghiệp hơn về mặt tiếp nhận và phản hồi; cấp tỉnh có vai trò tổ chức các hệ thống chung, hướng dẫn nghiệp vụ, điều phối nguồn lực và kiểm tra. Phân cấp, phân quyền chỉ phát huy hiệu quả khi cấp được giao việc có đủ thông tin, công cụ, nhân sự và quyền xử lý. Ngược lại, việc tập trung dữ liệu ở cấp trên mà cấp trực tiếp giải quyết không khai thác được sẽ tạo thêm vòng xin ý kiến. Vì thế, thiết kế hệ thống số phải bám vào bản đồ thẩm quyền và trình tự xử lý được pháp luật quy định, nhất là tại các điểm giao giữa cấp xã với các sở, ngành và cơ quan trung ương [2].
Đổi mới quản trị cũng đòi hỏi chuyển từ đánh giá hoạt động nội bộ sang xem xét giá trị công mà hoạt động đó tạo ra. Số văn bản ký số, số tài khoản đăng nhập hay tỷ lệ hồ sơ có mã điện tử là thông tin cần thiết cho quản lý vận hành, nhưng chưa đủ phản ánh chất lượng. Một quy trình được coi là tốt khi hồ sơ được tiếp nhận thuận tiện, thông tin được sử dụng hợp pháp và chính xác, kết quả có thể kiểm tra, người dân biết lý do nếu bị từ chối và có kênh yêu cầu xem xét lại. Các tiêu chí ấy nối chuyển đổi số với công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình, thay vì đồng nhất cải cách với tốc độ xử lý bằng máy móc.
Khung pháp lý về dữ liệu hiện nay cũng đã thay đổi. Luật Dữ liệu số 60/2024/QH15 có hiệu lực từ ngày 01/7/2025, tạo cơ sở pháp lý cho quản lý, khai thác, sử dụng dữ liệu trong hoạt động của cơ quan nhà nước [6]. Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân số 91/2025/QH15 có hiệu lực từ ngày 01/01/2026 [7]. Hai văn bản trên gợi ra nguyên tắc cần tuân thủ ở địa phương là khai thác dữ liệu để phục vụ công việc công không đồng nghĩa với quyền truy cập không giới hạn; chia sẻ thông tin phải có mục đích, thẩm quyền và biện pháp bảo vệ phù hợp. Đây là các điều kiện để xây dựng niềm tin của người dân đối với dịch vụ công trên môi trường điện tử.
Nghị định số 118/2025/NĐ-CP về thực hiện thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa, một cửa liên thông tại Bộ phận Một cửa và Cổng Dịch vụ công quốc gia cung cấp khuôn khổ tổ chức cho việc tiếp nhận, giải quyết thủ tục [8]. Cơ chế một cửa chỉ vận hành tốt khi người dân có thể xác định rõ một đầu mối chịu trách nhiệm, dù hồ sơ cần sự phối hợp của nhiều cơ quan. Cổng dịch vụ công và hệ thống xử lý nội bộ vì thế phải nhất quán về thành phần hồ sơ, thời hạn, trạng thái xử lý và cách thông báo kết quả. Nếu thông tin trên cổng khác với yêu cầu tại quầy, người dân sẽ phải chịu chi phí của sự thiếu đồng bộ giữa các cơ quan.
2. Vai trò của chuyển đổi số trong đổi mới hoạt động của chính quyền địa phương
Dữ liệu được thu thập và kết nối giúp chính quyền địa phương nắm được tình hình và xử lý công việc trên cùng một cơ sở thông tin. Mọi dữ liệu dân cư, đất đai, hộ tịch hoặc doanh nghiệp được cập nhật đúng thẩm quyền và khai thác hợp pháp, giúp cán bộ địa phương đối chiếu thông tin nhanh hơn, giúp người dân giảm việc kê khai lại những thông tin đã có. Nghị quyết số 57-NQ/TW cũng đã đặt mục tiêu đến năm 2030 quản lý nhà nước từ Trung ương đến địa phương trên môi trường số, kết nối và vận hành thông suốt, đồng thời hoàn thành việc xây dựng, kết nối và chia sẻ đồng bộ các cơ sở dữ liệu [1, mục II.1].
