Sông Vĩnh Tế trong chính sách quốc phòng - an ninh của triều Nguyễn
Từ thế kỷ XVII, người Việt từ miền Bắc và miền Trung đã vào khai phá vùng đất Nam Bộ, dựng làng, lập ấp cùng người dân bản địa chinh phục vùng đất hoang vu nhưng trù phú này. Các chúa Nguyễn và nhà Nguyễn xúc tiến mạnh mẽ việc quản lý (xác lập, sắp đặt các đơn vị hành chính) và nhanh chóng đưa vùng Nam Bộ phát triển.

1. Bối cảnh vùng biên giới phía Tây Nam và sự ra đời sông Vĩnh Tế

Nam Bộ có đường biên giới trên bộ giáp với Chân Lạp, lại có đường biên giới trên biển giáp với Xiêm nên vấn đề quốc phòng và an ninh vùng biên giới được các vua triều Nguyễn đặc biệt chú trọng.

Đối với vùng biên giới phía Tây Nam, triều Nguyễn dùng hai biện pháp cơ bản trong việc đẩy mạnh khai hoang, nhằm giải quyết các khó khăn về kinh tế - xã hội, đó là: Chiêu mộ dân cường tráng, lập thành cơ đội để phòng thủ trong trấn và thực hiện việc đào kênh rạch.

Vùng biên giới từ Châu Đốc đến Hà Tiên giáp Chân Lạp có vị trí chiến lược quan trọng ở biên giới Tây Nam nước ta. Cư dân thưa thớt, đường thông thương giữa Châu Đốc - Hà Tiên gặp không ít khó khăn. Nhằm giải quyết yêu cầu quốc phòng thời bấy giờ, vua Gia Long cho đào kênh nhằm mở thông đường thủy, để lợi cả cho phát triển nông nghiệp và giao thương buôn bán giữa các vùng, giữa Việt Nam và Chân Lạp.

Trước đây, vua Gia Long thấy đạo Châu Đốc là nơi quan trọng ở biên thùy, muốn đặt bảo ở nơi hiểm trở để giữ. Đồng thời, ông có chủ trương khai mở một con sông nối liền Châu Đốc với Hà Tiên nhằm củng cố khu vực Châu Đốc - vùng trọng yếu ở phía Tây Nam. Sau khi nghị bàn việc đào sông, tháng 4 năm Bính Tý (1816), triều đình cử các quan Lưu Phúc Tường, Nguyễn Đức Sỹ đi đo đường đất từ Châu Đốc đến Hà Tiên (từ mặt sau bảo Châu Đốc đến các xứ Náo Khẩu, Cây Báng), rồi vẽ bản đồ đưa về[1]. Đến tháng 12 năm Bính Tý (1816), khi xem xong bản đồ Châu Đốc, vua Gia Long nói: “Đất này mở đường sông để đi thẳng đến Hà Tiên, làm ruộng đi buôn đều được lợi cả. Sau này dân ở đông đúc, đất mở rộng rãi, có thể thành một trấn to lớn”[2]. Vua Gia Long cũng nhắc nhở Lê Văn Duyệt khi tiếp xúc với vua Chân Lạp là Nặc Chân thì nên “lấy điều lợi về đào sông Châu Đốc mà bảo, khiến quy hoạch trước, đợi ngày chiều văn đến thì phát ngay quân dân ra góp sức để đào, để chóng xong việc”[3].

Sau khi đào xong kênh Thoại Hà, Thống chế Thoại Ngọc Hầu, lúc bấy giờ là Trấn thủ trấn Vĩnh Thanh, Gia Định nhận chiếu chỉ tiếp tục đào con kênh dọc theo biên giới Tây Nam kéo từ Châu Đốc tới Hà Tiên. Vị trí kênh được đào song song với đường biên giới Việt Nam - Chân Lạp, bắt đầu từ bờ Tây sông Châu Đốc nối thẳng với sông Giang Thành (nay thuộc thành phố Hà Tiên, tỉnh Kiên Giang). Con kênh được đào xong và được mang tên là sông Vĩnh Tế. “Vét đào đường sông Châu Đốc thông đến Hà Tiên. Cho tên là sông Vĩnh Tế”[4].

