Xây dựng hệ giá trị quốc gia từ góc nhìn lịch sử và yêu cầu bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng
Từ góc nhìn lịch sử, bài viết phân tích mối quan hệ giữa xây dựng hệ giá trị quốc gia với nhiệm vụ bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trên cơ sở Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị và Quyết định số 1189/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ; qua đó khẳng định hệ giá trị quốc gia là kết quả của quá trình tích lũy và bồi đắp trong lịch sử dân tộc; đồng thời chỉ ra ý nghĩa của việc nghiên cứu, bảo tồn và lan tỏa các giá trị lịch sử trong việc củng cố nền tảng tinh thần của xã hội và tăng cường sức mạnh nội sinh của đất nước.
1. Hệ giá trị quốc gia trong tư duy của Đảng về văn hóa và con người
Văn hóa luôn giữ vị trí đặc biệt trong tư duy lý luận của Đảng Cộng sản Việt Nam. Nếu kinh tế tạo ra của cải vật chất thì văn hóa tạo nên sức mạnh tinh thần, định hướng hành vi xã hội và bồi đắp bản lĩnh của con người. Trong tiến trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta luôn nhận thức văn hóa không chỉ là lĩnh vực của đời sống tinh thần, mà còn là nền tảng góp phần tạo nên bản sắc, sức sống và năng lực phát triển của dân tộc. Bởi vậy, ngay từ những năm đầu của công cuộc đổi mới, yêu cầu xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc đã được xác định là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của sự nghiệp phát triển đất nước; quan điểm ấy tiếp tục được bổ sung, phát triển qua các kỳ Đại hội và ngày càng được đặt trong mối quan hệ trực tiếp với xây dựng con người, phát huy sức mạnh nội sinh và củng cố nền tảng tinh thần của xã hội.
Hệ giá trị có thể được hiểu là sự kết tinh những quan niệm, niềm tin, lý tưởng và chuẩn mực được một cộng đồng thừa nhận, chia sẻ và thực hành. “Hệ giá trị chính là linh hồn, là tinh thần nội tại, là cốt lõi quy định bản sắc và sức sống của một dân tộc, một quốc gia” [1]. Nhận định này cho thấy hệ giá trị không phải là những khẩu hiệu trừu tượng, mà là nền tảng tinh thần giúp một cộng đồng xác định mình là ai, hướng tới điều gì và dựa vào đâu để vượt qua những biến động của thời đại. Cách tiếp cận này rất đáng chú ý vì nó cho thấy hệ giá trị không phải là những khẩu hiệu trừu tượng, mà là nền tảng tinh thần giúp một cộng đồng xác định mình là ai, hướng tới điều gì và dựa vào đâu để vượt qua những biến động của thời đại. Nói cách khác, hệ giá trị là cơ sở để xã hội hình thành sự đồng thuận, duy trì trật tự, định hướng hành động và xây dựng tương lai.
Đại hội XIII của Đảng đánh dấu một bước phát triển quan trọng trong nhận thức về vai trò của văn hóa và con người. Lần đầu tiên, yêu cầu xây dựng hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình và chuẩn mực con người Việt Nam được đặt trong tổng thể chiến lược phát triển đất nước, gắn với mục tiêu khơi dậy khát vọng phát triển phồn vinh, hạnh phúc, phát huy sức mạnh con người Việt Nam và xây dựng nền văn hóa thực sự trở thành nguồn lực nội sinh của sự phát triển. Điểm mới ở đây không chỉ nằm ở việc bổ sung một số khái niệm, mà quan trọng hơn là sự thay đổi trong cách tiếp cận. Nếu trước đây, các giá trị văn hóa chủ yếu được đề cập như những chuẩn mực cần gìn giữ, thì nay hệ giá trị được nhìn nhận như một cấu phần của năng lực phát triển quốc gia. Giá trị không chỉ định hướng hành vi cá nhân mà còn góp phần tạo dựng sự đồng thuận xã hội, củng cố niềm tin chính trị, tăng cường sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc và nâng cao năng lực thích ứng của quốc gia trong bối cảnh toàn cầu hóa, chuyển đổi số và cạnh tranh chiến lược ngày càng gay gắt.
