Nghị quyết số 26-NQ/TW: Tháo gỡ "điểm nghẽn" thể chế, tạo "cú hích" bứt phá cho du lịch Việt Nam
Trang thông tin điện tử Viện Nhà nước và Pháp luật xin giới thiệu đến bạn đọc bài viết của ThS. Cao Thị Lê Thương (Viện Nhà nước và Pháp luật). Bài viết được thực hiện nhằm tuyên truyền Nghị quyết số 26-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển du lịch Việt Nam trở thành ngành kinh tế mũi nhọn trong kỷ nguyên mới.
Để du lịch Việt Nam phát triển vượt bậc trong năm 2026 và hướng tới mục tiêu thu hút khoảng 30 triệu lượt khách vào năm 2030, cần đồng bộ nhiều giải pháp chiến lược. Ảnh: TTXVN
Sau gần mười năm thực hiện Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 16/01/2017của Bộ Chính trị, du lịch Việt Nam đã có những bước phát triển tích cực và từng bước khẳng định vị thế trong nền kinh tế quốc dân. Tính riêng trong năm 2025, ngành du lịch đã đạt cột mốc ấn tượng khi phục vụ gần 21,2 triệu lượt khách quốc tế cùng 137 triệu lượt khách nội địa, đạt tổng thu khoảng 1 triệu tỷ đồng, đóng góp trực tiếp 8,8% vào GDP và tạo ra hơn 4,4 triệu việc làm cho người lao động. Đà tăng trưởng này tiếp tục được duy trì mạnh mẽ trong 8 tháng đầu năm 2026 với 15,9 triệu lượt khách quốc tế, ghi nhận mức tăng 14,4% so với cùng kỳ [1].
Trên bản đồ du lịch toàn cầu, vị thế của Việt Nam liên tục được nâng cao khi cải thiện 7 bậc, vươn lên vị trí 52 trong số 110 nền kinh tế về Chỉ số năng lực phát triển du lịch do Diễn đàn Kinh tế thế giới công bố, đồng thời giữ vững vị trí thứ ba trong khu vực Đông Nam Á về quy mô đón khách [2]. Mặc dù đạt được những kết quả đáng khích lệ, thực tiễn phát triển vẫn cho thấy ngành du lịch đang đối mặt với yêu cầu cấp thiết phải chuyển đổi mô hình tăng trưởng, bước sang giai đoạn phát triển theo chiều sâu, chú trọng chất lượng, hiệu quả bền vững và gia tăng giá trị thay vì chỉ tập trung vào quy mô số lượng thuần túy.
Nhận diện những "điểm nghẽn" thể chế và hạ tầng
Đánh giá thẳng thắn tại Nghị quyết số 26-NQ/TW chỉ ra rằng du lịch Việt Nam phát triển chưa thực sự bền vững và chưa tương xứng với tiềm năng, dư địa hiện có. Lực cản lớn nhất đến từ nhận thức của một số cấp, ngành và địa phương chưa đầy đủ về tính chất kinh tế tổng hợp, liên ngành, liên vùng của du lịch, dẫn đến sự phối hợp và liên kết vùng còn phân mảnh, thiếu đồng bộ. Bên cạnh đó, nguồn lực đầu tư cho du lịch chưa đáp ứng yêu cầu, sản phẩm du lịch còn thiếu chiều sâu sáng tạo, trong khi năng lực quản trị điểm đến, chuyển đổi số và chuyển đổi xanh còn nhiều hạn chế.
Theo thống kê, đến tháng 6/2026, cả nước có khoảng 146.438 căn hộ du lịch và biệt thự du lịch lũy kế. Tuy nhiên, các bất động sản này chỉ được đưa vào khai thác một phần. Trong quý II/2026, khoảng 5.250 căn hộ du lịch được chào bán nhưng chỉ 145 căn được giao dịch. Hàng tồn kho từ các đợt mở bán trước chiếm hơn 88% nguồn cung sơ cấp. Nhiều dự án còn vướng thủ tục cấp giấy chứng nhận, khiến nhà đầu tư khó chuyển nhượng, thế chấp tài sản và huy động nguồn lực đưa dự án vào khai thác [3]. Trong bối cảnh mục tiêu chiến lược yêu cầu bảo đảm khoảng 1,5 triệu buồng lưu trú vào năm 2030 [4], tốc độ bổ sung buồng phải tăng gấp từ 1,5 đến 3 lần so với thập niên trước. Nếu không tháo gỡ điểm nghẽn pháp lý để đưa khối tài sản đã xây dựng này vào khai thác đúng nghĩa, nền kinh tế sẽ chịu sự lãng phí rất lớn về nguồn lực đầu tư xã hội.