Kênh Vĩnh Tế ban đầu được đào vét theo chiếu vua ban, gọi là Vĩnh Tế hà - tức sông Vĩnh Tế. Vĩnh là lâu dài, mãi mãi bền vững, Tế chỉ sự cứu giúp, ban phước huệ. Điều này hoàn toàn phù hợp với ý nghĩa của dòng kênh nông - thương cùng khai mở, còn có ý lưu giữ lại công sức của người dân hai dân tộc Việt và Miên cùng góp lại, trong đó khẳng định ý muốn an dân của triều Nguyễn. Năm Minh Mệnh thứ 17 (1836), vua Minh Mệnh cho đúc Cửu đỉnh để làm quốc bảo và tượng trưng cho sự miên viễn của hoàng gia, đã cho khắc hình tượng kênh Vĩnh Tế vào Cao Đỉnh đặt trang trọng, uy nghi ở sân trước nhà Thái Miếu tại Đại Nội, kinh thành Huế. Trên Cao Đỉnh trạm chữ Vĩnh Tế hà[5] với hình dòng sông uốn lượn dưới dải núi non, cây cỏ, để nhắc nhớ người đời sau về công cuộc thủy lợi vĩ đại này.

Trong nhân dân lưu truyền rằng, vua Minh Mệnh cho đặt tên kênh theo tên của bà phu nhân của Thoại Ngọc Hầu - vị tổng công trình sư của công trình thủy lợi vĩ đại này - bà Châu Thị Vĩnh Tế. Trước đây, vua Gia Long đã cho phép Thoại Ngọc Hầu dùng tên của mình đặt cho con kênh mới đào xong, là kênh Thoại Hà. Nay con kênh nối Hà Tiên với Châu Đốc, nơi đã chứng kiến biết bao sức người, sức của để đào vét nhằm lợi ích an dân, được Thoại Ngọc Hầu đặt theo tên của người phu nhân của mình - một người phụ nữ đức độ, thương dân, để ghi nhớ mãi mãi.

Anh-tin-bai
Hình 1: Cao đỉnh (đặt trong Hoàng thành Huế) khắc hình kênh Vĩnh Tế (Nguồn: Dương Phước Thu. https://sdl.thuathienhue.gov.vn/?gd=7&cn=85&tc=75084)

Việc đào sông Vĩnh Tế kéo dài trong khoảng 5 năm (1819 - 1824), huy động trên 80.000 người Việt và người Chân Lạp cùng tham gia.

Ngày 15 tháng 12 năm Kỷ Mão (1819), khởi công đào sông Vĩnh Tế bắt nguồn từ sông Châu Đốc. Vua Gia Long cử Trấn thủ Vĩnh Thanh là Nguyễn Văn Thuỵ (Thoại) và Chưởng cơ Phan Văn Tuyên đốc suất dân phu 5.000 người và binh dân đồn Uy Viễn 500 người; Chiêu thùy Đồng Phù (một chức quan nước Chân Lạp) quản suất dân Chân Lạp 5.000 người cùng nhau khởi công. Dân Việt và binh đồn Uy Viễn, mỗi người mỗi tháng được cấp 6 quan tiền, 1 phương gạo (khoảng 30kg); dân Chân Lạp mỗi tháng được cấp 4 quan 5 tiền và 1 phương gạo[6].

Việc đào sông còn đang dang dở thì vua Gia Long qua đời. Vua Minh Mệnh nối ngôi, thấy dân tình vất vả, đã dụ thành thần Gia Định thường xuyên để ý hỏi han, cấp thuốc men cho người ốm và tiền bạc, vải vóc cho người chết.

Tháng 2 năm Quý Mùi (1823), tiếp tục đào sông Vĩnh Tế. Vua Minh Mệnh dụ cho Tổng trấn Gia Định là Lê Văn Duyệt điều động hơn 35.000 binh dân ở thành và các trấn Vĩnh Thanh, Định Tường, đồn Uy viễn, cùng hơn 10.000 binh dân nước Chân Lạp ra làm, mỗi tháng cấp tiền gạo đều như lệ năm Gia Long (dân hạt thành mỗi tháng tiền 6 quan, gạo 1 phương, mỗi 5.000 người đặt 150 người chức dịch, cấp tiền 1.000 quan, gạo 150 phương. Dân Chân Lạp mỗi tháng tiền 4 quan 5 tiền, gạo 1 phương, mỗi 5.000 người đặt 100 người đầu mục Ốc-nha Bồn-nha, cấp tiền 1.000 quan, gạo 150 phương). Chưa được bao lâu, Lê Văn Duyệt bị bệnh, vua Minh Mệnh sai Phó tổng trấn Trương Tiến Bửu làm thay, điều hành công việc.