Từ đó, việc xác lập và triển khai hệ giá trị quốc gia mang ý nghĩa sâu sắc hơn một nhiệm vụ văn hóa đơn thuần. Trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, hệ giá trị quốc gia giữ vai trò là nền tảng tinh thần, đạo lý và bản lĩnh cho sự phát triển; là nguồn lực nội sinh góp phần củng cố bản sắc dân tộc và nâng cao khả năng thích ứng của quốc gia trước các biến động toàn cầu [2]. Luận điểm này giúp làm rõ hơn yêu cầu đặt ra hiện nay: xây dựng hệ giá trị quốc gia không phải là công việc hình thức hay khẩu hiệu, mà là quá trình thiết lập những chuẩn mực căn bản, ổn định, có khả năng định hướng hành động xã hội và tạo động lực lâu dài cho phát triển đất nước. Hệ giá trị quốc gia là “trục tinh thần” giúp định hình bản sắc dân tộc, định hướng phát triển và tạo lập sự gắn kết, đồng thuận xã hội.
Trên cơ sở định hướng của Đại hội XIII, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 07/01/2026 về phát triển văn hóa Việt Nam. Nghị quyết xác định xây dựng và phát huy hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình và chuẩn mực con người Việt Nam là một trong những nhiệm vụ trọng tâm nhằm phát triển con người toàn diện, xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh và phát huy sức mạnh nội sinh của dân tộc trong giai đoạn phát triển mới. Tiếp đó, ngày 02/7/2026, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 1189/QĐ-TTg về Kế hoạch triển khai đồng bộ hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình và chuẩn mực con người Việt Nam. Kế hoạch này không dừng lại ở việc phân công nhiệm vụ cho các bộ, ngành, địa phương, mà tiếp cận toàn diện, kết hợp giữa nghiên cứu khoa học, giáo dục, truyền thông, chuyển đổi số và xây dựng môi trường văn hóa nhằm đưa các hệ giá trị vào thực tiễn đời sống.
Theo Quyết định số 1189/QĐ-TTg, hệ giá trị quốc gia Việt Nam bao gồm các giá trị: hòa bình, thống nhất, độc lập, dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, hạnh phúc. Hệ giá trị văn hóa được xác định là dân tộc, dân chủ, nhân văn, khoa học. Hệ giá trị gia đình hướng tới các chuẩn mực ấm no, hạnh phúc, tiến bộ, văn minh. Chuẩn mực con người Việt Nam trong giai đoạn mới được cụ thể hóa bằng các phẩm chất yêu nước, đoàn kết, tự cường, nghĩa tình, trung thực, trách nhiệm, kỷ cương, sáng tạo. Đây là bốn hệ giá trị có quan hệ hữu cơ, không tồn tại biệt lập. Hệ giá trị quốc gia định hướng mục tiêu phát triển của đất nước; hệ giá trị văn hóa tạo nên môi trường nuôi dưỡng các giá trị; hệ giá trị gia đình là không gian đầu tiên hình thành nhân cách; còn chuẩn mực con người là sự cụ thể hóa các giá trị ấy trong hành vi và lối sống của mỗi cá nhân.
Điều đáng lưu ý là hệ giá trị quốc gia không chỉ có ý nghĩa về mặt tư tưởng, đạo đức hay văn hóa, mà còn có ý nghĩa trong quản trị phát triển. Khi các giá trị được xác định rõ, được xã hội chia sẻ và được thể chế hóa trong chính sách, pháp luật, giáo dục, truyền thông và hoạt động của các thiết chế công quyền, chúng sẽ trở thành cơ sở để điều chỉnh hành vi, định hướng lựa chọn chính sách và tăng cường hiệu quả quản trị xã hội. Từ góc độ xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, hệ giá trị quốc gia còn là nền tảng để thiết kế chính sách, pháp luật và các thiết chế công quyền phù hợp với đặc điểm văn hóa - xã hội Việt Nam; khi thiết chế được xây dựng trên nền tảng giá trị đồng thuận, xã hội sẽ giảm xung đột và việc thực thi chính sách, pháp luật cũng hiệu quả hơn [3]. Luận điểm này giúp bổ sung cho cách hiểu về hệ giá trị quốc gia như một nguồn lực mềm, nhưng có tác động thực chất đến đời sống chính trị, xã hội và quản trị quốc gia.
