Mặt trận Tổ quốc Việt Nam với công tác vận động sự ủng hộ quốc tế phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam với sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, sự thống nhất ý chí của tất cả các tổ chức của các giai tầng trong xã hội, các cá nhân tiêu biểu của các dân tộc, tôn giáo, tầng lớp, là biểu trưng cho ý chí đoàn kết của dân tộc, cho khối đại đoàn kết dân tộc. Chính vì vậy, sự ủng hộ của quốc tế đối với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam chính là ủng hộ cho đất nước và nhân dân Việt Nam.
Miền Nam được giải phóng, đất nước được hoàn toàn độc lập và thống nhất, nhưng ngay lập tức Việt Nam phải đối mặt với khó khăn thách thức thời hậu chiến, đồng thời phải đối mặt với chính sách bao vây, cấm vận của Mỹ và các nước phương Tây, cuộc chiến tranh biên giới Tây Nam, chiến tranh biên giới phía Bắc,... Trong hoàn cảnh đặc biệt đó đòi hỏi Mặt trận Tổ quốc Việt Nam phải tập hợp, đoàn kết được sức mạnh của toàn dân tộc để thực hiện và hoàn thành hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Hai nhiệm vụ đó có quan hệ mật thiết với nhau. Như đồng chí Lê Duẩn đã nói: “Phải xây dựng chủ nghĩa xã hội đạt những kết quả thiết thực làm cho đất nước ta mạnh lên về mọi mặt và trong mọi hoàn cảnh thì mới có đủ sức đánh thắng mọi cuộc chiến tranh xâm lược của địch, bảo vệ vững chắc Tổ quốc. Ngược lại, có tăng cường phòng thủ đất nước, làm thất bại chiến tranh phá hoại nhiều mặt của địch và bảo dảm cho đất nước luôn luôn được bảo vệ vững chắc thì mới có điều kiện để xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội” [1].
Trong điều kiện mới, để tranh thủ sự ủng hộ, giúp đỡ của quốc tế, Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ 24 đã nêu nhiệm vụ cơ bản về đối ngoại của Việt Nam là: “Tranh thủ điều kiện quốc tế thuận lợi để nhanh chóng xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội đồng thời củng cố quốc phòng và an ninh; phát huy tác dụng của Đảng và Nhà nước ta trong công cuộc đấu tranh chung của nhân dân thế giới vì hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và chủ nghĩa xã hội; tăng cường đoàn kết với Lào và Campuchia, thực hiện hợp tác lâu dài, giúp đỡ lẫn nhau, làm cho 3 nước ở Đông Dương trở thành lực lượng vững chắc của cách mạng và hòa bình ở Đông Nam Á; xây dựng quan hệ hợp tác xã hội chủ nghĩa giữa nước ta và các nước xã hội chủ nghĩa anh em; xây dựng quan hệ hữu nghị giữa nước ta với các nước trong thế giới thứ ba, và các nước khác trên cơ sở năm nguyên tắc cùng tồn tại hòa bình” [2].
Văn kiện Đại hội IV cũng có nội dung tương tự. Thực hiện đường lối đó, trong thời kỳ 1975-1986 cùng với việc phát huy vai trò đoàn kết, thống nhất dân tộc, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã phát huy vai trò thống nhất dân tộc, thực hiện việc hàn gắn vết thương chiến tranh, hòa giải hòa hợp dân tộc; tái thiết đất nước, đồng thời đoàn kết toàn dân chống lại sự bao vây, cô lập của Mỹ, phương Tây và các thế lực thù địch.
Với vai trò và sứ mệnh chính nghĩa, cao cả đó, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã vận động, thu hút được sự ủng hộ của các nước XHCN anh em, các nước thế giới thứ ba, nhân dân các nước TBCN, các tổ chức quốc tế và nhân dân tiến bộ trên thế giới. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã vận động được sự giúp đỡ của Liên Xô và các nước XHCN để khắc phục hậu quả chiến tranh, xây dựng và phát triển đất nước trong những điều kiện mới. Tính chính nghĩa, nhân văn của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã thu hút được sự ủng hộ mạnh mẽ của bạn bè, nhân dân tiến bộ và cộng đồng quốc tế.
Các nước XHCN đứng đầu là Liên Xô, Cộng đồng tương trợ kinh tế (SEV) đã tiến hành viện trợ kinh tế không hoàn lại cho Việt Nam trong suốt thời gian từ 1975-1986 để giúp Việt Nam khôi phục kinh tế sau chiến tranh. Tiêu biểu cho sự giúp đỡ, ủng hộ của các nước XHCN anh em là Liên Xô và Cuba. Tháng 5 năm 1975, Liên Xô đã viện trợ khẩn cấp không hoàn lại cho Việt Nam dể giúp nhân dân Việt Nam ổn định đời sống, khôi phục và phát triển sản xuất sau chiến tranh [3]. Tháng 11 năm 1978, Liên Xô đã viện trợ khẩn cấp không hoàn lại lương thực, vải, xăng dầu thuốc men, phân bón và một số mặt hàng khác để giúp Việt Nam khắc phục hậu quả lũ lụt [4]. Phong trào Liên Xô ủng hộ Việt Nam khắc phục hậu quả chiến tranh, thiên tai phát triển rộng rãi. Tiêu biểu là, ngày 15/4/1979, nhân kỷ niệm lần thứ 109 ngày sinh V. I. Lênin, tại Liên Xô đã tổ chức Ngày lao động thứ Bảy Cộng sản chủ nghĩa trong cả nước và quyết định trích 75% số tiền thu được góp vào quỹ giúp đỡ Việt Nam khắc phục hậu quả chiến tranh và đã có 150 triệu người tham gia. Các xí nghiệp công nghiệp đã làm ra sản phẩm trị giá 825 triệu rúp, tiền công thu được trong Ngày lao động thứ Bảy Cộng sản chủ nghĩa là 167 triệu rúp [5]. Về phía Cuba, mặc dù còn nhiều khó khăn, nhưng từ năm 1976 đến 1980, Cuba đã ủng hộ Việt Nam 22 vạn tấn đường để giúp Việt Nam vượt qua những khó khăn của thời kỳ hậu chiến [6].
Khi cuộc chiến tranh biên giới Tây Nam 1978 và biên giới phía Bắc 1979 nổ ra, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã vận động và nhận được sự ủng hộ các nước XHCN anh em, các nước thế giới thứ ba, nhân dân tiến bộ trên thế giới.
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã vạch rõ âm mưu, thủ đoạn của Trung Quốc, Khơme Đỏ khi gây ra cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam năm 1978 và 1979 để nhân dân thế giới nhìn nhận đúng đắn, khách quan, từ đó ủng hộ Việt Nam chống lại các hành động thù địch của Trung Quốc và Khơme Đỏ. Các nước XHCN đứng đầu là Liên Xô, các nước thế giới thứ ba, nhân dân tiến bộ trên thế giới đã ủng hộ Việt Nam, phản đối Trung Quốc, Khơme Đỏ. Ví dụ như: Ngày 26/9/1978, phát biểu ý kiến tại phiên họp toàn thể khóa họp lần thứ 33 của Đại hội đồng Liên hợp quốc, Bộ trưởng A.A. Grômưcô - Trưởng đoàn đại biểu Liên Xô nêu rõ rằng: “Từ diễn đàn của Liên hợp quốc, Liên Xô một lần nữa tuyên bố hoàn toàn ủng hộ Việt Nam và cho rằng những yêu sách bá quyền đối với Việt Nam là không thể dung thứ...”; Ngày 28/9/1978, tại Mátxcơva, Ủy ban Liên Xô ủng hộ Việt Nam họp phiên mở rộng, nhất trí thông qua bản tuyên bố và bức điện gửi Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, khẳng định tình đoàn kết không gì lay chuyển của nhân dân Liên Xô đối với nhân dân Việt Nam trong cuộc đấu tranh bảo vệ chủ quyền, tự do và độc lập [7]. Ngày 18/2/1979 , Liên Xô đã ra tuyên bố về cuộc chiến tranh chống Việt Nam của Trung Quốc. Bản tuyên bố nêu rõ: “Liên Xô kiên quyết đòi chấm dứt cuộc xâm lược và rút ngay quân đội Trung Quốc ra khỏi lãnh thổ Cộng hòa XHCN Việt Nam”. Ngày 19/2/1979, Liên Xô tiếp tục lên án hành động xâm lược của nhà cầm quyền Trung Quốc chống nhân dân Việt Nam. Bản Tuyên bố khẳng định: “... Nhân dân Việt Nam anh hùng, nạn nhân của cuộc xâm lược mới, ngay lần này cũng có khả năng bảo vệ được mình, hơn nữa họ lại có những người bạn đáng tin cậy. Liên Xô sẽ thực hiện những cam kết của mình theo Hiệp ước hữu nghị và hợp tác giữa Liên Xô và Cộng hòa XHCN Việt Nam...” [8].
Nhân dân, quân đội các nước XHCN và nhân dân tiến bộ thế giới đã có những cuộc mít tinh, tuần hành ủng hộ Việt Nam, phản đối Trung Quốc xâm lược Việt Nam. Trong những ngày cuối tháng 2, đầu tháng 3 năm 1979, nhiều bản tuyên bố của các tổ chức, đoàn thể và tập thể, nghị quyết của các cuộc mít tinh, thư, điện mang hàng vạn chữ ký của nhân dân Liên Xô bày tỏ tình đoàn kết với nhân dân Việt Nam, lên án nhà cầm quyền Trung Quốc tiến hành chiến tranh xâm lược chống Việt Nam. Nhiều công dân Liên Xô gửi thư và điện đến Đại sứ quán Việt Nam tại Liên Xô tình nguyện xin được sang Việt Nam chiến đấu.
Ở Cuba, phong trào đoàn kết và ủng hộ nhân dân Việt Nam dâng cao khi cuộc chiến tranh biên giới Tây Nam và chiến tranh biên giới phía Bắc của Việt Nam bùng phát. Tiếng nói của Cuba kêu gọi đoàn kết với nhân dân Việt Nam lại vang lên trên các diễn đàn quốc tế.
Từ năm 1986, cách mạng Việt Nam bước sang giai đoạn mới, thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược là xây dựng, phát triển đất nước thời kỳ đổi mới và bảo vệ biên giới, biển đảo của đất nước trong bối cảnh quốc tế có sự chuyển biến và thay đổi mạnh mẽ trên nhiều phương diện.
Chiến tranh Lạnh kết thúc, trật tự hai cực Ianta sụp đổ, các nước đều coi lợi ích quốc gia là tiền đề cơ bản trong chính sách đối ngoại của minh. Các mâu thuẫn trước đây nói chung đều được hóa giải trên tinh thần tôn trọng lẫn nhau, bình đẳng và cùng có lợi. Thêm vào đó, xu thế toàn cầu hóa diễn ra mạnh mẽ đưa đến sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các nước. Bất kỳ một quốc gia dân tộc nào dù lớn hay bé đều không thể tự mình tách khỏi thế giới, tự cô lập với thế giới. Thêm vào đó là sự phát triển như vũ bão của khoa học công nghệ, sự liên kết kinh tế trên quy mô toàn cầu. Chính vì vậy, sự kết hợp giữa nội lực và ngoại lực là điều vô cùng cần thiết để phát triển đất nước.
Đại hội VI của Đảng Cộng sản Việt Nam đã khẳng định: “Một đặc điểm nổi bật của thời đại là cuộc cách mạng khoa học - kỹ thuật đang diễn ra mạnh mẽ, tạo thành bước phát triển nhảy vọt của lực lượng sản xuất và đẩy nhanh quá trình quốc tế hóa lực lượng sản xuất.” [9]
Đại hội Đảng lần thứ VII và Cương lĩnh 1991 có những điều chỉnh lớn trong việc hướng ra thế giới, hòa nhập với cộng đồng quốc tế với mục tiêu tận dụng mọi nguồn lực bên ngoài cho công cuộc xây dựng và phát triển đất nước. Trên tinh thần đó, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng với việc mở rộng khối đại đoàn kết toàn dân; tích cực vận động nhân dân phát huy tinh thần chủ động sáng tạo, khắc phục khó khăn, đã tích cực tranh thủ, vận động sự ủng hộ của bạn bè quốc tế đối với Việt Nam. Thực hiện phương châm “thêm bạn, bớt thù”, rồi “làm bạn với tất cả các nước trong cộng đồng thế giới” [10], Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã thực hiện tốt việc đoàn kết quốc tế và nhận được sự ủng hộ tích cực của bạn bè quốc tế.
Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH (bổ sung, phát triển năm 2011) của Đảng đã khẳng định rõ: “Kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, sức mạnh trong nước với sức mạnh quốc tế”. Do đó hội nhập quốc tế, tận dụng có hiệu quả sự ủng hộ của quốc tế để củng cố sức mạnh và ảnh hưởng của đất nước đã được Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thực hiện tốt.
Trong 40 năm tiến hành công cuộc đổi mới, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân, nơi thể hiện ý chí, nguyện vọng của khối đại đoàn kết toàn dân; nơi tập hợp và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, đoàn kết động viên nhân dân cùng nhau khắc phục mọi khó khăn gian khổ, phấn đấu vươn lên giành những thành tựu to lớn về kinh tế, xã hội, nâng cao vị thế, hình ảnh của dân tộc Việt Nam trên trường quốc tế. Cùng với đó, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thực hiện tốt phương châm “thêm bạn, bớt thù”. “đa dạng hóa, đa phương hóa”, tăng cường đoàn kết với bạn bè quốc tế, từ đó bạn bè quốc tế ngày càng hiểu, tin và tích cực ủng hộ cho Việt Nam.
Với vai trò tập hợp, đoàn kết nhân dân trong nước và tranh thủ sự ủng hộ của quốc tế, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã phát động nhiều phong trào, cuộc vận động được đông đảo nhân dân trong nước và bạn bè quốc tế đồng tình ủng hộ như: phong trào xoá đói giảm nghèo, tặng sổ tiết kiệm tình nghĩa; ủng hộ, giúp đỡ nhân dân các vùng thiên tai lũ lụt,... Những hoạt động thiết thực, hiệu quả của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã thu hút được sự ủng hộ của nhân dân Việt Nam, đồng thời thu hút được sự ủng hộ giúp đỡ của bạn bè quốc tế. Thời kỳ này, không chỉ có các nước XHCN và nhân dân tiến bộ trên thế giới, các tổ chức phi chính phủ (NGO), mà còn có cả các nước từng đối địch với Việt Nam như Hoa Kỳ và phương Tây cũng ủng hộ. Trước khi bình thường hóa quan hệ với Việt Nam (năm 1995), Hoa Kỳ đã tiến hành viện trợ nhân đạo cho Việt Nam, nhưng giá trị viện trợ còn khiêm tốn. Từ sau khi bình thường hóa quan hệ với Việt Nam, viện trợ của Hoa Kỳ cho Việt Nam tăng lên về giá trị và lĩnh vực viện trợ cũng ngày càng mở rộng. Các lĩnh vực chủ yếu mà Hoa Kỳ tập trung viện trợ là: Nhân đạo; Y tế và sức khỏe; Phát triển kinh tế; Môi trường. Ngoài ra, Hoa Kỳ còn viện trợ cho Việt Nam trong một số lĩnh vực khác như: giáo dục; bảo tồn các di sản văn hóa; hợp tác lao động; trẻ em vô gia cư và trẻ em mồ côi [11]. Viện trợ, giúp đỡ của Hoa Kỳ nói riêng và bạn bè quốc tế nói chung đã góp phần giúp Việt Nam xóa đói, giảm nghèo, phát triển kinh tế, xã hội.
Với nhiệm vụ bảo vệ biển đảo thiêng liêng của Tổ quốc, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã đẩy mạnh vận động tuyên truyền, vạch rõ hành động và âm mưu của Trung Quốc ở Biển Đông. Từ đó giúp nhân dân và dư luận thế giới hiểu đúng vấn đề Biển Đông và lên tiếng ủng hộ Việt Nam. Tại nhiều quốc gia trên thế giới, nhiều cuộc mít tinh, tuần hành hòa bình phản đối hành động bất chấp luật pháp quốc tế của Trung Quốc ở Biển Đông. Nhiều trí thức, học giả quốc tế đưa vấn đề Biển Đông ra các diễn đàn quốc tế và lên án Trung Quốc vi phạm công ước Liên hợp quốc về Luật biển năm 1982.
Đầu năm 2020, cả thể giới trong đó có Việt Nam bước vào cuộc chiến đầy cam go, thử thách với dịch bệnh nguy hiểm COVID-19. Để kết nối sự chung tay, đoàn kết của cả hệ thống chính trị, huy động các tập thể, cá nhân trong và ngoài nước trong công tác phòng, chống dịch COVID-19, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã ra Lời kêu gọi "Toàn dân ủng hộ phòng, chống dịch COVID-19" và đã đạt được nhiều kết quả quan trọng. Thông điệp của lòng yêu thương đã lan tỏa mạnh mẽ. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tiếp nhận được rất nhiều sự ủng hộ không chỉ từ đồng bào ta ở trong và ngoài nước, mà còn của nhân dân nhiều nước trên thế giới, các tổ chức quốc tế với nhiều nghĩa cử cao đẹp.
Tóm lại, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam ngày càng phát triển, là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân, nơi thể hiện ý chí, nguyện vọng của khối đại đoàn kết toàn dân, nơi tập hợp và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, đoàn kết động viên nhân dân cùng nhau khắc phục mọi khó khăn gian khổ, phấn đấu vươn lên giành những thành tựu to lớn về kinh tế, xã hội, nâng cao vị thế, hình ảnh của dân tộc Việt Nam trên trường quốc tế. Cùng với sự ủng hộ của toàn dân tộc Việt Nam, sự ủng hộ của bạn bè quốc tế đối với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã góp phần giành thắng lợi trong thời kỳ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Tính chính nghĩa của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã thu hút được sự ủng hộ, giúp đỡ của nhiều nước trên thế giới, các tổ chức quốc tế, các tổ chức phi chính phủ, nhân dân tiến bộ trên toàn thế giới.
Chú thích:
1. Lê Duẩn (1982), Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng tại Đại hội V của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà xuất bản Sự thật - Hà Nội.
2. Dẫn theo: Lưu Văn Lợi (2004), Ngoại giao Việt Nam (1945-1995), Nxb Công an nhân dân, tr.387-388.
3. Nguyễn Thị Hồng Vân, “Quan hệ Việt Nam - Liên Xô (1917-1991): Những sự kiện lịch sử”, Nxb. Từ điển Bách khoa, Hà Nội, tr.322.
4. Nguyễn Thị Hồng Vân (2010), “Quan hệ Việt Nam - Liên Xô (1917-1991): Những sự kiện lịch sử”, Sđd, tr.359.
5. Nguyễn Thị Hồng Vân (2010), “Quan hệ Việt Nam - Liên Xô (1917-1991): Những sự kiện lịch sử”, Sđd, tr.368-369.
6. Nguyễn Ngọc Mão (2013), Nhìn lại chặng đường quan hệ Việt Nam - Cuba (từ 1960 đến nay), Việt Nam học - Kỷ yếu hội thảo quốc tế lần thứ 4, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, tr. 517.
7. Nguyễn Thị Hồng Vân (2010), “Quan hệ Việt Nam - Liên Xô (1917-1991): Những sự kiện lịch sử”, Sđd, tr.355.
8. Nguyễn Thị Hồng Vân (2010), “Quan hệ Việt Nam - Liên Xô (1917-1991): Những sự kiện lịch sử”, Sđd, tr.364-365.
9. Đảng Cộng sản Việt Nam (1987), Văn kiện Đại hội VI, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, tr.34.
10. Đảng Cộng sản Việt Nam (1991), Văn kiện Đại hội VII, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, tr.147.
11. Vũ Thị Thu Giang (2011), “Quan hệ Hoa Kỳ - Việt Nam từ năm 1991 đến năm 2006”, Luận án Tiến sĩ Lịch sử, Hà Nội, tr. 134-135.
Avatar: https://phunuvietnam.vn/mat-tran-to-quoc-viet-nam-trong-thoi-ky-doi-moi-2025111711465032.htm