Mối quan hệ giữa dân chủ và chủ nghĩa xã hội – quan điểm của C.Mác và sự vận dụng ở Việt Nam thời kỳ đổi mới
Tóm tắt: C.Mác – người thầy vĩ đại của giai cấp vô sản thế giới, nhà tư tưởng kiệt xuất đã sáng lập chủ nghĩa Mác – Lênin, trong đó có học thuyết về hình thái kinh tế - xã hội. Tư tưởng của ông về mối quan hệ giữa dân chủ và chủ nghĩa xã hội luôn là vấn đề thu hút sự quan tâm của các học giả trên thế giới và ở Việt Nam. Nghiên cứu quan điểm này của C.Mác cũng như sự vận dụng nó ở Việt Nam trong thời kỳ hội nhập và đổi mới đất nước hiện nay là hết sức cần thiết.
Từ khóa: Dân chủ, dân chủ
cách mạng, chế độ dân chủ, chủ nghĩa xã hội, dân chủ xã hội chủ nghĩa.
1. Quan điểm của C.Mác về
mối quan hệ giữa dân chủ và chủ nghĩa xã hội
Chúng ta đều biết, C.Mác
là người trực tiếp chứng kiến sự chín muồi của cuộc cách mạng dân chủ tư sản ở
nhiều nước châu Âu, đặc biệt là ở nước Đức quê hương ông. Do vậy, ngay từ những
ngày đầu trong sự nghiệp sáng tạo lý luận và hoạt động cách mạng, ông đã tham
gia một cách tích cực vào các cuộc luận chiến thường xuyên và gay gắt xung
quanh những vấn đề nóng hổi của đời sống chính trị và xã hội ở nước Đức hồi bấy
giờ. Qua các cuộc luận chiến này, quan điểm dân chủ - cách mạng ở C.Mác dần
được hình thành và ngày càng hoàn thiện.
Với quan điểm dân chủ -
cách mạng này, C.Mác, trong các cuộc luận chiến với những địch thủ tư tưởng của
mình, đã vạch rõ tính chất bất hợp lý của chế độ hiện tồn ở nước Đức khi đó –
chế độ quân chủ lập hiến, và vạch trần những luận điểm, lý lẽ sai lầm của những
kẻ tán dương chế độ này – những kẻ chỉ biết ra sức tuyên truyền cho “quyền độc
đoán và quyền bạo lực” của nhà nước quân chủ lập hiến Đức. Qua đó, ông cũng thể
hiện niềm tin sâu sắc vào tiến bộ xã hội và về sự ra đời của một nền dân chủ
cách mạng trong chế độ xã hội tương lai. C.Mác không chỉ phê phán sự thống trị
của giai cấp quý tộc, cũng như nguyên tắc đại nghị đẳng cấp và những đặc quyền
đẳng cấp đã thâm nhập sâu rộng vào những thể chế và cơ quan chính trị ở nước
Đức khi đó, mà còn thể hiện rõ quan điểm dân chủ cách mạng của mình. Với quan
điểm này, ông kêu gọi giai cấp vô sản Đức vùng lên đấu tranh giành quyền tự do
dân chủ cho toàn thể nhân dân lao động, chứ không phải giành những đặc quyền
cho các đẳng cấp cá biệt. Không chỉ thế, ông còn kịch liệt phê phán tính chất
hạn chế của chủ nghĩa tự do tư sản ở Đức và kêu gọi giai cấp vô sản Đức tiến
hành những hoạt động cách mạng kiên quyết, chống lại sách lược của phái tự do –
sách lược đẩy quần chúng nhân dân lao động vào chỗ chờ đợi thụ động.