Tuy nhiên, nếu chỉ tiếp cận hệ giá trị quốc gia như một sản phẩm của quá trình hoạch định chính sách thì sẽ chưa phản ánh đầy đủ bản chất của vấn đề. Mỗi giá trị được xác định trong Quyết định số 1189/QĐ-TTg đều có nguồn gốc từ lịch sử, được hình thành qua quá trình dựng nước và giữ nước, được bồi đắp bằng thực tiễn lao động, đấu tranh và sáng tạo của nhiều thế hệ người Việt Nam. Những giá trị như hòa bình, thống nhất, độc lập, dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, hạnh phúc vừa phản ánh khát vọng phát triển hiện nay, vừa có chiều sâu lịch sử, văn hóa và cách mạng. Vì vậy, để hiểu đầy đủ ý nghĩa của việc xây dựng hệ giá trị quốc gia trong giai đoạn hiện nay, cần nhìn nhận vấn đề từ chiều sâu lịch sử và sự phát triển của văn hóa dân tộc. Đây cũng chính là cơ sở để lý giải mối quan hệ giữa xây dựng hệ giá trị quốc gia với nhiệm vụ bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong bối cảnh mới.
2. Lịch sử với sự hình thành hệ giá trị quốc gia Việt Nam
Một hệ giá trị chỉ có thể có sức sống bền vững khi được hình thành từ thực tiễn lịch sử của một dân tộc. Những giá trị được xã hội thừa nhận không phải do ý chí chủ quan của bất kỳ cá nhân hay tổ chức nào áp đặt, mà là kết quả của quá trình tích lũy, sàng lọc, kiểm nghiệm và trao truyền qua nhiều thế hệ. Đối với Việt Nam, hệ giá trị quốc gia được xác định trong Quyết định số 1189/QĐ-TTg là sự khái quát những giá trị đã được hình thành trong chiều dài lịch sử dựng nước và giữ nước, đồng thời được bổ sung, phát triển phù hợp với yêu cầu của thời đại mới. Theo đó, hệ giá trị quốc gia không phải là một cấu trúc khép kín, bất biến, mà là kết quả của sự vận động giữa truyền thống và hiện đại, giữa bản sắc dân tộc và những giá trị tiến bộ của nhân loại.
Từ phương diện lý luận về giá trị, hệ giá trị “không chỉ là sản phẩm của lịch sử mà còn là yếu tố kiến tạo nên lịch sử”; đồng thời là “linh hồn, là tinh thần nội tại, là cốt lõi quy định bản sắc và sức sống của một dân tộc, một quốc gia” [4]. Nhận định này gợi mở một cách tiếp cận quan trọng: lịch sử không chỉ là nơi lưu giữ các giá trị đã qua, mà còn là môi trường hình thành, thử thách và tái tạo các giá trị ấy trong đời sống dân tộc. Chính vì vậy, khi nghiên cứu hệ giá trị quốc gia Việt Nam, không thể tách rời nó khỏi tiến trình lịch sử lâu dài của cộng đồng quốc gia - dân tộc Việt Nam.
Lịch sử dân tộc Việt Nam là lịch sử của quá trình không ngừng đấu tranh để bảo vệ độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và bản sắc văn hóa. Trải qua hàng nghìn năm, từ thời kỳ dựng nước của các Vua Hùng, các cuộc kháng chiến chống ngoại xâm dưới các triều đại phong kiến, đến sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc và công cuộc đổi mới đất nước dưới sự lãnh đạo của Đảng, mỗi giai đoạn lịch sử đều để lại những dấu ấn sâu sắc trong quá trình hình thành hệ giá trị của dân tộc. Những giá trị như lòng yêu nước, tinh thần đoàn kết, ý chí tự cường, lòng nhân ái, cần cù, sáng tạo đã được tích lũy và phát triển qua hàng nghìn năm lịch sử, trở thành yếu tố gắn kết cộng đồng và động lực tinh thần quan trọng của toàn dân tộc. Như vậy, có thể khẳng định các giá trị truyền thống như yêu nước, đoàn kết, ý thức cộng đồng, nhân ái, dũng cảm, cần cù, sáng tạo đã hun đúc nên bản lĩnh và sức mạnh của dân tộc Việt Nam [5].