Tháng 4 năm Quý Mùi (1823), lại hoãn việc đào sông Vĩnh Tế. Đến tháng 2 năm Giáp Thân (1824), thì công việc đào sông Vĩnh Tế mới được tiếp tục. Vua cho lấy binh dân các trấn thuộc thành và nước Chân Lạp hơn 24.700 người làm việc, chi cấp lương tiền như lệ năm Minh Mệnh thứ 4.

Tháng 5 năm Giáp Thân (1824), công việc đào sông Vĩnh Tế được hoàn tất. Vua Minh Mệnh khẳng định: “Đào con sông ấy để trọn công trước, thực là lợi ức muôn năm vô cùng về sau”. Khi đào xong, kênh rộng 15 tầm, sâu 6 thước, chiều dài sông từ Châu Đốc đến Giang Thành (Hà Tiên) khoảng 98.300 m (98,3km)[7].

Sông Vĩnh Tế không chỉ là một công trình thủy lợi phục vụ sản xuất nông nghiệp và đời sống dân sinh cho dân cư hai nước Việt Nam và Campuchia, mà còn khai thông tuyến đường thủy quan trọng, giúp việc cơ động lực lượng, chuyển vận binh mã, lương thảo từ Châu Đốc đến vịnh Xiêm La không phải đi vòng ra biển mỗi khi Hà Tiên, Rạch Giá bị xâm lăng bất ngờ. Các con kênh mới đào (Thoại Hà, Vĩnh Tế…) nhắm đến việc khai phá Tứ giác Long Xuyên và kết nối dải đất phía tây với Gia Định. Các dòng sông theo hướng Tây Bắc-Đông Nam, các con kênh này được đào theo hướng Đông Bắc-Tây Nam nhằm kết nối các dòng chảy tự nhiên và đưa nước ra biển, đồng thời cũng tạo ra địa hình chiến lược cho thiết kế chính trị và quân sự dọc theo không gian biên giới với Campuchia[8].

2. Vai trò của sông / kênh Vĩnh Tế trong chính sách quốc phòng - an ninh của triều Nguyễn

Vào cuối thế kỷ XVII, chúa Nguyễn đã xác lập được quyền lực của mình tại vùng trung tâm của Nam Bộ, khẳng định chủ quyền của người Việt trên vùng đất cực Nam của Tổ quốc, đánh dấu bằng sự kiện, năm 1698, chúa Nguyễn cử Thống suất Nguyễn Hữu Cảnh vào kinh lý vùng đất này và lập ra ở đây một đơn vị hành chính lớn là phủ Gia Định. Tiếp đó là sự kiện đặc biệt quan trọng vào năm 1708, Mạc Cửu ở Hà Tiên xin quy phục chúa Nguyễn và đem theo toàn bộ vùng đất do ông khai phá, chiêu mộ dân, sửa sang bến thuyền, mở mang chợ búa… nội thuộc vào chính quyền chúa Nguyễn. Đến năm 1757, khi đất Tầm Phong Long (tương đương với vùng tứ giác Long Xuyên ngày nay) được vua Chân Lạp là Nặc Tôn dâng cho chúa Nguyễn để đền ơn cứu giúp trong lúc hoạn nạn và giành lại ngôi vua, thì quá trình xác lập chủ quyền lãnh thổ của người Việt trên đất Nam Bộ về cơ bản đã hoàn thành.

Đất Tầm Phong Long từ khi sáp nhập vào lãnh thổ Đại Việt đã hoàn tất quá trình xác lập lãnh thổ trên vùng đất Đàng Trong của các chúa Nguyễn. Từ đây, bản đồ Đàng Trong của các chúa Nguyễn đã hoàn chỉnh và phân định rạch ròi với các quốc gia láng giềng. Công cuộc khai phá đất đai, phát triển hệ thống kênh rạch, ổn định hệ thống hành chính trên vùng đất mới từ năm 1757 đến giữa thế kỷ XIX của chính quyền và nhân dân đã khẳng định chắc chắn chủ quyền lãnh thổ của Đại Việt (Việt Nam sau này).