Nghị quyết số 26-NQ/TW – "Cú hích" đột phá thể chế và chính sách
Nhằm khơi thông mọi nguồn lực và đưa du lịch phát triển bứt phá trong kỷ nguyên mới, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã thay mặt Bộ Chính trị ký ban hành Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 22/8/2026 về phát triển du lịch Việt Nam trở thành ngành kinh tế mũi nhọn trong kỷ nguyên mới. Văn kiện đặt nền móng bằng 5 quan điểm chỉ đạo mang tính đột phá:
Thứ nhất, Nghị quyết xác định phát triển du lịch thực sự trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, là động lực tăng trưởng mới trực tiếp góp phần thực hiện mục tiêu tăng trưởng GDP hai con số của đất nước, lấy văn hóa làm nền tảng cốt lõi, bản sắc và chất lượng trải nghiệm làm lợi thế cạnh tranh, dựa trên ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.
Thứ hai, Nghị quyết định hướng phát triển du lịch theo hệ sinh thái kinh tế tổng hợp, tạo động lực lan tỏa thúc đẩy thương mại, dịch vụ, giao thông vận tải, công nghiệp văn hóa, công nghiệp sáng tạo, nông nghiệp, kinh tế số và kinh tế đêm, vừa cộng hưởng nâng cao giá trị gia tăng vừa bảo đảm gắn kết bền vững các trụ cột kinh tế, văn hóa, xã hội, môi trường, quốc phòng, an ninh và đối ngoại.
Thứ ba, Bộ Chính trị yêu cầu tái cơ cấu toàn diện ngành du lịch, chuyển mạnh mô hình phát triển từ số lượng sang chất lượng, thông minh, xanh và sáng tạo, tập trung nâng cao hiệu quả trải nghiệm, năng lực cạnh tranh của sản phẩm dịch vụ gắn với phát triển nguồn nhân lực và an sinh xã hội.
Thứ tư, văn kiện đòi hỏi nâng cao năng lực quản trị du lịch theo hướng hiện đại, ứng dụng công nghệ số và quản trị theo dữ liệu gắn với quy hoạch không gian phát triển, mở rộng không gian sáng tạo, bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa dân tộc.
Thứ năm, Nghị quyết khẳng định phát triển du lịch là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị dưới sự lãnh đạo của Đảng và quản lý của Nhà nước, trong đó doanh nghiệp giữ vai trò lực lượng tiên phong, Nhân dân là chủ thể tham gia và thụ hưởng, bảo đảm sự phối hợp liên ngành, liên vùng chặt chẽ và huy động hiệu quả mọi nguồn lực trong nước lẫn quốc tế.
Cùng với năm quan điểm chỉ đạo, Nghị quyết số 26-NQ/TW đã cô đọng các quyết sách thể chế trọng tâm nhằm tháo gỡ điểm nghẽn và khơi thông nguồn lực phát triển du lịch:
Về mô hình và sản phẩm mới, Nghị quyết yêu cầu xây dựng cơ chế đột phá cho kinh tế chia sẻ, kinh tế đêm, kinh tế ven sông, ven biển, tổ hợp du lịch - giải trí, du lịch thông minh, du lịch xanh và mua sắm; đồng thời bổ sung du lịch vào danh mục ngành, nghề ưu đãi đầu tư đối với các dự án động lực, chuyển đổi xanh, các vùng di sản và địa bàn tiềm năng.
Về thị thực và xuất nhập cảnh, văn kiện định hướng mở rộng miễn thị thực, áp dụng chính sách linh hoạt cho các thị trường trọng điểm và phân khúc khách đóng góp cao, cải cách thủ tục lưu trú và áp dụng bảo hiểm bắt buộc cho khách quốc tế.
Về tài chính và hạ tầng, Nghị quyết đưa ra cơ chế chuyển hóa giá trị tài nguyên du lịch thành nguồn lực trên thị trường vốn, áp dụng tín dụng ưu đãi cho du lịch xanh, phát huy Quỹ hỗ trợ phát triển du lịch và thúc đẩy hợp tác công - tư trong quản lý, bảo tồn, khai thác các điểm đến.
Đặc biệt, Nghị quyết xác lập chủ trương thực hiện cơ chế thí điểm có kiểm soát để thu hút khách lưu trú dài ngày, người làm việc từ xa và nguồn vốn quốc tế, đồng thời cho phép thí điểm giải quyết các vấn đề cấp bách chưa có quy định pháp luật hoặc cần áp dụng khác với quy định hiện hành trên cơ sở kiểm tra, giám sát và hậu kiểm chặt chẽ.