Trên phạm vi toàn châu Âu
khi đó, từ lập trường dân chủ cách mạng, C.Mác đã nhận ra thực chất của nền dân
chủ tư sản. Theo ông, chế độ dân chủ được tạo ra do kết quả của cuộc cách mạng
dân chủ tư sản Pháp chỉ là một thứ tự do chính trị giả hiệu và, dẫu là như vậy
thì so với chế độ quân chủ lập hiến ở Đức, nó vẫn là một bước tiến và có thể
coi nó như một giai đoạn quá độ sang nền tự do chân chính mà nhân loại cần
hướng tới. Với quan điểm này, ông cho rằng, giai cấp vô sản và những người cộng
sản cần phải tỏ rõ thái độ của mình đối với các cuộc cách mạng dân chủ tư sản,
cần phải tham gia vào cuộc đấu tranh vì dân chủ; rằng cuộc đấu tranh vì dân chủ
đó cần phải gắn bó trực tiếp và kết hợp hữu cơ với cuộc đấu tranh vì chủ nghĩa
xã hội mà nhân loại nhất định sẽ tiến tới. Trong Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản,
khi nói về nước Đức quê hương, C.Mác đã khẳng định rằng, sở dĩ “những người
cộng sản chú ý nhiều nhất đến nước Đức, vì nước Đức hiện đương ở vào đêm trước
của một cuộc cách mạng tư sản, vì muốn nước Đức sẽ thực hiện cuộc cách mạng ấy
trong những điều kiện tiến bộ hơn của nền văn minh châu Âu nói chung và với một
giai cấp vô sản phát triển mạnh mẽ hơn nhiều so với nước Anh trong thế kỷ XVII
và nước Pháp trong thế kỷ XVIII. Và do đấy, cách mạng tư sản Đức chỉ có thể là
màn đầu trực tiếp cho một cuộc cách mạng vô sản” [2, tr.645].
Không chỉ thế, với lập
trường dân chủ cách mạng, nhất là khi nhận thức rõ ý nghĩa lớn lao của sự ra
đời một chế độ xã hội – xã hội xã hội chủ nghĩa, trước hết là ở các nước tiên
tiến của châu Âu, như Anh, Pháp, Đức,… và coi đây là một vấn đề hết sức quan
trọng, một vấn đề có “ý nghĩa toàn châu Âu”, C.Mác đã đưa ra và luôn kiên định
với quan niệm về mối quan hệ biện chứng giữa dân chủ và chủ nghĩa xã hội. Bởi
lẽ, theo C.Mác, nền dân chủ tư sản, dẫu có thể là một bước tiến bộ trong lịch
sử nhân loại nhưng với bản chất của nó – cái chỉ dành cho giai cấp tư sản, cho
tầng lớp thượng lưu trong xã hội mà ở đó, chế độ người bóc lột người vẫn ngự
trị thì dân chủ và bình đẳng xã hội vẫn là điều không tưởng. Về điều này,
Ph.Ăngghen - người đồng quan điểm với C.Mác đã khẳng định rằng, chế độ dân chủ
tư sản – “chế độ dân chủ giản đơn” không thể chữa lành những bệnh hoạn xã hội,
trong chế độ dân chủ này, “sự bình đẳng mang tính chất dân chủ là một điều
không tưởng” và do vậy, chúng ta chỉ có thể coi đây, tức chế độ dân chủ đó, “là
một sự quá độ, là phương tiện cuối cùng thuần túy chính trị còn phải được thử
thách và từ đó, một yếu tố mới, một nguyên tắc vượt ra ngoài giới hạn của chính
trị hiện hành, phải được phát triển ngay lập tức. Nguyên tắc đó là nguyên tắc
chủ nghĩa xã hội” [1, tr.887-888].