Từ góc độ sử học, giá trị không phải là những khái niệm bất biến. Mỗi giá trị đều mang dấu ấn của thời đại, đồng thời được kế thừa và phát triển trong những điều kiện lịch sử mới. Chẳng hạn, yêu nước trong thời kỳ đấu tranh giành độc lập dân tộc trước hết được thể hiện bằng ý chí đánh đuổi ngoại xâm, bảo vệ non sông. Trong điều kiện hòa bình, đổi mới và hội nhập quốc tế ngày nay, lòng yêu nước được biểu hiện bằng tinh thần trách nhiệm đối với cộng đồng, ý thức thượng tôn pháp luật, khát vọng cống hiến, năng lực sáng tạo và trách nhiệm xây dựng đất nước giàu mạnh, phồn vinh, hạnh phúc. Nội hàm của giá trị có thể được mở rộng, nhưng cốt lõi của giá trị vẫn được bảo lưu trong dòng chảy lịch sử.
Điều này cũng đúng với giá trị đoàn kết. Lịch sử Việt Nam cho thấy, mọi thắng lợi có ý nghĩa bước ngoặt của dân tộc đều gắn liền với việc tập hợp và phát huy sức mạnh của toàn thể nhân dân. Hội nghị Diên Hồng thời Trần, tư tưởng “lấy dân làm gốc” của Nguyễn Trãi, khối đại đoàn kết toàn dân tộc trong Cách mạng Tháng Tám năm 1945 hay trong các cuộc kháng chiến chống thực dân, đế quốc đều phản ánh một quy luật: sức mạnh của dân tộc luôn được tạo nên từ sự đồng thuận xã hội. Đó cũng là cơ sở lịch sử để đoàn kết trở thành một trong những giá trị cốt lõi của hệ giá trị quốc gia và chuẩn mực con người Việt Nam hiện nay.
Tương tự, giá trị hòa bình trong hệ giá trị quốc gia Việt Nam cần được hiểu trong bối cảnh lịch sử cụ thể của dân tộc. Việt Nam là một dân tộc đã trải qua nhiều cuộc chiến tranh để bảo vệ nền độc lập. Chính vì đã phải đánh đổi bằng nhiều hy sinh, mất mát, dân tộc Việt Nam càng trân trọng giá trị của hòa bình. Hòa bình ở đây không đồng nghĩa với sự nhân nhượng vô nguyên tắc, mà là khát vọng được sống trong một môi trường ổn định để phát triển đất nước, đồng thời kiên quyết bảo vệ độc lập, chủ quyền và lợi ích quốc gia - dân tộc. Hòa bình, thống nhất, độc lập được xem là bộ ba giá trị nền tảng, “là kết tinh của lịch sử hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước đầy gian khổ, hy sinh của dân tộc ta” [6].
Một điểm đáng chú ý là nhiều giá trị được xác định trong hệ giá trị quốc gia hiện nay không chỉ phản ánh truyền thống mà còn thể hiện yêu cầu phát triển của đất nước trong giai đoạn mới. Các giá trị như dân chủ, công bằng, văn minh, hạnh phúc, hay các chuẩn mực trung thực, trách nhiệm, kỷ cương, sáng tạo đều gắn với mục tiêu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đẩy mạnh khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và hội nhập quốc tế sâu rộng. Như vậy, hệ giá trị quốc gia là sự kết hợp giữa truyền thống và hiện đại; giữa bản sắc dân tộc và giá trị tiến bộ của nhân loại; giữa yêu cầu kế thừa và yêu cầu đổi mới.
Sâu sắc hơn, hệ giá trị quốc gia còn phản ánh khát vọng phát triển của dân tộc trong từng giai đoạn lịch sử. Hệ giá trị quốc gia “được hình thành từ lịch sử, văn hóa và từ khát vọng phát triển của dân tộc, phản ánh bản sắc, lý tưởng và mục tiêu chung mà cả cộng đồng hướng tới” [7]. Luận điểm này cho thấy hệ giá trị quốc gia không chỉ nhìn về quá khứ để nhận diện bản sắc, mà còn hướng tới tương lai để định hình mục tiêu phát triển. Trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, hệ giá trị quốc gia càng cần được nhận thức như một nguồn lực nội sinh, góp phần củng cố niềm tin, tạo đồng thuận xã hội và nâng cao năng lực thích ứng của đất nước trước những biến động toàn cầu.