Việc đào sông Vĩnh Tế nối liền Châu Đốc và Hà Tiên dẫn nước Hậu Giang ra biển Tây không những đã mở mang bờ cõi, lợi nông ích thương, mà còn là việc quyết định đến quan hệ quân sự quốc phòng với Cao Miên thời bấy giờ. Vua Minh Mệnh dụ cho bộ Hộ về tầm quan trọng của đồn Châu Đốc: “Đồn ấy là chỗ địa đầu quan yếu, đã từng sai chiêu tập dân chúng và nhà buôn, cho vay tiền thóc, để họ khẩn ruộng, lập ấp, họp nhau cư trú, làm ăn sinh sống nơi biên thùy của ta cho được bền vững”[9]. Sông Vĩnh Tế ở phía đông tỉnh Hà Tiên thời Nguyễn “để thông đường quân đường lương với các tỉnh ngoài, thực là nơi cửa ngõ hiểm yếu của Nam Kỳ”[10]. Chính con sông đã góp phần to lớn vào việc phát triển nhanh chóng và lâu dài vùng đất mới ở miền biên viễn Tây Nam.

Nhận thức của vua Gia Long và vua Minh Mệnh khi cho tiến hành đào kênh Vĩnh Tế đã phản ánh nhãn quan chính trị và quyết tâm sắt đá của nhà Nguyễn đối với vấn đề chủ quyền và an ninh trật tự ở vùng biên cương Tây Nam. “Về mặt chính trị và quân sự, kênh Vĩnh Tế trở thành một hào lũy phân ranh biên giới phục vụ hiệu quả cho việc quản lý chủ quyền lãnh thổ Tây Nam và chống lại các cuộc xâm lấn của ngoại bang từ phía Tây. Con kênh thực sự đem đến lợi ích lâu dài, bền vững cho công cuộc bảo vệ đất nước và ổn định dân cư”[11].

Sông Vĩnh Tế thể hiện tầm nhìn chiến lược của chính quyền nhà Nguyễn, trên thực tế, sau khi hoàn công, sông đã phát huy được vai trò và lợi ích to lớn đối với chính trị, an ninh quốc phòng, đối ngoại cũng như việc phát triển vùng biên viễn trên toàn bộ khu vực phía Tây Nam từ Châu Đốc đến Hà Tiên. Từ cuối thế kỷ XVIII, biên giới phía Tây của Nam Bộ được tính từ điểm cực Tây Bắc ở phủ Gia Định xuống phía Nam, đi qua phía trên núi Bà Đen, phía trên đất Lôi Lạp (khu vực Quang Hóa, giữa hai sông Vàm Cổ); cắt sông Tiền và sông Hậu ở phía tây Châu Đốc ngày nay bằng cách dung nạp vào lãnh thổ Việt Nam các địa phương Chân Sum, Sài Mạt, Linh Quỳnh (khu vực phía Tây kênh Vĩnh Tế ngày nay); sau đó chạy sang hướng Tây tới biên giới với Xiêm, ngăn cách Chân Lạp đương thời với vịnh Thái Lan[12].

Sông / kênh Vĩnh Tế trở thành đường biên giới tự nhiên, xác lập chủ quyền của vùng đất cực Nam Việt Nam với Campuchia. Từ sau năm 1829, sau khi Nặc Ong Chăn tình nguyện hiến các phủ Chân Sâm, Mật Luật cho triều đình Huế, thì “biên giới giữa Đại Nam và Chân Lạp, ở khu vực từ bờ Nam sông Tiền xuống tới khoảng giữa Hà Tiên và Châu Đốc, theo bờ Bắc kênh Vĩnh Tế, được đẩy sâu vào lãnh thổ Chân Lạp”[13]. Năm 1870, trong Công ước về việc xác định dứt điểm đường biên giới giữa Vương quốc Campuchia và xứ Nam Kỳ thuộc Pháp (ký ngày 15/7/1870) đã chỉ rõ đường biên giới từ cột mốc 60 đi theo bờ bắc rạch Vàm Dừa và Ta Deu, gặp rạch Bà Nam (ngày nay gọi là sông Sở Thượng), tiếp tục theo hướng Tây Bắc dọc theo bờ Bắc của rạch này, rồi rẽ hướng Tây cắt rạch Bà Nam và sông Tiền ở phía Nam Cù lao Cái Sen. Sau đó, biên giới đi theo hướng Tây Bắc gặp sông Hậu để tạo thành ranh giới phía Tây Bắc của huyện Đông Xuyên, cắt sông Hậu và đi tiếp theo hướng Tây Nam, gặp sông Châu Đốc. Biên giới vượt sông Châu Đốc, sau đó chuyển hướng Nam men theo bờ Tây sông Châu Đốc, cho tới khi gặp kênh Vĩnh Tế. Từ đây, biên giới ngoặt hướng Tây Nam, men theo bờ Bắc kênh Vĩnh Tế đi tới cột mốc 124, nơi gặp đường ranh giới giữa Châu Đốc và Hà Tiên. Từ đây, biên giới tiếp tục theo bờ Bắc kênh Vĩnh Tế cho tới khi gặp rạch Giang Thành, rồi ra vịnh Thái Lan[14].