Với quan niệm như
vậy về nền dân chủ tư sản và về sứ mệnh lịch sử của giai cấp vô sản trong cuộc
đấu tranh vì một nền dân chủ chân chính – nền dân chủ xã hội chủ nghĩa sẽ ra
đời trong xã hội tương lai, trên cơ sở phân tích thực trạng chính trị cụ thể ở
châu Âu khi đó và từ việc đánh giá những kinh nghiệm lịch sử, đặc biệt là kinh
nghiệm của cuộc cách mạng dân chủ tư sản Pháp, C.Mác đã đi đến kết luận rằng, ở
châu Âu, “cuộc cách mạng của giai cấp vô sản đang có tất cả những triệu chứng
là sắp nổ ra” và dẫu cuộc cách mạng này có thể diễn ra với tính chất khác nhau
ở những nước khác nhau và trải qua những giai đoạn khác nhau, song “trước hết,
nó tạo ra một chế độ dân chủ và nhờ đó mà trực tiếp hay gián tiếp tạo ra quyền
thống trị của giai cấp vô sản”. Và, dù là trực tiếp hay gián tiếp, thì theo
Ph.Ăngghen, “đối với giai cấp vô sản, chế độ dân chủ sẽ trở nên hoàn toàn vô
ích nếu nó không được dùng ngay lập tức làm phương tiện để thi hành những biện
pháp rộng rãi trực tiếp đánh vào chế độ tư hữu và bảo đảm sự tồn tại của giai
cấp vô sản” [2, tr.470].
Luận chứng cho quan niệm
đó từ lập trường dân chủ cách mạng nhằm kết hợp chủ nghĩa xã hội khoa học với
phong trào đấu tranh của giai cấp vô sản, C.Mác luôn nhấn mạnh việc giai cấp vô
sản nhất thiết phải tham gia vào các cuộc đấu tranh chính trị và phong trào dân
chủ trên lập trường triệt để của một giai cấp có sứ mệnh lịch sử là xây dựng
chế độ xã hội mới – xã hội xã hội chủ nghĩa. Từ đó, C.Mác đã làm sáng tỏ thêm
nhiều vấn đề mà trước đó, mới chỉ được ông đặt ra trong cuộc đấu tranh với
những quan điểm không tưởng và tiểu tư sản về chủ nghĩa xã hội – những quan
điểm hoặc là phủ nhận, hoặc là tuyệt đối hóa các cuộc cách mạng dân chủ tư sản,
giải thích sai mục đích của cuộc cách mạng vô sản và xuyên tạc cả mối quan hệ
giữa cuộc luận chiến với C.Hainơtxen (1809 – 1880) – nhà chính luận Đức theo
khuynh hướng cấp tiến. C.Mác đã khẳng định rằng, giai cấp vô sản “có thể và cần
phải tham gia vào cuộc cách mạng tư sản, vì nó là tiền đề của cuộc cách mạng
công nhân. Nhưng không một giây lát nào công nhân lại có thể nhìn nhận cuộc
cách mạng tư sản như mục đích cuối cùng của họ” [2, tr.444].
Với quan điểm này, C.Mác
cho rằng, ở những nước mà chính quyền đã nằm trong tay giai cấp tư sản, thì
những người vô sản phải lật đổ chính quyền đó và tự mình phải trở thành người
nắm giữ chính quyền, thiết lập chính quyền cách mạng của giai cấp mình. Trong
Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản, C.Mác coi giai đoạn mà giai cấp vô sản tự xây
dựng thành giai cấp thống trị để sử dụng sự thống trị chính trị của mình từng
bước xây dựng chế độ xã hội mới – xã hội xã hội chủ nghĩa là “bước thứ nhất
trong cuộc cách mạng công nhân”, là giai đoạn giai cấp vô sản “giành lấy dân
chủ” [2, tr.626]. Và, trong cuộc đấu tranh để thành lập chính đảng của giai cấp
vô sản và xây dựng cương lĩnh của đảng, C.Mác luôn nhắc nhở rằng, mục tiêu cuối
cùng của phong trào đấu tranh vì một nền dân chủ chân chính là chuyển chính
quyền từ tay giai cấp tư sản sang tay giai cấp vô sản; rằng, chính quyền của
giai cấp vô sản là tiền đề đầu tiên, tiền đề tiên quyết để xóa bỏ ách áp bức
chính trị và xã hội đối với quảng đại quần chúng nhân dân và cũng là điều kiện
mang ý nghĩa quyết định để chuyển cuộc đấu tranh vì dân chủ thành cuộc đấu
tranh vì chủ nghĩa xã hội.