Môi trường số làm rõ đường đi của hồ sơ và trách nhiệm của từng khâu trong giải quyết hồ sơ. Thông tin về nơi tiếp nhận, người xử lý, thời hạn và kết quả đều được ghi nhận để lãnh đạo theo dõi, phát hiện vướng mắc và kịp thời điều chỉnh. Dữ liệu xử lý cũng tạo căn cứ để đánh giá việc thực thi nhiệm vụ. Tinh thần này phù hợp với yêu cầu của Nghị quyết số 57-NQ/TW về “tăng cường giám sát, đánh giá và trách nhiệm giải trình” trong phục vụ Nhân dân [1, mục III.5].
Quan trọng hơn, chuyển đổi số mở ra khả năng tổ chức dịch vụ công theo nhu cầu của người dân, doanh nghiệp. Nghị quyết số 57-NQ/TW yêu cầu “Đổi mới toàn diện việc giải quyết thủ tục hành chính, cung cấp dịch vụ công không phụ thuộc địa giới hành chính” và hướng tới dịch vụ công trực tuyến toàn trình, cá nhân hóa, dựa trên dữ liệu [1, mục III.5]. Để làm được điều đó ở cấp xã, cần có thủ tục dễ tìm, biểu mẫu dễ hiểu, tiến độ có thể tra cứu, kết quả nhận hồ sơ được trả đúng hẹn. Với người cao tuổi, người khuyết tật hoặc người ít kỹ năng số, cần được hỗ trợ trực tiếp tại bộ phận một cửa… Tất cả những điều đó tạo thành chất lượng phục vụ, phản ánh đúng tinh thần lấy người dân trung tâm. Thực tiễn triển khai chuyển đổi số cho thấy cả kết quả lẫn điểm nghẽn trong khâu quản trị địa phương. Thông báo số 24-TB/CQTTBCĐ ngày 07/7/2026 ghi nhận Cổng Dịch vụ công quốc gia, Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư và VNeID tiếp tục được hoàn thiện, kết nối, khai thác, đồng thời chỉ rõ những hạn chế về thể chế, hạ tầng, nhân lực, dữ liệu và an toàn thông tin [4, mục 1-2]. Vì vậy, không thể đồng nhất tiến độ trang bị hệ thống với hiệu quả quản trị ở mọi địa phương. Điều cần kiểm chứng là hệ thống có được sử dụng thường xuyên, dữ liệu có tin cậy và thủ tục có thực sự bớt thời gian, chi phí hay không.
Dữ liệu còn có giá trị cho điều hành và hoạch định ở địa phương. Từ những phản ánh được ghi nhận, chính quyền có thể nhận thấy nơi nào phát sinh nhiều kiến nghị về hạ tầng, dịch vụ xã hội hay thủ tục, từ đó kiểm tra nguyên nhân, sắp xếp nguồn lực và theo dõi tiến độ khắc phục. Tuy nhiên, dữ liệu hành chính chỉ phản ánh những người đã tiếp cận được hệ thống. Nhóm không sử dụng mạng hoặc chưa có khả năng làm thủ tục số có thể chưa tiếp cận được. Do vậy, khảo sát trực tiếp, tiếp xúc cử tri và kênh phản ánh truyền thống vẫn là các biện pháp cần thiết để tránh việc quyết định dựa trên một báo cáo tổng hợp chưa đầy đủ.
Môi trường số cũng thay đổi quan hệ phối hợp. Trước đây, khi một việc liên quan nhiều đơn vị, văn bản giấy có thể đi qua các đầu mối theo trình tự mà người dân khó có thể theo dõi. Hiện nay, với hồ sơ có mã định danh và nhật ký xử lý, các đơn vị có thể nhìn thấy yêu cầu chuyển đến, tài liệu cần bổ sung và thời hạn phản hồi. Tuy nhiên, việc chia sẻ trạng thái không tự tạo ra trách nhiệm cho mỗi chủ thể, mà cần có quy chế phối hợp rõ ràng. Quy chế này phải nêu rõ cơ quan chủ trì, cơ quan phối hợp, thời hạn cho từng khâu và cách xử lý khi có ý kiến khác nhau. Có thể thấy, công cụ số làm rõ những điểm nghẽn của quy trình, còn việc tháo gỡ đòi hỏi những quyết định quản lý phù hợp. Đối với cấp xã, áp lực có thể xuất hiện đồng thời ở ba mặt: khối lượng công việc tăng, yêu cầu sử dụng nhiều hệ thống và nhu cầu hỗ trợ người dân trực tiếp. Nếu một cán bộ phải mở nhiều phần mềm, nhập lại cùng một thông tin và xử lý thêm hồ sơ giấy song song, chuyển đổi số có nguy cơ làm tăng gánh nặng lao động. Việc khảo sát thời gian thao tác thực tế và lấy ý kiến cán bộ trực tiếp giải quyết là cần thiết trước khi kết luận rằng một quy trình đã được đơn giản hóa. Chính quyền cấp tỉnh cần ưu tiên các công cụ dùng chung và đầu mối hỗ trợ kỹ thuật, thay vì để mỗi xã tự khắc phục lỗi hệ thống.