Năm 1872, trong Biên bản hoạch định đoạn biên giới quận Hà Tiên giáp với Campuchia, cũng xác định: “Đường phân giới giữa Vương quốc Campuchia và Nam Kỳ thuộc Pháp (quận Hà Tiên) xuất phát ở từ phía Đông đi theo kênh Vĩnh Tế đến nơi mà kênh này gặp lạch Giang Thành…”[15]. Và trong Biên bản hoạch định biên giới giữa Campuchia và quận Hà Tiên (ký ngày 5/4/1876) xác định rõ ràng: “Từ ngã ba giữa kênh Vĩnh Tế với rạch Cái Dừa là điểm ranh giới của Campuchia với hai quận Châu Đốc và Hà Tiên, đường biên giới đi theo bờ Bắc kênh Vĩnh Tế đến chỗ kênh tiếp nước ở rạch Giang Thành, ở điểm gọi là Giang Thành…”[16].

Biên giới giữa Hà Tiên và Kampot được xác định rõ ràng trong Biên bản cắm mốc giữa các đường biên giới Hà Tiên và Kampot ngày 20/1/1897, bao gồm 11 cột mốc, trong đó, kênh Vĩnh Tế là cột mốc số 1 ở điểm kênh Vĩnh Tế gặp rạch Giang Thành và đi qua liên tiếp các mốc 2, 3, 4… để tới cột 11, nằm bên bờ Vịnh Thái Lan[17]. Cụ thể như sau: “Từ điểm rạch Cây Dừa gặp kênh Vĩnh Tế, nơi có giới hạn của Campuchia với 2 tỉnh Châu Đốc và Hà Tiên, biên giới đi theo bờ phải của Kênh (Vĩnh Tế) khoảng 5,3km cho tới nơi gặp rạch Giang Thành, vượt qua rạch và theo đường điện báo cũ cho tới nơi gặp đường lũy đầu tiên giữa rạch Thị Vạn và rạch Cua. Biên giới đi theo phía Bắc của lũy này, vượt qua chân núi Thị Vạn, núi Địa Tạng và bao quanh núi Thạch Động (Bonnet à Poil) để đi sang hướng Tây vẫn theo đường lũy để tới biển, qua hướng bắc của Tiểu Táo”[18]. Đoạn biên giới này được Philippe Langlet thể hiện trên bản đồ trùng khít với vị trí của kênh Vĩnh Tế, như sau:

Anh-tin-bai
Hình 2: Tỉnh Hà Tiên giữa thế kỷ XIX [19] (Nguồn: Philipe Langlet et Quach Thanh Tam (2001), Atlas Historique des six provinces du Sud du Vietnam - du milieu du XIX au début du XX siècle. Editions Les Indes savantes, Paris, p.175).

Thực vậy, sông/kênh Vĩnh Tế đóng vai trò như một phòng tuyến quân sự có khả năng phòng ngự trong hoàn cảnh đất nước có xảy ra chiến tranh với Chân Lạp, cả với Xiêm; đồng thời, nó đóng vai trò như một con hào giao thông khổng lồ, một phòng tuyến kiên cố rất khó vượt qua. Kênh Vĩnh Tế có vai trò kép trong chính sách phát triển kinh tế - xã hội và quân sự, quốc phòng an ninh ở vùng đất Nam Bộ, nó không chỉ thu hút thuyền bè các nước láng giếng đến làm ăn buôn bán, mà nó còn giúp ổn định nhân dân, sinh sống làm ăn, phát triển xóm làng, tạo thế “phòng thủ từ xa” một cách hiệu quả.