Quan điểm đó cho thấy,
với C.Mác, giai đoạn mà giai cấp vô sản đấu tranh giành dân chủ, giành chính
quyền không phải là vấn đề sách lược như những người chỉ trích, phê phán chủ
nghĩa Mác đã gán ghép, mà là vấn đề chiến lược của các đảng vô sản cách mạng.
Chính Ph.Ăngghen đã khẳng định điều đó: “Từ năm 1845, Mác và tôi giữ quan điểm
cho rằng một trong những kết quả cuối cùng của cuộc cách mạng vô sản sẽ là sự
mất đi dần dần cái tổ chức chính trị mang tên là nhà nước. Mục đích chủ yếu của
tổ chức này là bao giờ cũng nhờ lực lượng vũ trang để đảm bảo sự áp bức kinh tế
của một thiểu số có đặc quyền đối với đa số người lao động. Cùng với sự mất đi
của thiểu số có đặc quyền đó thì sự cần thiết phải có lực lượng vũ trang để áp
bức, phải có chính quyền nhà nước cũng mất đi theo. Nhưng đồng thời chúng tôi
cũng luôn luôn giữ quan điểm cho rằng, để đạt được mục tiêu này và những mục
đích khác còn quan trọng hơn nhiều của cuộc cách mạng xã hội tương lai, giai
cấp công nhân trước hết cần phải nắm quyền lực chính trị, có tổ chức, của nhà
nước và dựa vào chính quyền đó để đè bẹp sự phản kháng của giai cấp các nhà tư
bản và tổ chức một xã hội theo kiểu mới” [4, tr.513].
Chế độ xã hội mới đó, chế
độ xã hội xứng đáng với con người, theo C.Mác, là chế độ xã hội mà ở đó, nền
dân chủ là sự tự quyết của quảng đại quần chúng nhân dân và quy luật cơ bản của
nó là sự tồn tại của con người với đúng nghĩa con người và lợi ích của con
người, của quảng đại quần chúng nhân dân được thực hiện. Trong Góp phần phê
phán triết học pháp quyền của Hêghen, C.Mác viết: “Chế độ dân chủ là câu đố đã
được giải đáp của mọi hình thức chế độ nhà nước” và một khi nó “ngày càng hướng
tới cơ sở hiện thực” của mình, “tới con người hiện thực, nhân dân hiện thực, và
được xác định là sự nghiệp của bản thân nhân dân” thì khi đó, “chế độ nhà nước…
xuất hiện với tư cách là sản phẩm tự do của con người”, là “bản chất của bất kỳ
chế độ nhà nước nào”, và, chỉ có chế độ dân chủ này mới thực sự là “sự thống
nhất chân chính giữa cái phổ biến và cái đặc thù” [1, tr.349-350].
Nói rõ hơn về quan điểm
này của C.Mác, Ph.Ăngghen cho rằng việc “tạo ra một chế độ dân chủ và nhờ đó mà
trực tiếp hay gián tiếp tạo ra quyền thống trị chính trị của giai cấp vô sản”,
trong đó mọi thành viên xã hội đều “có khả năng sử dụng một cách toàn diện năng
lực phát triển toàn diện của mình”, trở thành những người tự do – đó là mục
tiêu của cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa do giai cấp vô sản tiến hành [Xem: 2,
tr.469-470, 475]. Rằng, dân chủ là một phương tiện tất yếu để con người vươn
tới tự do, giải phóng và phát triển toàn diện những năng lực vốn có của mình,
nghĩa là để các quyền con người đảm bảo và được thực hiện đầy đủ. Khi ấy, con
người và xã hội loài người, cùng với sự tự tiêu vong của nhà nước, của thết chế
chính trị - xã hội tiên tiến nhất và cũng là cuối cùng của nhân loại, sẽ bước
từ “vương quốc của tất yếu” sang “vương quốc của tự do” [4, tr.331] và “sự phát
triển tự do của mỗi người là điều kiện cho sự phát triển tự do của tất cả mọi
người” [2, tr.628].