Với khoa học lịch sử, việc nghiên cứu quá trình hình thành và phát triển của các hệ giá trị có ý nghĩa không chỉ đối với nhận thức quá khứ mà còn đối với hoạch định chính sách trong hiện tại. Lịch sử giúp lý giải vì sao một số giá trị được cộng đồng bền bỉ gìn giữ qua nhiều thế kỷ, trong khi có những quan niệm từng phù hợp với một giai đoạn lịch sử nhưng dần được điều chỉnh hoặc thay thế bởi những chuẩn mực mới. Chính khả năng lý giải đó tạo nên giá trị đặc thù của lịch sử học đối với việc nghiên cứu hệ giá trị quốc gia. Nói cách khác, sử học không chỉ kể lại quá khứ, mà còn góp phần nhận diện những mạch nguồn giá trị đã làm nên sức sống của dân tộc, từ đó cung cấp luận cứ khoa học cho việc lựa chọn, kế thừa, phát triển và lan tỏa các giá trị trong đời sống đương đại.
Trong bối cảnh toàn cầu hóa, chuyển đổi số và cách mạng công nghiệp lần thứ tư đang tạo ra những biến đổi sâu sắc về văn hóa, lối sống và phương thức tiếp cận thông tin, việc nhận diện đúng nguồn gốc lịch sử của các hệ giá trị càng trở nên quan trọng. Nếu thiếu nền tảng lịch sử, các giá trị dễ bị hiểu giản đơn như những khẩu hiệu tuyên truyền; ngược lại, khi được soi chiếu từ chiều sâu lịch sử, các giá trị ấy sẽ hiện lên như kết quả của một quá trình kết tinh lâu dài, có cơ sở thực tiễn và có sức thuyết phục xã hội. Hệ giá trị của một quốc gia “không thể là một lâu đài xây trên cát”, mà phải có “gốc rễ sâu xa trong lịch sử và văn hóa của dân tộc” [8]. Đây là một luận điểm có ý nghĩa phương pháp luận quan trọng đối với việc nghiên cứu và triển khai hệ giá trị quốc gia Việt Nam hiện nay.
Vì vậy, hệ giá trị quốc gia Việt Nam không phải là điểm khởi đầu của một quá trình, mà là kết quả của cả một tiến trình lịch sử lâu dài. Việc xác định và tổ chức triển khai hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình và chuẩn mực con người Việt Nam trong giai đoạn hiện nay không phải là tạo ra những giá trị hoàn toàn mới, mà là nhận diện, chuẩn hóa, bổ sung và lan tỏa những giá trị đã được lịch sử kiểm chứng. Chỉ khi hiểu rõ những giá trị nào đã làm nên sức sống của dân tộc trong quá khứ, chúng ta mới có cơ sở để lựa chọn, kế thừa và phát triển những giá trị ấy trong hiện tại, đồng thời tiếp thu có chọn lọc tinh hoa văn hóa nhân loại mà không làm phai nhạt bản sắc Việt Nam. Trong ý nghĩa đó, lịch sử là nền tảng, là chiều sâu và cũng là nguồn lực khoa học quan trọng để xây dựng hệ giá trị quốc gia Việt Nam trong kỷ nguyên mới.
3. Xây dựng và lan tỏa hệ giá trị quốc gia góp phần củng cố nền tảng tư tưởng của Đảng
Nghị quyết số 35-NQ/TW tập trung vào nhiệm vụ bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch thì Nghị quyết số 80-NQ/TW và Quyết định số 1189/QĐ-TTg góp phần tạo dựng nền tảng giá trị để nhiệm vụ đó được thực hiện từ gốc. Chính ở điểm gặp nhau này có thể thấy xây dựng hệ giá trị quốc gia không chỉ là nhiệm vụ phát triển văn hóa, mà còn là một giải pháp có ý nghĩa chiến lược trong công tác xây dựng Đảng về chính trị, tư tưởng, đạo đức và bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới.