Khi kênh được đào đến đâu, Nguyễn Văn Thụy/Thoại cho dân lập làng đến đó. Quy chế lập làng được thực hiện chặt chẽ theo dọc bờ kênh Vĩnh Tế đến Thất Sơn. Đến năm 1823, lập được 5 làng: Vĩnh Ngươn, Vĩnh Tế, Vĩnh Thông (xã Lạc Quới ngày nay), Vĩnh Gia và Vĩnh Điều. Mỗi làng có trên 20 hộ và trên 100 nhân khẩu. Năm 1839, ra đời phủ Tịnh Biên, ba làng Vĩnh Thông, Vĩnh Gia và Vĩnh Điều lập thành tổng Thành Tín.

Rải rác theo bờ kênh Vĩnh Tế đến hậu cứ Thất Sơn, Nguyễn Văn Thụy/Thoại cho xây dựng nhiều đồn, bảo, thủ, sở tập trung nhiều nhất ở vùng đất từ Tịnh Biên trải dài đến Châu Đốc, có thể kể đến như: Vĩnh Điều, Vĩnh Thông, Vĩnh Gia, An Nông, Vĩnh Tế, Vĩnh Thịnh, Thân Nhân, Hưng Nhượng, Vĩnh Lạc, Vĩnh Hòa, Thuyết Nật, Đàm Triết. Rất thuận tiện cho việc canh phòng, bảo vệ hữu hiệu phòng tuyến biên giới Tây Nam Tổ quốc.

Sông Vĩnh Tế là một công trình mang tính "phòng thủ chiến lược" vô cùng độc đáo: phòng thủ vừa có tính thiết yếu đối với an ninh quốc gia, đồng thời lại tăng cường được việc phát triển ảnh hưởng của quốc gia ra bên ngoài; phòng thủ nằm trong chủ trương đối ngoại của triều đình nhà Nguyễn nhưng lại có tác dụng quan trọng, lâu dài, căn bản đối với việc phát triển trong nước. Như vậy, sông Vĩnh Tế vừa có vai trò củng cố "thế" (với bên ngoài) và "lực" (bên trong) của vương triều Nguyễn...

Trải qua hơn 200 năm lịch sử, sông Vĩnh Tế cho đến nay đã được ghi nhận là công trình tạo nên bằng sức người quý giá khẳng định bờ cõi và khẩn hoang cả vùng Tứ giác Long Xuyên làm nên vùng đất vựa lúa lớn nhất của đồng bằng sông Cửu Long. Con sông lúc nào cũng ghe thuyền tấp nập chở hàng hóa gia dụng, chở thóc lúa vào mùa gặt lên các nhà máy xay lúa. Tùy theo mỗi năm, lượng nước lên xuống thất thường, các đoạn sông Vĩnh Tế được mở khẩu, khơi dòng vào các kênh Cựa Gà, sang biên giới cung cấp nước tưới tiêu thủy lợi cho cánh đồng lúa của người dân Campuchia.

Sông Vĩnh Tế như một bằng chứng lịch sử về chủ quyền của Việt Nam, mà tầm ảnh hưởng của nó khắc sâu và bền vững trong đời sống văn hóa người dân ở biên giới Tây Nam. Sông Vĩnh Tế đã trở thành đặc điểm tự nhiên quan trọng giúp định hình nên không gian lãnh thổ Việt Nam và Campuchia. Đường biên thủy nông này như dòng cương thổ ngàn đời mãi mãi phân định biên giới quốc gia, duy trì sự ổn định lâu dài bằng sức vóc con người. Sông Vĩnh Tế không chỉ mang nước ngọt kèm phù sa vun đắp cho ruộng đồng An Giang, mà còn dẫn nước và bồi đắp cho cả vùng tứ giác Long Xuyên và toàn bộ diện tích tiếp giáp với Campuchia. Người dân Việt Nam - Campuchia ở hai bên biên giới đều được thụ hưởng trong canh tác, vận chuyển nhu yếu phẩm, buôn bán… từ dòng nước lịch sử. Điều này được thể hiện rõ trong câu ca dao:

Kênh Vĩnh Tế, biển Hà Tiên,

Ghe thuyền xuôi ngược bán buôn dập dìu.