Vẻ đẹp của biển Ninh Chử - Bình Sơn (phường Ninh Chử và Đông Hải, tỉnh Khánh Hòa). Ảnh: TTXVN
Những thay đổi kỳ vọng và hệ thống mục tiêu chiến lược
Việc kích hoạt đồng bộ các giải pháp thể chế tạo cơ sở vững chắc để ngành du lịch hiện thực hóa hệ thống chỉ tiêu định lượng đến năm 2030, hướng tới đưa du lịch đóng góp trực tiếp từ 10% đến 12% GDP và giữ vững vị thế nhóm đầu khu vực Đông Nam Á. Ngành phấn đấu đón từ 45 đến 50 triệu lượt khách quốc tế và 160 triệu lượt khách nội địa, đạt tổng thu từ 80 đến 90 tỷ USD, bảo đảm khoảng 1,5 triệu buồng lưu trú du lịch, đồng thời tạo ra 2,3 triệu việc làm trực tiếp cùng 3,5 triệu việc làm gián tiếp. Không gian phát triển sẽ hình thành rõ 3 cực tăng trưởng du lịch tại Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh và Đà Nẵng, cùng 10 trung tâm du lịch trọng điểm, 20 khu du lịch quốc gia và 15 tập đoàn, tổng công ty du lịch có thương hiệu mạnh và sức cạnh tranh quốc tế. [5]
Tầm nhìn đến năm 2045, du lịch khẳng định vai trò động lực cốt lõi của nền kinh tế khi đóng góp trực tiếp từ 14% đến 15% GDP, đón 70 triệu lượt khách quốc tế và đưa Việt Nam gia nhập nhóm 30 quốc gia có năng lực cạnh tranh du lịch hàng đầu thế giới [6]. Khi văn hóa, bản sắc và trải nghiệm trở thành lợi thế cạnh tranh chủ đạo, du lịch Việt Nam có điều kiện chuyển dịch mạnh mẽ từ mô hình khai thác tài nguyên thô sang kiến tạo giá trị gia tăng cao. Định hướng này đánh dấu bước chuyển về chất, khi hiệu quả của ngành không chỉ đo bằng quy mô số lượng khách hay doanh thu trực tiếp từ dịch vụ lưu trú, vận tải đơn thuần, mà nằm ở khả năng cung cấp những hành trình giàu giá trị lịch sử, cảnh quan, ẩm thực và đời sống cộng đồng. Đây chính là nền tảng để kéo dài thời gian lưu trú, nâng cao mức chi tiêu và gia tăng tỷ lệ quay lại của du khách. Đáng chú ý, giá trị kinh tế từ du lịch có tính lan tỏa sâu rộng; khi chuỗi liên kết giữa du lịch với nông nghiệp, hàng thủ công, thương mại và các ngành dịch vụ được tổ chức hiệu quả, nguồn thu từ du khách sẽ không chỉ tập trung cục bộ mà phân bổ trực tiếp đến người dân và cộng đồng địa phương, tạo động lực phát triển bền vững cho toàn vùng.
Vì vậy, mục tiêu đưa du lịch trở thành động lực cốt lõi của nền kinh tế cũng đặt ra yêu cầu chuyển mạnh từ tư duy “phát triển điểm đến” sang tư duy “phát triển hệ sinh thái du lịch”. Trong hệ sinh thái đó, chất lượng dịch vụ, hạ tầng, giao thông, môi trường, văn hóa, công nghệ số, nguồn nhân lực và năng lực quản trị điểm đến đều có vai trò quan trọng. Đây cũng là cơ sở để các mục tiêu mà Nghị quyết số 26-NQ/TW đặt ra không chỉ được nhìn nhận như những con số về tăng trưởng, mà là định hướng cho một mô hình phát triển du lịch có chất lượng, có sức cạnh tranh và tạo ra giá trị lan tỏa rộng hơn cho nền kinh tế và xã hội.
Quyết liệt đưa Nghị quyết 26-NQ/TW vào thực tiễn cuộc sống
Để chuyển hóa những quyết sách chiến lược thành kết quả cụ thể trong thực tiễn, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 263/NQ-CP ngày 07/09/2026 về Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết 26-NQ/TW, với 30 nhiệm vụ được phân công cụ thể cho các bộ, ngành và địa phương. [7] Đây là bước quan trọng nhằm đưa các mục tiêu, quan điểm và định hướng lớn của Nghị quyết 26-NQ/TW nhanh chóng đi vào cuộc sống, tạo sự thống nhất trong tổ chức thực hiện và xác định rõ trách nhiệm của từng cơ quan, đơn vị.