Nền tảng tư tưởng của Đảng không chỉ được bảo vệ bằng các hoạt động đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, mà còn được củng cố từ chính những giá trị mà xã hội lựa chọn, tôn vinh và thực hành. Khi các giá trị yêu nước, đoàn kết, tự cường, trung thực, trách nhiệm, kỷ cương, sáng tạo trở thành chuẩn mực phổ biến trong đời sống xã hội, chúng sẽ tạo nên sức mạnh tinh thần từ bên trong, giúp cộng đồng có khả năng tự nhận diện, tự điều chỉnh và tự bảo vệ trước những biểu hiện lệch chuẩn. Khi các giá trị được cộng đồng chấp nhận, tôn trọng và thực hành đồng thuận, chúng sẽ trở thành “hệ miễn dịch” xã hội, góp phần củng cố niềm tin, nâng cao sự đồng thuận và tăng khả năng chống chịu trước sự xâm nhập của các giá trị tiêu cực, lai căng vào đời sống xã hội [9]. Đây là một luận điểm đáng chú ý, bởi bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng không chỉ là “chống” cái sai, cái xấu, cái độc hại, mà còn phải chủ động xây dựng, bồi đắp và lan tỏa cái đúng, cái tốt, cái đẹp trong đời sống tinh thần của xã hội.
Đại hội XIII của Đảng xác định một trong những nhiệm vụ trọng tâm là khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc; phát huy giá trị văn hóa và sức mạnh con người Việt Nam trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Tinh thần đó tiếp tục được cụ thể hóa trong Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị: “Phát triển văn hoá vì sự hoàn thiện nhân cách con người xã hội chủ nghĩa trong kỷ nguyên mới và xây dựng con người để phát triển văn hoá. Tạo lập môi trường văn hoá nhân văn, lành mạnh, văn minh, hiện đại. Phát triển toàn diện văn hoá, con người Việt Nam trên nền tảng hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hoá, hệ giá trị gia đình và chuẩn mực con người Việt Nam; phát huy truyền thống yêu nước, bản lĩnh, trí tuệ, tinh thần tự chủ, tự cường dân tộc, đề cao đạo đức, tài năng, sức sáng tạo và khát vọng cống hiến vì sự phồn vinh, văn minh, hạnh phúc của Nhân dân và sự phát triển mạnh mẽ của dân tộc Việt Nam trong kỷ nguyên mới” [10]. Như vậy, Bộ Chính trị đã đặt việc xây dựng hệ giá trị quốc gia trong mối quan hệ trực tiếp với nhiệm vụ phát triển con người, phát triển văn hóa và tăng cường sức mạnh tinh thần của dân tộc.
Quyết định số 1189/QĐ-TTg tiếp tục cụ thể hóa định hướng đó thành hệ thống nhiệm vụ đồng bộ về nghiên cứu khoa học, giáo dục, truyền thông, chuyển đổi số và xây dựng môi trường văn hóa. Điều này cho thấy hệ giá trị quốc gia không thể chỉ tồn tại ở bình diện nhận thức hay tuyên ngôn chính sách, mà phải được chuyển hóa thành hành vi xã hội, thành chuẩn mực ứng xử và thành động lực phát triển trong đời sống hằng ngày. Cần nhấn mạnh rằng xây dựng hệ giá trị không chỉ là công việc của một số cơ quan, đơn vị, mà cần trở thành phong trào sâu rộng trong mọi tầng lớp nhân dân, được triển khai thông qua giáo dục, truyền thông, văn hóa, nghệ thuật, báo chí, xuất bản và các hoạt động xã hội. Những kênh này có vai trò quan trọng trong việc lan tỏa, thẩm thấu các giá trị, góp phần tôn vinh cái tốt, cái đẹp, lên án cái xấu, cái ác, định hướng thẩm mỹ và nhân cách cho công chúng.
Ở chiều ngược lại, công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng hiện nay đang đứng trước những yêu cầu mới. Không gian mạng mở rộng cơ hội tiếp cận tri thức, nhưng đồng thời cũng trở thành môi trường để các thông tin sai lệch, xuyên tạc lịch sử, phủ nhận thành quả cách mạng, bóp méo giá trị văn hóa dân tộc và truyền bá lối sống lệch chuẩn lan truyền nhanh chóng. Nếu chỉ chú trọng đấu tranh phản bác mà chưa quan tâm đúng mức đến việc bồi đắp các giá trị tích cực thì hiệu quả bảo vệ nền tảng tư tưởng sẽ khó bền vững. Bởi vậy, xây dựng hệ giá trị quốc gia cần được xem là giải pháp mang tính nền tảng, lâu dài. Khi các giá trị đúng đắn đã thấm sâu vào nhận thức, tình cảm, niềm tin và hành vi của con người, chúng sẽ tạo thành sức đề kháng nội sinh trước các thông tin độc hại, các luận điệu xuyên tạc và các biểu hiện suy thoái về tư tưởng, đạo đức, lối sống.
Để các hệ giá trị thực sự đi vào cuộc sống, điều quan trọng không chỉ là tuyên truyền, mà còn phải được luận giải bằng cơ sở khoa học, được minh chứng bằng thực tiễn lịch sử và được truyền tải bằng những phương thức phù hợp với điều kiện của thời đại số. Đây chính là không gian để khoa học lịch sử phát huy vai trò của mình. Lịch sử không chỉ giúp nhận thức đúng quá khứ mà còn góp phần lý giải vì sao dân tộc Việt Nam hình thành và gìn giữ được những giá trị cốt lõi như yêu nước, đoàn kết, nhân nghĩa, tự cường và khát vọng hòa bình. Mỗi công trình nghiên cứu nghiêm túc, mỗi tư liệu lịch sử được công bố khách quan, mỗi kết quả khoa học được kiểm chứng đều góp phần củng cố nhận thức đúng đắn của xã hội, từ đó tăng cường niềm tin đối với lịch sử dân tộc, đối với sự nghiệp cách mạng và con đường phát triển đất nước.
Từ đó, việc nghiên cứu, bảo tồn và lan tỏa tri thức lịch sử có ý nghĩa trực tiếp đối với nhiệm vụ bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Các thế lực thù địch thường tìm cách xuyên tạc lịch sử, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng, hạ thấp giá trị của các cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc và làm phai nhạt niềm tin của nhân dân, nhất là thế hệ trẻ. Vì vậy, đấu tranh bảo vệ sự thật lịch sử, làm rõ giá trị của độc lập dân tộc, chủ nghĩa yêu nước, tinh thần đoàn kết, nhân nghĩa, tự cường và khát vọng hòa bình cũng chính là bảo vệ những nền tảng giá trị làm nên bản lĩnh Việt Nam. Ở đây, khoa học lịch sử không chỉ có chức năng nhận thức quá khứ, mà còn có chức năng giáo dục giá trị, bồi dưỡng niềm tin, củng cố bản sắc và tăng cường năng lực tự bảo vệ của xã hội trước những thông tin sai trái, thù địch.
Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia đang được triển khai đồng bộ và quyết liệt, việc đổi mới phương thức nghiên cứu và phổ biến tri thức lịch sử càng trở nên cần thiết. Chuyển đổi số không chỉ là số hóa tư liệu, mà còn tạo điều kiện xây dựng các cơ sở dữ liệu mở, phát triển sản phẩm truyền thông khoa học, đổi mới cách thức giới thiệu kết quả nghiên cứu và mở rộng khả năng tiếp cận lịch sử đối với công chúng. Qua đó, các giá trị đã được lịch sử kiểm chứng có thể được lan tỏa bằng những phương thức hiện đại, hấp dẫn, phù hợp hơn với nhu cầu tiếp nhận của xã hội, nhất là trong môi trường truyền thông số. Đây cũng là cách để các cơ quan nghiên cứu lịch sử, trong đó có Viện Sử học, đóng góp thiết thực vào việc triển khai Quyết định số 1189/QĐ-TTg, xây dựng hệ giá trị quốc gia Việt Nam và củng cố vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng.
Như vậy, xây dựng hệ giá trị quốc gia không chỉ là nhiệm vụ phát triển văn hóa mà còn là giải pháp lâu dài nhằm củng cố nền tảng tinh thần của xã hội và tăng cường sức mạnh nội sinh của dân tộc. Từ góc nhìn lịch sử, các hệ giá trị được xác lập trong Quyết định số 1189/QĐ-TTg không phải là những chuẩn mực được tạo ra một cách đơn thuần, mà là sự kết tinh của truyền thống lịch sử, văn hóa và quá trình phát triển của dân tộc Việt Nam. Hệ giá trị Việt Nam được xây dựng trên nền tảng kế thừa giá trị truyền thống tốt đẹp, phát huy giá trị cách mạng và tiếp thu có chọn lọc giá trị tiến bộ của nhân loại; sự kết hợp hài hòa đó tạo nên một hệ thống giá trị vừa mang tính dân tộc sâu sắc, vừa mang tính thời đại tiến bộ [11].
Việc nghiên cứu, bảo tồn, giáo dục và lan tỏa các giá trị lịch sử bằng những phương thức phù hợp với yêu cầu của thời đại sẽ góp phần thực hiện hiệu quả chủ trương của Đảng về phát triển văn hóa, xây dựng con người Việt Nam, đồng thời tạo nền tảng vững chắc để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong giai đoạn phát triển mới. Trong ý nghĩa đó, nghiên cứu và phát huy các giá trị lịch sử không chỉ góp phần gìn giữ bản sắc văn hóa dân tộc, mà còn là đóng góp thiết thực của khoa học lịch sử vào sự nghiệp xây dựng, phát triển đất nước và bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng trong kỷ nguyên mới.
Chú thích:
[1], [4], [5], [6], [8], [11] Nguyễn Tài Đông, "Xây dựng hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, chuẩn mực con người gắn với giữ gìn, phát triển hệ giá trị gia đình Việt Nam". Tạp chí Khoa học xã hội Việt Nam, số 6 (210), tr.19-30. DOI: 10.56794/KHXHVN.6(210).19-30.
[2], [3], [7], [9] Nguyễn Quốc Sửu, "Một số định hướng xây dựng hệ giá trị quốc gia trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc". Tạp chí Quản lý Nhà nước, số 352, tháng 5/2025, tr. 3-8. DOI: 10.59394/qlnn.352.2025.1163.
[10] Bộ Chính trị, Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 07 tháng 01 năm 2026 về phát triển văn hóa Việt Nam. Hà Nội, 2026.
TÀI LIỆU THAM KHẢO:
1. Ban Bí thư, Kết luận số 01-KL/TW ngày 18 tháng 5 năm 2021 về tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW của Bộ Chính trị khóa XII về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, Hà Nội, 2021.
2. Bộ Chính trị, Nghị quyết số 35-NQ/TW ngày 22 tháng 10 năm 2018 về tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới, Hà Nội, 2018.
3. Bộ Chính trị, Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22 tháng 12 năm 2024 về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, Hà Nội, 2024.
4. Bộ Chính trị, Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 07 tháng 01 năm 2026 về phát triển văn hóa Việt Nam, Hà Nội, 2026.
5. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII (Tập I). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021.
6. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII (Tập II). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021.
7. Nguyễn Quốc Sửu, “Một số định hướng xây dựng hệ giá trị quốc gia trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc”. Tạp chí Quản lý Nhà nước, số 352, tháng 5/2025, tr. 3-8. DOI: 10.59394/qlnn.352.2025.1163.
8. Nguyễn Tài Đông, “Xây dựng hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, chuẩn mực con người gắn với giữ gìn, phát triển hệ giá trị gia đình Việt Nam”. Tạp chí Khoa học xã hội Việt Nam, số 6(210), tr. 19-30. DOI: 10.56794/KHXHVN.6(210).19-30.
9. Thủ tướng Chính phủ, Quyết định số 1189/QĐ-TTg ngày 02 tháng 7 năm 2026 ban hành Kế hoạch triển khai đồng bộ hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình và chuẩn mực con người Việt Nam, Hà Nội, 2026.
10. Avatar: Hệ giá trị văn hóa truyền thống Việt Nam được hình thành bền vững qua hàng nghìn năm, truy cập 5-7-2026, https://www.quanlynhanuoc.vn/2023/01/20/he-gia-tri-quoc-gia-tu-goc-nhin-cua-he-gia-tri-gia-dinh-truyen-thong-viet-nam/