Nhằm hiện thực hóa việc
kết hợp cuộc đấu tranh vì dân chủ với cuộc đấu tranh vì chủ nghĩa xã hội, C.Mác
- cùng với Ph.Ăngghen đã đề xuất những biện pháp quá độ và chỉ rõ những biện
pháp này trong Những nguyên lý của chủ nghĩa cộng sản và Tuyên ngôn của Đảng
Cộng sản, đó là những biện pháp mà theo các ông, giai cấp vô sản các nước có
thể áp dụng tùy theo hoàn cảnh lịch sử cụ thể của nước mình. Và, khi cuộc cách
mạng dân chủ tư sản năm 1848 – 1849 bùng nổ, dựa vào thực tiễn của cuộc cách
mạng đó và trên cơ sở của những biện pháp quá độ đã được nêu ra, các ông đã đưa
ra “Những yêu sách của Đảng Cộng sản ở Đức”. Những yêu sách này đã được coi là
cương lĩnh cho những người cộng sản trong việc hoàn thành cuộc cách mạng dân chủ
tư sản và tiếp theo đó, tiến hành cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa. Trong những
yêu sách này, các ông đã kêu gọi cần phải tổ chức giai cấp vô sản thành một
giai cấp độc lập, một lực lượng hùng mạnh mà các ông coi là tất yếu phải có để
tiến hành triệt để cuộc cách mạng dân chủ tư sản và chuẩn bị cho bước chuyển
tiếp theo lên cách mạng xã hội chủ nghĩa. Tuy nhiên, sau khi đã thấy rõ là
không thể tiến hành được một cách lập tức việc thống nhất các tổ chức công nhân
Đức dưới một hình thức tổ chức độc lập về chính trị, các ông đã yêu cầu các
thành viên của liên đoàn những người cộng sản quốc tế lúc bấy giờ cần phải tham
gia vào phong trào đấu tranh vì dân chủ và bản thân các ông cũng tham gia một
cách tích cực vào phong trào này, trên lập trường triệt để của giai cấp vô sản.
Các ông đã chỉ ra và khẳng định rằng, giai cấp vô sản cần phải tận dụng mọi khả
năng để tham gia vào cuộc đấu tranh giành dân chủ, điều mà các ông đã đưa ra và
nhấn mạnh trong một tác phẩm được coi là Cương lĩnh của các chính đảng cách
mạng của giai cấp vô sản - Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản. Khẳng định đó là: “Ở
tất cả mọi nơi, những người cộng sản đếu ủng hộ mọi phong trào cách mạng chống
lại trật tự xã hội và chính trị hiện hành”. Rằng, “những người cộng sản ở mọi
nơi đều phấn đấu cho sự đoàn kết và sự liên hợp của các đảng dân chủ ở tất cả
các nước” [2, tr.465-466, 466]. Mặc dù khẳng định như vậy, song các ông vẫn
luôn nhắc nhở rằng, cuộc đấu tranh giành dân chủ của giai cấp vô sản chỉ là một
giai đoạn quá độ của cuộc đấu tranh cho chủ nghĩa xã hội. Nghĩa là hai cuộc đấu
tranh này phải được kết hợp với nhau một cách chặt chẽ, biện chứng trong suốt
tiến trình cách mạng vì sự ra đời tất yếu của một chế độ xã hội mới – xã hội xã
hội chủ nghĩa. Bởi, theo các ông, chúng ta “không thể có được một cuộc cách
mạng thuần túy tư sản”; rằng, chúng ta chỉ có thể tạo ra một bước ngoặt chính
trị bằng một cuộc cách mạng triệt để tiếp theo – cuộc “cách mạng cộng hòa – xã
hội” mà về thực chất, là cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa [Xem: 3, tr.171].