Tại phiên họp Ban Chỉ đạo Nhà nước về du lịch, Phó Thủ tướng Phạm Thị Thanh Trà yêu cầu ngay trong quý IV/2026 phải kích hoạt mạnh mẽ, quyết liệt tinh thần Nghị quyết 26-NQ/TW, tập trung tháo gỡ căn bản những nút thắt về thể chế theo phương châm rõ người, rõ việc, rõ trách nhiệm, rõ tiến độ và rõ sản phẩm đầu ra. [8] Yêu cầu này cho thấy trọng tâm của giai đoạn mới không chỉ nằm ở việc ban hành thêm chính sách, mà quan trọng hơn là tổ chức thực hiện hiệu quả, bảo đảm mỗi chủ trương đều được cụ thể hóa thành nhiệm vụ và kết quả có thể kiểm chứng.
Cùng với việc rà soát, xây dựng các nghị quyết chuyên đề, chính sách đặc thù và hoàn thiện Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2035, các địa phương được định hướng phát huy lợi thế riêng, xây dựng ít nhất một sản phẩm du lịch đặc trưng, tiêu biểu. Cách tiếp cận này hướng tới việc tạo dựng hệ thống sản phẩm đa dạng, khác biệt giữa các địa phương, đồng thời tăng cường liên kết để hình thành những chuỗi sản phẩm có sức hấp dẫn và khả năng cạnh tranh cao hơn.
Một nhiệm vụ quan trọng khác là đẩy mạnh chuyển đổi số và hoàn thiện cơ sở dữ liệu quốc gia về du lịch theo hướng liên thông, đồng bộ. Đây không chỉ là yêu cầu về ứng dụng công nghệ, mà còn là nền tảng để đổi mới phương thức quản lý, nâng cao chất lượng phục vụ du khách, hỗ trợ doanh nghiệp và từng bước hình thành hệ sinh thái du lịch thông minh.
Đặc biệt, việc kiểm tra, rà soát toàn diện hạ tầng và dịch vụ du lịch tại Phú Quốc được đặt trong mối liên hệ với việc tổ chức APEC Việt Nam 2027. Với quy mô và yêu cầu cao của một sự kiện quốc tế lớn, đây là dịp để kiểm nghiệm thực chất năng lực hạ tầng, chất lượng dịch vụ, khả năng tổ chức và phối hợp giữa các cơ quan, doanh nghiệp và địa phương. Từ đó, những hạn chế cần được nhận diện và khắc phục kịp thời, đồng thời tạo động lực nâng cao chất lượng điểm đến.
Từ những nhiệm vụ cụ thể đó, có thể thấy việc triển khai Nghị quyết 26-NQ/TW đang được đặt trong một cách tiếp cận xuyên suốt: chủ trương phải được chuyển thành chương trình hành động, chương trình hành động phải được chuyển thành nhiệm vụ cụ thể và nhiệm vụ phải tạo ra sản phẩm, kết quả cụ thể. Đây chính là điều kiện quan trọng để những định hướng lớn về phát triển du lịch không dừng lại trên giấy, mà từng bước trở thành những chuyển biến thực tế, tạo nền tảng cho du lịch Việt Nam phát triển nhanh, bền vững và nâng cao năng lực cạnh tranh trong giai đoạn mới./.
Tài liệu tham khảo:
1. Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch (2026). Du lịch Việt Nam: Giá trị phía sau mỗi hành trình. Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch,
2. Báo Tin tức và Dân tộc (2026). Du lịch Việt Nam tăng 7 bậc, xếp hạng 52/110 nền kinh tế. Báo Tin tức và Dân tộc - TTXVN,
3. Báo Lao động (2026). Gỡ vướng cho hơn 146.000 căn hộ, biệt thự nghỉ dưỡng để phát triển du lịch.
4. Bộ Chính trị (2026), Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 22 tháng 8 năm 2026 về phát triển du lịch Việt Nam trở thành ngành kinh tế mũi nhọn trong kỷ nguyên mới, Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam.
5. Báo Điện tử Chính phủ (2026). Nghị quyết số 26-NQ/TW: 5 quan điểm đột phá phát triển du lịch thành ngành kinh tế mũi nhọn. Báo Điện tử Chính phủ,
6. TTXVN (2026). Đến năm 2045, du lịch Việt Nam khẳng định vai trò động lực của nền kinh tế. chinhsachcuocsong.vnanet.vn,
7. Chính phủ (2026), Nghị quyết số 263/NQ-CP ngày 07 tháng 9 năm 2026 ban hành Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 26-NQ/TW của Bộ Chính trị, Chính phủ nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam.
8. Báo Điện tử Chính phủ (2026). Kích hoạt mạnh mẽ tinh thần Nghị quyết 26-NQ/TW, nghiên cứu cơ chế đặc thù cho du lịch. baochinhphu.vn,