Chất lượng dữ liệu quyết định độ tin cậy của kết quả. Một sai lệch trong địa chỉ, tên hoặc tình trạng pháp lý có thể khiến hồ sơ bị từ chối hoặc phải xác minh lại, dù các hệ thống đã kết nối về mặt kỹ thuật. Bởi vậy, liên thông không chỉ là mở đường truyền giữa các cơ sở dữ liệu mà còn là thống nhất khái niệm, mã định danh, thời điểm cập nhật và cơ chế sửa lỗi. Người dân cần biết nơi yêu cầu đính chính thông tin, thời hạn được trả lời và cơ quan chịu trách nhiệm khi dữ liệu nguồn có sai sót. Khả năng sửa đúng nhanh chóng là một phép thử thực tế đối với quản trị dựa trên dữ liệu. Tại Hội nghị sơ kết một năm sáu tháng đầu năm 2026 thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW, kết luận của Ban Chỉ đạo ghi nhận các nền tảng dùng chung bước đầu phát huy hiệu quả, đồng thời nêu rõ khâu yếu nhất là tổ chức thực hiện [4]. Nhận xét này đặc biệt phù hợp với địa phương: sự khác biệt giữa các nơi không chỉ do kinh phí hoặc hạ tầng mà còn do người đứng đầu theo sát kết quả, cơ quan chuyên môn hướng dẫn rõ và cán bộ được hỗ trợ khi gặp vướng mắc. Vì vậy, cần phân biệt hai loại khó khăn để xử lý: lỗi kỹ thuật và sự thiếu rõ ràng về quy trình, thẩm quyền. Mua thêm phần mềm không thể giải quyết một nhiệm vụ chưa có cơ quan chịu trách nhiệm cuối cùng.
Dịch vụ trực tuyến có thể thuận tiện cho người đi làm xa, nhưng gây khó cho người không có thiết bị, tài khoản định danh hoặc kỹ năng thao tác. Ở vùng xa, chất lượng kết nối và khoảng cách đến bộ phận một cửa còn ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng tiếp cận. Vì thế, chuyển đổi số phục vụ Nhân dân cần kết hợp việc thiết kế biểu mẫu dễ hiểu, hỗ trợ tại chỗ và tiếp nhận phản hồi qua nhiều kênh. Chỉ số sử dụng dịch vụ công trực tuyến phải được đọc cùng với thông tin về nhóm dân cư chưa sử dụng, nguyên nhân và biện pháp hỗ trợ cụ thể. Việc công khai trạng thái hồ sơ có thể củng cố niềm tin, nhưng chỉ khi thông tin được cập nhật đúng và người dân nhận được giải thích có ý nghĩa. Thông báo tự động rằng hồ sơ đang xử lý không giúp ích nhiều nếu chậm trễ kéo dài mà không có lý do. Mỗi trường hợp quá hạn cần được phân loại: thiếu tài liệu do hướng dẫn chưa rõ, chờ dữ liệu từ cơ quan khác, lỗi hệ thống hoặc chậm xử lý ở một vị trí việc làm. Từ phân loại đó, cơ quan quản lý mới có thể sửa quy trình và xác định trách nhiệm, thay vì chỉ yêu cầu cán bộ chạy theo tỷ lệ đúng hạn trên báo cáo.
3. Một số giải pháp nâng cao hiệu quả chuyển đổi số trong quản trị địa phương
Một là, lựa chọn bài toán quản trị cụ thể để ưu tiên giải quyết. Mỗi địa phương cần rà soát những thủ tục phát sinh nhiều hồ sơ, nhiều lần đi lại hoặc dễ quá hạn, từ đó xác định dữ liệu cần chia sẻ và khâu cần giản lược trước khi đầu tư công cụ. Thông báo số 24-TB/CQTTBCĐ yêu cầu địa phương xác định rõ các bài toán thực tiễn cần giải quyết, lựa chọn trọng tâm theo điều kiện và thẩm quyền [4, mục 3]. Cách làm này giúp kết quả chuyển đổi số gắn với nhu cầu thực tế thay vì trải đều nguồn lực.
Hai là, chuẩn hóa dữ liệu và tái cấu trúc quy trình liên thông giữa cấp tỉnh và cấp xã. Cần thống nhất đầu mối cập nhật, trách nhiệm kiểm tra và quyền khai thác từng loại dữ liệu; xử lý sai lệch ở nguồn; bảo đảm hồ sơ chuyển cấp không phải nhập lại khi pháp luật cho phép tái sử dụng. Việc chia sẻ phải đi cùng kiểm soát truy cập, bảo vệ dữ liệu cá nhân, bí mật nhà nước và phương án xử lý sự cố. Yêu cầu “dữ liệu đúng, đủ, sạch, sống, liên thông, dùng chung” đã được nhấn mạnh trong kết luận sơ kết thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW [4, mục 3].
Ba là, bồi dưỡng năng lực số và xác định trách nhiệm của người đứng đầu. Cán bộ cần được hướng dẫn theo công việc cụ thể: tiếp nhận hồ sơ, kiểm tra dữ liệu, ký số, xử lý liên thông và hỗ trợ người dân. Người đứng đầu cần theo dõi việc sử dụng hệ thống, giải quyết vướng mắc giữa các đơn vị và chịu trách nhiệm về kết quả thuộc phạm vi quản lý. Thông báo số 24-TB/CQTTBCĐ chỉ rõ nhiệm vụ chỉ được coi là hoàn thành khi có “sản phẩm vận hành, dữ liệu kiểm chứng, người dùng thực tế và hiệu quả đo đếm được” [4, mục 3].
Bốn là, đánh giá từ kết quả phục vụ và duy trì kênh tiếp cận phù hợp. Bên cạnh tỷ lệ hồ sơ trực tuyến, địa phương nên công khai thời gian xử lý thực tế, tỷ lệ đúng hạn, số lần người dân phải bổ sung giấy tờ, mức độ hài lòng và phản ánh được giải quyết. Những chỉ số này cần phân tích theo nhóm dân cư và loại thủ tục để thấy ai còn gặp khó khăn. Hướng dẫn tại chỗ và kênh tiếp nhận trực tiếp phải được tổ chức hiệu quả, để lợi ích của chuyển đổi số đến được cả những người chưa quen thao tác trên mạng.
Năm là, thiết lập cơ chế đánh giá thường xuyên và phản hồi có thể dẫn đến điều chỉnh. Địa phương có thể lựa chọn một số thủ tục thiết yếu để theo dõi theo tháng: thời gian từ tiếp nhận đến kết quả; tỷ lệ hồ sơ phải bổ sung; nguyên nhân quá hạn; số lần người dân phải đến trực tiếp; chi phí thực hiện; và phản ánh sau khi nhận kết quả. Cần công bố phương pháp tính để không so sánh nhầm giữa hồ sơ đơn giản với hồ sơ phức tạp, giữa hồ sơ nộp trực tuyến hoàn toàn với hồ sơ có người hỗ trợ nhập hộ. Dữ liệu đánh giá phải dẫn đến thay đổi hướng dẫn, biểu mẫu, phối hợp hoặc nhân sự, nếu không việc đo lường chỉ trở thành thêm một báo cáo.
Sáu là, gắn chuyển đổi số với bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người dân. Cơ quan xử lý cần giới hạn người được xem dữ liệu, ghi nhận lịch sử truy cập, phân loại thông tin cần bảo vệ và có quy trình thông báo, khắc phục sự cố. Cùng với yêu cầu an toàn kỹ thuật là yêu cầu giải thích: người dân cần biết thông tin nào được dùng để quyết định một hồ sơ, cách sửa dữ liệu sai và kênh khiếu nại, phản ánh. Trong các lĩnh vực ảnh hưởng lớn đến quyền lợi như đất đai hoặc trợ cấp, công cụ tự động chỉ nên hỗ trợ phân loại và cảnh báo; quyết định cuối cùng cần được người có thẩm quyền kiểm tra, chịu trách nhiệm theo pháp luật [7].
Bảy là, duy trì cơ chế phối hợp giữa chính quyền địa phương với cơ quan nghiên cứu, cơ sở đào tạo và doanh nghiệp công nghệ theo những bài toán cụ thể. Địa phương có thể đặt hàng khảo sát hành trình sử dụng dịch vụ công, đánh giá khả năng tiếp cận của nhóm yếu thế, kiểm thử tính dễ dùng của biểu mẫu hoặc phân tích nguyên nhân hồ sơ quá hạn. Kết quả nghiên cứu cần có nơi tiếp nhận và thời hạn áp dụng thử, còn doanh nghiệp cung cấp giải pháp cần được đánh giá theo khả năng tích hợp, bảo trì và chuyển giao kỹ năng. Cách phối hợp đó biến đổi mới sáng tạo thành sự cải thiện của quy trình và năng lực thực thi, phù hợp với yêu cầu tạo sản phẩm, kết quả và giá trị cụ thể của Nghị quyết số 57-NQ/TW [1; 4].
Tám là, phân kỳ triển khai theo năng lực thực tế. Trước hết cần hoàn thiện danh mục thủ tục, dữ liệu nguồn, quyền truy cập và đường đi của hồ sơ; sau đó chọn những thủ tục có nhiều người sử dụng để tái cấu trúc và đo kết quả; tiếp theo mở rộng khi hệ thống đã ổn định. Với mỗi bước phải xác định đơn vị chủ trì, điều kiện hoàn thành và cách xử lý khi hệ thống gặp sự cố. Một lịch trình có thể kiểm tra và điều chỉnh hữu ích hơn mục tiêu triển khai đồng loạt nhưng thiếu hỗ trợ. Cấp tỉnh cần bảo đảm chuẩn chung và nguồn lực; cấp xã phản hồi liên tục về tình huống thực tế, để thiết kế từ trên xuống không xa rời nhu cầu tại quầy.
Chuyển đổi số trong quản trị địa phương là quá trình thay đổi cách chính quyền tổ chức công việc, sử dụng dữ liệu và chịu trách nhiệm trước người dân. Mô hình chính quyền địa phương hai cấp càng làm rõ yêu cầu liên thông giữa thẩm quyền và thông tin. Chỉ khi lựa chọn đúng vấn đề, chuẩn hóa dữ liệu, nâng cao năng lực cán bộ và đo kết quả bằng chất lượng phục vụ, địa phương mới có thể chuyển tinh thần Nghị quyết số 57-NQ/TW thành những cải thiện có thể nhận thấy rõ trong đời sống hằng ngày.
Tài liệu tham khảo
[1] Bộ Chính trị (2024), Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.
[2] Quốc hội (2025), Luật Tổ chức chính quyền địa phương số 72/2025/QH15, ngày 16/6/2025.
[3] Bộ Nội vụ (2025), Trao đổi về vận hành mô hình chính quyền địa phương hai cấp, Cổng Thông tin điện tử Chính phủ, ngày 24/7/2025. https://xaydungchinhsach.chinhphu.vn/toa-dam-chuyen-doi-so-cau-noi-song-con-giua-2-cap-chinh-quyen-dia-phuong-119250724080202009.htm
[4] Cơ quan Thường trực Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số (2026), Thông báo số 24-TB/CQTTBCĐ ngày 07/7/2026 về kết luận tại Hội nghị toàn quốc sơ kết triển khai Nghị quyết số 57-NQ/TW. https://xaydungchinhsach.chinhphu.vn/thong-bao-so-24-tb-cqttbcd-ket-luan-cua-dong-chi-tong-bi-thu-chu-tich-nuoc-to-lam-tai-hoi-nghi-toan-quoc-so-ket-trien-khai-thuc-hien-nghi-quyet-so-57-nq-tw-119260710083249224.htm
[5] Trương Hồ Hải và Trần Quang Hiển (đồng chủ biên) (2026), Giáo trình cao cấp lý luận chính trị: Nhà nước và pháp luật Việt Nam, Nxb. Lý luận chính trị.
[6] Quốc hội (2024), Luật Dữ liệu số 60/2024/QH15, ngày 30/11/2024.
[7] Quốc hội (2025), Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân số 91/2025/QH15, ngày 26/6/2025.
[8] Chính phủ (2025), Nghị định số 118/2025/NĐ-CP ngày 09/6/2025 về thực hiện thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa, một cửa liên thông tại Bộ phận Một cửa và Cổng Dịch vụ công quốc gia.