Như vậy, có thể nói,
nguyện vọng mong muốn tìm hiểu nền dân chủ không phải với tư cách một quyền lực
mang tính hình thức của quảng đại quần chúng nhân dân, mà là một quyền lực hiện
thực cho họ, đã đặt C.Mác trước sự cần thiết phải tìm ra một chế độ xã hội mà
trong đó, quyền lực ấy có thể thực hiện được. Kết quả của việc nghiên cứu lý
luận này đã đưa C.Mác đến kết luận về sự ra đời tất yếu của chế độ xã hội mới –
xã hội xã hội chủ nghĩa và mối quan hệ biện chứng của nó với dân chủ. Và, bằng
chính hoạt động chính trị - thực tiễn của mình trong thời kỳ bão táp cách mạng
ở châu Âu khi đó, bằng việc tham gia một cách tích cực trên lập trường triệt để
của giai cấp vô sản cách mạng vào cuộc đấu tranh vì dân chủ cho quảng đại quần
chúng nhân dân, C.Mác xây dựng, vận dụng xuất sắc và tiếp tục phát triển lý
luận về mối quan hệ biện chứng giữa dân chủ và chủ nghĩa xã hội trên quy mô dân
tộc và quy mô quốc tế.
Mối quan hệ biện chứng
này, theo quan điểm của C.Mác, không phải là sự đồng nhất giản đơn giữa nhiệm
vụ giành dân chủ và nhiệm vụ xây dựng chế độ xã hội mới – xã hội xã hội chủ
nghĩa, càng không phải là sự tách rời có tính chất công thức giữa hai nhiệm vụ
đó, mà là sự gắn kết hữu cơ, chặt chẽ của chúng, sự tác động qua lại và thúc
đẩy lẫn nhau giữa chúng. Với quan điểm như vậy về mối quan hệ biện chứng này,
C.Mác khẳng định, giai cấp vô sản không thể đạt được mục tiêu xã hội chủ nghĩa,
nếu không tích cực đấu tranh trên lập trường triệt để của giai cấp mình nhằm
thiết lập những quan hệ dân chủ. Rằng, giai cấp vô sản sẽ ngày càng đấu tranh
một cách triệt để hơn cho mục tiêu dân chủ, một khi nó ý thức ngày càng sâu sắc
hơn về mục tiêu xã hội chủ nghĩa. Không chỉ thế, với quan điểm này, trong hoạt
động chính trị - thực tiễn của mình, C.Mác luôn đề ra những khẩu hiệu hành
động, những biện pháp đấu tranh vì dân chủ cho giai cấp vô sản toàn thế giới và
làm tất cả những gì có thể để cho nâng cao giác ngộ giai cấp cho họ trên cơ sở
giải thích rõ mục tiêu xã hội chủ nghĩa tương lai và dự kiến sự ra đời một nền
dân chủ bảo đảm cho đông đảo quần chúng nhân dân tham gia vào các công việc xã
hội mà họ có sứ mệnh lịch sử là phải xây dựng thành công.