Anh-tin-bai
Hình 3: Sông/Kênh Vĩnh Tế đoạn đầu giáp với sông Châu Đốc. Ảnh: Hoàng Nam (Nguồn: https://vnexpress.net/vinh-te-kenh-dao-lon-nhat-mien-tay-4447030.htm)

 


 

 

Chú thích:

[1] Quốc sử quán triều Nguyễn (2007), Đại Nam thực lục, bản dịch Viện Sử học, Nxb. Giáo dục, Hà Nội, t.1, tr.926.
[2] Quốc triều chính biên toát yếu (1971), Nhóm nghiên cứu Sử - Địa xuất bản, Sài Gòn, tr. 96.
[3] Quốc sử quán triều Nguyễn (2007), Đại Nam thực lục, Sđd, t.1, tr. 951.
[4] Quốc sử quán triều Nguyễn (2007), Đại Nam thực lục, bản dịch Viện Sử học, Nxb. Giáo dục, Hà Nội, t.4, tr. 997.
[5] Quốc sử quán triều Nguyễn (2006), Đại Nam nhất thống chí, bản dịch Viện Sử học, Nxb. Thuận Hóa, Huế, t.5, tr. 207.
[6] Trịnh Hoài Đức (1998), Gia Định thành thông chí, Nxb. Giáo dục, Hà Nội, tr. 58-59.
[7] Quốc sử quán triều Nguyễn (2007), Đại Nam thực lục, bản dịch Viện Sử học, Nxb. Giáo dục, Hà Nội, t.2, tr.45, 54, 114, 259-260, 280-281, 331, 351.
[8] Xem thêm Vũ Đức Liêm, Các dự án nhà nước “thiết kế” vùng hạ lưu Mekong. Website: https://tiasang.com.vn/khoa-hoc-cong-nghe/cac-du-an-nha-nuoc-thiet-ke-vung-ha-luu-mekong-11061/. Truy cập ngày 7/12/2023.
[9] Quốc sử quán triều Nguyễn (2007), Đại Nam thực lục, Bản dịch Viện Sử học, Nxb. Giáo dục, Hà Nội, t.3, tr. 246.
[10] Quốc sử quán triều Nguyễn (2006), Đại Nam nhất thống chí, tập 5, Nxb. Thuận Hóa, Huế, tr. 10.
[11] Nguyễn Quang Ngọc (Chủ biên) (2017), Vùng đất Nam Bộ, tập IV: Từ đầu thế kỷ XVII đến giữa thế kỷ XIX, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, tr. 237-238.
[12] Lê Trung Dũng (Chủ biên) (2015), Quá trình hình thành đường biên giới đất liền Việt Nam - Campuchia, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, tr. 103-104.
[13] Lê Trung Dũng (Chủ biên) (2015), Quá trình hình thành đường biên giới đất liền Việt Nam - Campuchia, Sđd, tr. 137-138.
[14] Dẫn theo Lê Trung Dũng (Chủ biên) (2015), Quá trình hình thành đường biên giới đất liền Việt Nam - Campuchia, Sđd, tr. 209.
[15] Dẫn theo Lê Trung Dũng (Chủ biên) (2015), Quá trình hình thành đường biên giới đất liền Việt Nam - Campuchia, Sđd, tr. 210.
[16] Dẫn theo Lê Trung Dũng (Chủ biên) (2015), Quá trình hình thành đường biên giới đất liền Việt Nam - Campuchia, Sđd, tr. 243.
[17] Lê Trung Dũng (Chủ biên) (2015), Quá trình hình thành đường biên giới đất liền Việt Nam - Campuchia, Sđd, tr. 245-246.
[18] Monographie de la province d’Hà Tien, Saigon, 1901, p.6. Dẫn theo Lê Trung Dũng (Chủ biên) (2015), Quá trình hình thành đường biên giới đất liền Việt Nam - Campuchia, Sđd, tr. 246.
[19] Dẫn theo Lê Trung Dũng (Chủ biên) (2015), Quá trình hình thành đường biên giới đất liền Việt Nam - Campuchia, Sđd, tr. 223.

TS. Ngô Vũ Hải Hằng
Nguồn bài viết: Viện Sử học, Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam
Tin xem nhiều
Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tất cả: 1