2. Vận dụng quan điểm của
C.Mác về mối quan hệ giữa dân chủ và chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam thời kỳ đổi
mới
Vận dụng quan điểm của
C.Mác về mối quan hệ giữa dân chủ và chủ nghĩa xã hội, trước thời kỳ đổi mới,
với mong muốn “tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên chủ nghĩa xã hội” và
coi việc xây dựng chế độ dân chủ trong chủ nghĩa xã hội trước hết là xây dựng
quyền làm chủ tập thể của nhân dân lao động, Đảng ta đã khẳng định: “Xây dựng
chế độ làm chủ tập thể xã hội chủ nghĩa là xây dựng một xã hội trong đó người
làm chủ là nhân dân lao động có tổ chức, mà nòng cốt là liên minh công nông, do
giai cấp công nhân lãnh đạo. Nội dung làm chủ tập thể xã hội chủ nghĩa bao gồm
nhiều mặt: làm chủ về chính trị, kinh tế, xã hội; làm chủ xã hội, làm chủ thiên
nhiên, làm chủ bản thân, làm chủ trong phạm vi cả nước, trong mỗi địa phương,
mỗi cơ sở. Quyền làm chủ tập thể bao gồm tự do chân chính của cá nhân” [5,
tr.19-20]. Đồng thời, Đảng ta còn khẳng định: “Phát huy quyền làm chủ của nhân
dân lao động”, “xây dựng chế độ làm chủ tập thể xã hội chủ nghĩa” là một trong
những “nhiệm vụ trung tâm của cả thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội” [6,
tr.47].
Bước vào thời kỳ đổi mới,
tại Đại hội VI (năm 1986), khi thông qua đường lối đổi mới đất nước theo định
hướng xã hội chủ nghĩa và nhấn mạnh phát huy dân chủ để tạo ra một động lực
mạnh mẽ cho công cuộc đổi mới này, Đảng ta vẫn còn giữ quan điểm “xây dựng và
phát huy quyền làm chủ của nhân dân lao động” và coi “làm chủ tập thể xã hội
chủ nghĩa là bản chất của chế độ dân chủ xã hội chủ nghĩa cần phải được thể
hiện trong mọi lĩnh vực của đời sống” [10, tr.28, 117]. Chỉ đến khi thông qua
Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Cương
lĩnh năm 1991), tại Đại hội VII, Đảng ta mới đưa ra một quan điểm mới về dân
chủ trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Quan điểm đó là: “Toàn
bộ tổ chức và hoạt động của hệ thống chính trị nước ta trong giai đoạn mới là
nhằm xây dựng và từng bước hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm
quyền lực thuộc về nhân dân. Dân chủ gắn liền với công bằng xã hội phải được
thực hiện trong thực tế cuộc sống trên tất cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế,
văn hóa, xã hội thông qua hoạt động của nhà nước do nhân dân cử ra và bằng các
hình thức dân chủ trực tiếp” [10, tr.327]. Cũng từ đây trở đi, khi nói về công
cuộc đổi mới đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, Đảng ta không còn sử
dụng các khái niệm “làm chủ tập thể”, “chế độ làm chủ tập thể”.
Kiên định đường lối đổi
mới đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, quan điểm coi dân chủ là một thể
chế chính trị, một chế độ xã hội mà ở đó, “quyền lực nhà nước đều thuộc về nhân
dân” [7, tr.125] được bảo đảm, “Nhà nước đại diện quyền làm chủ của nhân dân”
[7, tr.124] và “dân chủ xã hội chủ nghĩa là bản chất của chế độ ta, vừa là mục
tiêu, vừa là động lực của sự phát triển đất nước” [8, tr.84-85], của công cuộc
đổi mới đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, “nhân dân thực hiện quyền
làm chủ thông qua hoạt động của Nhà nước, của cả hệ thống chính trị và các hình
thức dân chủ trực tiếp, dân chủ đại diện” [8, tr.85] đã được Đảng ta tiếp tục
khẳng định tại các Đại hội X, XI, trong “Cương lĩnh xây dựng đất nước thời kỳ
quá độ lên chủ nghĩa xã hội” (Bổ sung và phát triển năm 2011) và gần đây nhất
là Đại hội XII của Đảng (năm 2016) [Xem: 9, tr.166-170].
Với quan điểm như vậy về
chế độ dân chủ trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, theo tiến trình của
công cuộc đổi mới đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, vận dụng quan điểm
của C.Mác về mối quan hệ giữa dân chủ và chủ nghĩa xã hội, Đảng ta đã nhiều lần
đưa ra và khẳng định chủ trương xây dựng xã hội ta thành một xã hội thực sự dân
chủ, xây dựng các hình thức tổ chức và cơ chế để nhân dân thực hiện quyền làm
chủ của mình trên tất cả các lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội. Rằng,
chúng ta cần phải tiếp tục xây dựng và hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa,
bảo đảm tất cả quyền lực nhà nước đều thuộc về nhân dân, phát huy dân chủ xã
hội chủ nghĩa để nhân dân được tham gia ở tất cả các khâu của quá trình đưa ra
những quyết định liên quan đến lợi ích, cuộc sống của họ. Và, để thực hiện dân
chủ hóa đời sống xã hội, trước hết chúng ta phải bảo đảm phát huy dân chủ trong
Đảng và lấy đó làm hạt nhân để phát huy đầy đủ dân chủ trong xã hội; đồng thời
đẩy mạnh dân chủ hóa xã hội để phát huy quyền làm chủ của nhân dân, vai trò chủ
động, sáng tạo của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân.
Không chỉ thế, vận dụng
quan điểm của C.Mác về mối quan hệ giữa dân chủ và chủ nghĩa xã hội, trong
những năm thực hiện đường lối đổi mới đất nước theo định hướng xã hội chủ
nghĩa, Đảng ta còn nhiều lần khẳng định thực hiện dân chủ hóa đời sống xã hội
chính là quá trình xây dựng, tạo lập những điều kiện, tiền đề cần thiết cho
việc thực hiện các giá trị và nguyên tắc xã hội chủ nghĩa của một nền dân chủ
đích thực mà nội dung cơ bản của nó là mọi quyền lực thuộc về nhân dân. Nói
theo quan điểm của V.I.Lênin, dân chủ hóa xã hội là điều kiện hiện thực để đưa
quần chúng nhân dân lao động “vào con đường tự mình sáng tạo lấy cuộc sống
mới”, xây dựng chế độ xã hội mới – xã hội xã hội chủ nghĩa, một xã hội dân chủ
thực sự của con người, do con người và vì con người [Xem: 11, tr.239]. Rằng, để
xây dựng và hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa trong thời kỳ quá độ lên
chủ nghĩa xã hội, chúng ta cần phải ra sức thực hiện dân chủ hóa đời sống xã
hội với tư cách vừa là nội dung của đổi mới, vừa là động lực thúc đẩy đổi mới.
Thực hiện dân chủ hóa trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội phải tạo ra
sự phát triển năng động, bền vững trong các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội
trên cơ sở ổn định chính trị, bảo đảm an ninh và trật tự xã hội, hướng đến mục
tiêu tổng quát là xây dựng một nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa, “dân giàu, nước
mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.
Tài liệu tham khảo
[1] C.Mác và Ph.Ăngghen
(2002), Toàn tập, t.1, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
[2] C.Mác và Ph.Ăngghen
(1995), Toàn tập, t.4, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1995.
[3] C.Mác và Ph.Ăngghen
(1995), Toàn tập, t.6, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
[4] C.Mác và Ph.Ăngghen
(1995), Toàn tập, t.19, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
[5] Đảng Cộng sản Việt
Nam (1977), Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV, Nxb Sự thật, Hà
Nội.
[6] Đảng Cộng sản Việt
Nam (1982), Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ V, t.1, Nxb Sự thật,
Hà Nội.
[7] Đảng Cộng sản Việt
Nam (2006), Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb Sự thật, Hà
Nội.
[8] Đảng Cộng sản Việt
Nam (2011), Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Sự thật, Hà
Nội.
[9] Đảng Cộng sản Việt
Nam (2016), Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nxb Chính trị
Quốc gia, Hà Nội.
[10] Đảng Cộng sản Việt
Nam (2005), Văn kiện Đại hội Đảng thời kỳ đổi mới, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà
Nội.
[11] V.I.Lênin (1978),
Toàn tập, t.35, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva.