Khẳng định nguyên tắc bình đẳng dân tộc trong nền tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam: Thực hiện chính sách phát triển và bảo tồn bản sắc văn hóa các dân tộc rất ít người ở Việt Nam
Nguyên tắc bình đẳng dân tộc của Đảng Cộng sản Việt Nam được thể hiện rõ trong việc tôn trọng đa dạng văn hoá, bảo đảm quyền phát triển và kết hợp hài hoà giữa phát triển kinh tế – xã hội với gìn giữ bản sắc văn hóa dân tộc.

Mở đầu

Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc với 54 tộc người cùng sinh sống, hình thành nên một không gian văn hoá đa dạng, giàu bản sắc và có tính liên kết bền chặt trong tiến trình lịch sử dựng nước và giữ nước. Sự đa dạng ấy không chỉ thể hiện ở ngôn ngữ, tín ngưỡng, phong tục tập quán, mà còn ở các phương thức sinh kế, cấu trúc xã hội và hệ tri thức bản địa thích ứng với những điều kiện sinh thái khác nhau. Trong chỉnh thể thống nhất đó, các dân tộc thiểu số, đặc biệt là các dân tộc rất ít người, thường cư trú ở những địa bàn miền núi, biên giới, vùng sâu, vùng xa - những khu vực vừa có vị trí chiến lược về quốc phòng - an ninh, vừa còn nhiều hạn chế về điều kiện phát triển. Điều này đặt ra yêu cầu kép trong hoạch định chính sách: vừa thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần, vừa bảo tồn và phát huy bản sắc văn hoá như một thành tố cấu thành của nền văn hoá quốc gia thống nhất trong đa dạng.

Một số nghiên cứu quốc tế về chính sách dân tộc ở Việt Nam tiếp cận theo hướng “đồng hoá văn hoá”, với các khái niệm như “Vietnamization”, “Kinh hoá” hay “thực dân nội địa” (McElwee, P, 2004). Theo đó, sự chuyển đổi từ các quan điểm “tự trị”, “đoàn kết dân tộc” sang mục tiêu xây dựng “con người xã hội chủ nghĩa mới” được cho là gắn với việc áp đặt mô hình phát triển thống nhất, khiến văn hoá và sinh kế truyền thống của các dân tộc thiểu số bị xem là “lạc hậu”. Các nghiên cứu gần đây tiếp tục đề cập “bất bình đẳng văn hoá, ngôn ngữ và áp lực hòa nhập một chiều” (Nguyen, A. H., 2020), đồng thời chỉ ra hạn chế trong hỗ trợ thể chế và nguy cơ đồng hoá trong bối cảnh phát triển và toàn cầu hoá (Le, A. T., Nguyen, H. T., & Tran, V. B., 2024).

Tuy nhiên, điểm đáng chú ý là các cách tiếp cận nêu trên thường dựa trên một lối quy giản, khi đồng nhất những biến đổi kinh tế - xã hội mang tính lịch sử trong bối cảnh hậu chiến và chuyển đổi mô hình phát triển với một chủ đích chính sách mang tính “đồng hoá”. Việc quy chiếu các chính sách như định canh định cư, tổ chức lại sản xuất hay kiện toàn hệ thống quản lý cơ sở thành những công cụ áp đặt văn hoá không chỉ bỏ qua tính lịch sử cụ thể của Việt Nam, mà còn làm mờ đi mục tiêu cốt lõi là ổn định đời sống, xoá đói giảm nghèo và thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các vùng, các dân tộc. Nghiêm trọng hơn, khi áp dụng các khung phân tích ngoại sinh như “thực dân nội địa”, một số quan điểm đã đi đến những kết luận phiến diện, thậm chí xuyên tạc bản chất của chính sách dân tộc.

Trái với những diễn giải mang tính quy giản và ngoại suy, thực tiễn nhiều năm qua cho thấy đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam về vấn đề dân tộc không vận hành theo logic “đồng hoá”, mà nhất quán dựa trên nguyên tắc bình đẳng, tôn trọng sự khác biệt và phát huy giá trị văn hoá của các tộc người trong một chỉnh thể thống nhất. Những nguyên tắc này được thể hiện rõ trong quá trình triển khai các chính sách phát triển kinh tế – xã hội gắn với bảo tồn bản sắc văn hoá, đặc biệt đối với các dân tộc rất ít người. Trên cơ sở đối chiếu giữa tư liệu đã công bố và thực tiễn khảo sát tại các cộng đồng Brâu và Rơ-măm - hai dân tộc rất ít người ở Việt Nam, bài viết chỉ ra cách thức các chính sách phát triển gắn với bảo tồn văn hoá được hiện thực hoá, từ đó khẳng định tính nhất quán của nguyên tắc bình đẳng dân tộc trong đường lối của Đảng và cung cấp cơ sở thực tiễn để bác bỏ các luận điệu quy kết “đồng hoá văn hoá”.

1. Nguyên tắc bình đẳng dân tộc trong nền tảng tư tưởng của Đảng

Tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam về vấn đề dân tộc được xác lập nhất quán trên nền tảng chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, với hạt nhân là nguyên tắc các dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp đỡ nhau cùng phát triển (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2011; 2021; 2026). Ngay từ Cương lĩnh chính trị đầu tiên năm 1930, Đảng đã khẳng định quyền tự do, bình đẳng của các dân tộc, gắn vấn đề dân tộc với nhiệm vụ giải phóng dân tộc và chống chính sách chia rẽ của chủ nghĩa thực dân. Quan điểm này tiếp tục được thể chế hoá sau năm 1945 trong các bản Hiến pháp và được cụ thể hoá trong thực tiễn kháng chiến, kiến quốc, với trọng tâm là thực hiện bình đẳng thực chất, từng bước thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các vùng, các dân tộc. Sau thống nhất đất nước, dù có những điều chỉnh về phương thức triển khai trong bối cảnh mới, nguyên tắc bình đẳng vẫn được duy trì như một định hướng chiến lược nhằm đưa các dân tộc cùng phát triển trong một quốc gia thống nhất.

Trên nền tảng xuyên suốt đó, trong thời kỳ Đổi mới, nguyên tắc bình đẳng dân tộc được bổ sung và hoàn thiện cả về nội hàm và cơ chế thực hiện. Điểm cốt lõi là bình đẳng thực chất: không đồng nhất hoá các tộc người, mà bảo đảm quyền phát triển đi đôi với tôn trọng và phát huy bản sắc văn hoá trong một chỉnh thể quốc gia thống nhất. Cách tiếp cận này về bản chất phủ nhận logic “đồng hoá văn hoá”, bởi bình đẳng không được hiểu như sự đồng nhất, mà là quá trình tạo lập điều kiện để các cộng đồng phát triển trong sự đa dạng.

Trong thực tiễn, từ sau Nghị quyết số 22-NQ/TW năm 1989, hệ thống chính sách dân tộc từng bước được xây dựng theo hướng toàn diện, tích hợp và ngày càng phân hoá theo đối tượng. Giai đoạn 1990-2010, các cộng đồng dân tộc thiểu số, trong đó có các dân tộc rất ít người, chủ yếu thụ hưởng các chương trình mục tiêu quốc gia về giảm nghèo, giáo dục, y tế và phát triển hạ tầng, qua đó giải quyết những nhu cầu cơ bản về sinh kế và an sinh. Từ giai đoạn 2011-2015, chính sách dân tộc được thể chế hoá mạnh mẽ hơn với hệ thống hàng trăm văn bản quy phạm, bao phủ đa lĩnh vực và được phân nhóm theo dân tộc, theo vùng và theo ngành, thể hiện bước chuyển từ hỗ trợ dàn trải sang tiếp cận có trọng tâm, trọng điểm. Đến giai đoạn 2016-2020, xu hướng tích hợp chính sách được đẩy mạnh, khắc phục tình trạng phân tán nguồn lực, đồng thời hình thành các nhóm chính sách lớn về phát triển kinh tế, xã hội, nguồn nhân lực, bảo tồn văn hoá và củng cố hệ thống chính trị cơ sở (Phạm Thị Phương Thái, chủ nhiệm, 2020).

Đặc biệt, từ thập niên 2010 trở lại đây, Nhà nước đã từng bước thiết kế các chính sách đặc thù dành riêng cho các dân tộc rất ít người, tiêu biểu như Quyết định số 2086/QĐ-TTg (2016) về hỗ trợ phát triển kinh tế – xã hội các dân tộc rất ít người giai đoạn 2016 - 2025. Các chính sách này không chỉ tập trung vào giảm nghèo và phát triển hạ tầng, mà còn nhấn mạnh bảo tồn, phục dựng và phát huy các giá trị văn hoá truyền thống, hỗ trợ duy trì ngôn ngữ, đào tạo cán bộ là người dân tộc và củng cố thiết chế cộng đồng. Cách tiếp cận này cho thấy rõ sự chuyển dịch từ logic “phát triển thuần tuý” sang mô hình phát triển tích hợp, trong đó văn hoá được nhìn nhận như một nguồn lực nội sinh của phát triển, thay vì một yếu tố cần bị thay thế.

Trong bối cảnh đó, những biến đổi văn hoá ở các cộng đồng dân tộc thiểu số là hiện tượng có thật, nhưng không thể quy giản thành hệ quả trực tiếp của một chủ đích “đồng hoá” từ phía chính sách. Nhiều nghiên cứu gần đây chỉ ra rằng các thách thức về ngôn ngữ, giáo dục hay bản sắc phản ánh sự tương tác phức tạp giữa toàn cầu hoá, thị trường và điều kiện tiếp cận nguồn lực của các nhóm xã hội (Nguyen, A. H., 2020; Nguyen, T. T., & Tran, D. H., 2022); Le, A. T., Nguyen, H. T., & Tran, V. B., 2024). Do đó, việc quy chiếu toàn bộ biến đổi văn hoá về một logic chính sách đơn tuyến không chỉ giản lược thực tiễn, mà còn bỏ qua quá trình hoàn thiện liên tục của hệ thống chính sách dân tộc theo hướng tôn trọng khác biệt và phát triển bao trùm.

Về tổng thể, có thể khẳng định rằng nguyên tắc bình đẳng dân tộc trong đường lối của Đảng không chỉ mang ý nghĩa chuẩn tắc, mà đã được cụ thể hoá thành một hệ thống chính sách đa tầng, đa lĩnh vực và ngày càng thích ứng với đặc thù của từng nhóm dân tộc. Chính tiến trình này tạo cơ sở thực tiễn để bác bỏ các luận điểm quy kết “đồng hoá văn hoá”, đồng thời khẳng định bản chất của mô hình phát triển ở Việt Nam là kết hợp giữa thu hẹp khoảng cách phát triển và bảo tồn, phát huy đa dạng văn hoá trong khuôn khổ một quốc gia thống nhất.

2. Thực tiễn triển khai chính sách phát triển kinh tế – xã hội gắn với bảo tồn văn hoá đối với các dân tộc rất ít người

 Nếu nguyên tắc bình đẳng dân tộc được xác lập ở phương diện lý luận như một định hướng xuyên suốt, thì trong thực tiễn, nguyên tắc đó được cụ thể hoá thông qua một hệ thống chính sách đặc thù đối với các dân tộc thiểu số, đặc biệt là các dân tộc rất ít người như Brâu và Rơ-măm, những cộng đồng có quy mô dân số nhỏ, điều kiện phát triển hạn chế và mức độ dễ tổn thương cao trước các biến động kinh tế - xã hội. Chính trong không gian thực tiễn này, việc đối chiếu giữa thiết kế chính sách và đời sống cộng đồng cho phép nhận diện rõ hơn bản chất của quá trình phát triển: liệu đó có phải là “đồng hoá văn hoá”, hay là một quá trình thích ứng trong điều kiện phát triển.

Dân tộc Brâu và Rơ-măm là hai trong 14 dân tộc có dân số dưới 10.000 người của Việt Nam và cũng là hai dân tộc có dân số rất ít, dưới 1.000 người (Bùi Thị Bích Lan, chủ biên, 2021). Mỗi một dân tộc này lại chỉ cư trú tập trung tại một làng, người Brâu cư trú tại thôn Đắk Mế, xã Bờ Y và người Rơ-măm, cư trú tại thôn làng Le, xã Mô Rai, đều thuộc tỉnh Quảng Ngãi. Với quy mô dân số đặc biệt nhỏ, phân bố tập trung trong phạm vi hẹp, nên các dân tộc này có mức độ dễ tổn thương cao trước các biến động kinh tế - xã hội. Trong bối cảnh phát triển và gia tăng giao lưu giữa các tộc người, các cộng đồng này đang đối mặt với nhiều thách thức như thu hẹp không gian thực hành văn hoá truyền thống, suy giảm sử dụng ngôn ngữ tộc người trong thế hệ trẻ, cũng như áp lực từ các quan hệ liên tộc người ngày càng mở rộng. Tuy nhiên, chính đặc điểm này cũng cho thấy rằng mọi biến đổi diễn ra trong cộng đồng không thể được quy giản thành hệ quả của một chủ đích “đồng hoá văn hoá”, mà cần được đặt trong tổng thể các điều kiện lịch sử - xã hội cụ thể. Do đó, việc phân tích thực tiễn chính sách đối với các cộng đồng như Brâu và Rơ-măm không chỉ nhằm nhận diện tác động của phát triển, mà còn là cơ sở để kiểm chứng bản chất của đường lối về bình đẳng dân tộc của Đảng trong thực tiễn.

2.1. Tác động của chính sách đến đời sống kinh tế - xã hội của dân tộc Brâu và Rơ-măm

Trước ngày thống nhất đất nước, hai dân tộc này cư trú ở vùng biên giới của ngã ba Đông Dương, nơi Việt Nam tiếp giáp với cả Lào và Campuchia. Họ không có địa điểm định cư cố định mà di chuyển giữa hai bên đường biên giới, dưới những cánh rừng già để đảm bảo an toàn trong thời kỳ chiến tranh. Người Brâu có nhiều đồng tộc vẫn đang sinh sống ở Lào và Campuchia trong khi người Rơ-măm thì có đồng tộc ở Campuchia (Nguyễn Thị Ngân, Tô Thu Trang, 2009. Về cơ bản, sau chiến tranh và đến thời kỳ trước Đổi mới, hai dân tộc này thực hành lối sống truyền thống, dựa trên canh tác nương rẫy và khai thác tự nhiên là chính. Vì vậy, đời sống gặp nhiều khó khăn, tỷ lệ đói nghèo cao, một số nghề thủ công, đặc biệt như nghề dệt bị mai một.

Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước đã triển khai một hệ thống chính sách có tính ưu tiên đặc biệt đối với các dân tộc rất ít người. Các chương trình và đề án như Quyết định 2086/QĐ-TTg (2016–2025), Nghị định 57/2017/NĐ-CP về hỗ trợ giáo dục, hay Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi (2021-2030) đã tập trung đầu tư vào hạ tầng, sinh kế, giáo dục và an sinh xã hội. Riêng với nhóm dân tộc Brâu và Rơ-măm tại tỉnh Quảng Ngãi, nhiều đề án đầu tư với tổng kinh phí nhiều tỷ đồng đã được triển khai nhằm cải thiện toàn diện điều kiện phát triển (cả hai dân tộc) và mới đây nhất là dự án 6 và tiểu dự án 9, Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển vùng dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021-2025; giai đoạn 2026-2030 (dân tộc Rơ-măm).

Tác động của hệ thống chính sách này đến đời sống kinh tế - xã hội được phản ánh tương đối rõ trong thực tiễn tại các cộng đồng dân tộc rất ít người. Đối với người Brâu, thu nhập bình quân đã tăng đáng kể, từ khoảng 720.000 đồng/người/năm vào năm 2005 lên 24,6 triệu đồng/người/năm vào năm 2021, đồng thời cơ cấu sinh kế cũng trở nên đa dạng hơn, không chỉ dựa vào nông nghiệp truyền thống mà còn mở rộng sang lao động làm thuê và di cư lao động. Cùng với đó, hệ thống hạ tầng cơ sở như điện, đường, trường, trạm được cải thiện rõ rệt, góp phần nâng cao chất lượng sống và khả năng tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản (Nguyễn Thị Tám, chủ nhiệm, 2024).

Tại cộng đồng Rơ-măm, các chương trình đầu tư của Nhà nước từ giữa những năm 2000 đến nay cũng tạo ra những chuyển biến tích cực trên nhiều phương diện. Đến năm 2025, tỷ lệ hộ nghèo giảm xuống còn 3,6%, hộ cận nghèo còn 11,4%, trong khi thu nhập bình quân đầu người đạt khoảng 20 triệu đồng/người/năm. Điều kiện kinh tế của một bộ phận hộ gia đình đã được cải thiện, thể hiện qua việc sở hữu các phương tiện sản xuất như xe công nông, xe tải phục vụ sinh kế. Đồng thời, khả năng tiếp cận giáo dục và an sinh xã hội được nâng lên đáng kể: trẻ em trong cộng đồng đều được đến trường, được hỗ trợ sách vở và bảo hiểm y tế, và đã xuất hiện những trường hợp học sinh theo học tại các cơ sở giáo dục đại học. Những cải thiện về hạ tầng và môi trường sống, như đường làng, ngõ xóm được nâng cấp khang trang, cũng phản ánh rõ nét hiệu quả của các chính sách phát triển (Sở Văn hoá, Thể thao và Du lịch tỉnh Quảng Ngãi, 2026). Tuy nhiên, từ góc nhìn thực địa, quá trình này không diễn ra một cách tuyến tính hay đồng đều. Một bộ phận người dân vẫn còn tâm lý trông chờ, phụ thuộc vào chính sách; việc sử dụng vốn hỗ trợ chưa hiệu quả; thậm chí có trường hợp tiêu dùng không đúng mục đích hoặc thiếu kỹ năng sản xuất. Những hạn chế này cho thấy phát triển không chỉ phụ thuộc vào đầu tư, mà còn liên quan đến năng lực tiếp nhận và điều kiện xã hội cụ thể của cộng đồng. Điều quan trọng là: chính sách không nhằm áp đặt một mô hình phát triển đồng nhất, mà tạo điều kiện để các cộng đồng từng bước tiếp cận nguồn lực và lựa chọn con đường phát triển phù hợp. Sự đa dạng trong kết quả và cách thức thích ứng chính là biểu hiện của bình đẳng thực chất, chứ không phải là đồng hoá.

2.2. Tái cấu trúc văn hoá tộc người dưới tác động của chính sách

Từ góc độ nhân học, những biến đổi văn hoá tại các cộng đồng dân tộc rất ít người như Brâu và Rơ-măm có thể được hiểu không phải như sự “mất đi” hay “thay thế” đơn tuyến, mà như một quá trình tái cấu trúc văn hoá (cultural reconfiguration). Cách tiếp cận này, gợi mở từ các nghiên cứu về biến đổi văn hoá và tính lai ghép (Appadurai, A., 1996), nhấn mạnh rằng văn hoá luôn vận động trong tương tác với các điều kiện kinh tế - xã hội và thể chế, trong đó các yếu tố truyền thống được lựa chọn, điều chỉnh và tái định dạng trong bối cảnh mới. Thực tiễn tại hai cộng đồng Brâu và Rơ-măm cho thấy rõ tính chất đa chiều của quá trình này dưới tác động của hệ thống chính sách dân tộc.

Trước hết, ở cả hai trường hợp, chính sách đã can thiệp trực tiếp vào việc tái thiết lập các thiết chế và thực hành văn hoá cốt lõi. Với người Brâu, từ khi thực hiện định canh, định cư tại làng Đắk Mế từ đầu thập niên 1990, không gian cư trú truyền thống đã được tổ chức lại theo mô hình làng mới. Tuy nhiên, song song với quá trình này, các chính sách “bảo tồn có chọn lọc” đã tập trung phục hồi nhà rông - thiết chế trung tâm của đời sống cộng đồng - thông qua nhiều lần xây dựng, tu sửa (1993, 2000, 2010, 2018), phục dựng các nghi lễ quan trọng như lễ tỉa lúa, lễ cầu mưa (Lê Thị Hường, Nguyễn Thị Tám, 2024), phục hồi nghề dệt, lớp học cồng chiêng, múa xoang, hát dân ca (Sở Văn hoá, Thể thao và Du lịch tỉnh Quảng Ngãi, 2026).

Tương tự, tại cộng đồng Rơ-măm, các hoạt động truyền dạy và phục dựng văn hoá được tổ chức một cách có hệ thống, từ các lớp học cồng chiêng, múa xoang, hát dân ca, đến dệt và đan lát với sự tham gia của nghệ nhân và người dân trong cộng đồng. Đồng thời, các thực hành văn hoá còn được tái hiện trong không gian nhà rông thông qua các chương trình trình diễn, cũng như được tư liệu hoá dưới dạng phim, phóng sự và mã hoá số - QR code (Sở Văn hoá, Thể thao và Du lịch tỉnh Quảng Ngãi (2026). Những hoạt động này cho thấy một xu hướng chung: văn hoá không chỉ được duy trì trong đời sống thường nhật, mà còn được chuẩn hoá, phục dựng và tái hiện trong các thiết chế mới, gắn với quản lý nhà nước và truyền thông hiện đại.

Tuy nhiên, điểm đáng chú ý là quá trình tái cấu trúc này không diễn ra theo hướng phục hồi nguyên trạng, mà đi kèm với sự chuyển đổi về hình thức và chức năng của các yếu tố văn hoá. Nhiều thực hành vốn gắn với chu kỳ sản xuất nông nghiệp hoặc đời sống tín ngưỡng nay dần mất đi môi trường tồn tại tự nhiên, do thay đổi phương thức sinh kế và không gian cư trú. Một số nghi lễ được phục dựng trong bối cảnh trình diễn hoặc sự kiện, mang tính biểu tượng nhiều hơn là thực hành sống. Ở dân tộc Rơ-măm, các lớp truyền dạy cho thấy sự phân hoá thế hệ rõ rệt: thanh thiếu niên tiếp cận các hình thức trình diễn (cồng chiêng, múa), trong khi các tri thức như nghề dệt, hát dân ca vẫn chủ yếu do nhóm trung niên nắm giữ. Ở dân tộc Brâu, dữ liệu điều tra năm 2023 cho thấy 100% người được hỏi sử dụng thành thạo tiếng phổ thông - một chỉ báo quan trọng của hội nhập xã hội, nhưng đồng thời cũng phản ánh nguy cơ suy giảm vai trò của tiếng mẹ đẻ trong đời sống thường nhật (Nguyễn Thị Tám, chủ nhiệm, 2024).

Bên cạnh đó, các chính sách phát triển kinh tế - xã hội (hạ tầng, sinh kế, giáo dục, y tế…) đã tạo ra những điều kiện vật chất mới, làm thay đổi căn bản môi trường tồn tại của văn hoá. Ở người Brâu, việc đầu tư cơ sở hạ tầng, hỗ trợ sản xuất, trang thiết bị văn hoá và phục dựng lễ hội cho thấy văn hoá được tích hợp vào các chương trình phát triển như một nguồn lực nội sinh. Với người Rơ-măm, các hoạt động trình diễn, truyền dạy và truyền thông hoá di sản cũng cho thấy sự kết nối ngày càng chặt chẽ giữa văn hoá và các lĩnh vực như giáo dục, truyền thông và du lịch. Điều này phản ánh một xu hướng chung: văn hoá không còn tồn tại biệt lập, mà được tái định vị trong mối quan hệ với thị trường, nhà nước và các thiết chế hiện đại.

Từ hai trường hợp trên, có thể thấy rằng biến đổi văn hoá ở các cộng đồng dân tộc rất ít người không thể được giản lược thành một quá trình “đồng hoá văn hoá” theo nghĩa xoá bỏ và thay thế. Ngược lại, đó là một quá trình tái cấu trúc đa tầng, trong đó các yếu tố truyền thống vừa được phục hồi và thể chế hoá thông qua chính sách, vừa bị điều chỉnh và tái định dạng dưới tác động của những biến đổi kinh tế - xã hội và giao lưu văn hoá. Chính trong sự đan xen giữa phục hồi và biến đổi, giữa truyền thống và hiện đại, văn hoá tộc người tiếp tục tồn tại và vận động trong những hình thức mới.

3. Bình đẳng dân tộc trong tư tưởng chính sách và cách tiếp cận diễn giải biến đổi văn hoá

Trong một số nghiên cứu gần đây, biến đổi văn hoá của các dân tộc thiểu số ở Việt Nam thường được diễn giải thông qua các khái niệm như “hòa nhập một chiều”, “áp lực đồng hoá” hay “phân biệt đối xử ngôn ngữ” ( Nguyen, 2020; Nguyen & Tran, 2022); Le et al., 2024). Những tiếp cận này có giá trị nhất định trong việc nhận diện các bất bình đẳng tồn tại trong một số lĩnh vực như giáo dục hay môi trường ngôn ngữ. Tuy nhiên, nếu khái quát thành luận điểm về “đồng hoá văn hoá” như một xu hướng mang tính chính sách, thì cách diễn giải này chưa phản ánh đầy đủ tính nhất quán trong đường lối dân tộc của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Trên phương diện tư tưởng, chính sách dân tộc của Đảng được xác lập trên nguyên tắc bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và hỗ trợ các dân tộc cùng phát triển. Bình đẳng dân tộc ở đây không đồng nhất với sự đồng nhất hoá văn hoá, mà được hiểu là quyền phát triển trong đa dạng, đồng thời bảo tồn và phát huy bản sắc riêng của từng tộc người trong một chỉnh thể quốc gia thống nhất. Từ thời kỳ Đổi mới đến nay, các chính sách dân tộc được triển khai theo hướng kết hợp giữa phát triển kinh tế - xã hội với bảo tồn văn hoá, thể hiện qua hệ thống chương trình mục tiêu quốc gia và các chính sách đặc thù dành cho các dân tộc rất ít người.

Đối chiếu giữa chính sách và thực tiễn tại các cộng đồng như Brâu và Rơ-măm cho thấy không tồn tại một logic “đồng hoá cưỡng bức” trong quá trình phát triển. Ngược lại, chính sách thực tế được thiết kế theo hướng ưu tiên đặc thù, đầu tư có trọng điểm, đồng thời kết hợp giữa nâng cao đời sống vật chất và bảo tồn văn hoá. Nhà nước không chỉ hỗ trợ phát triển kinh tế - xã hội mà còn đầu tư cho phục dựng lễ hội, bảo tồn ngôn ngữ, xây dựng thiết chế văn hoá cộng đồng, cũng như truyền dạy và duy trì các thực hành văn hoá truyền thống. Điều này cho thấy không có một mô hình văn hoá đơn nhất được áp đặt, mà là sự tồn tại song song giữa biến đổi xã hội và nỗ lực tái tạo văn hoá.

Trường hợp dân tộc Brâu và Rơ-măm với việc phục dựng nhà rông và duy trì lễ hội truyền thống, truyền dạy cồng chiêng, múa xoang và trình diễn văn hoá, cho thấy văn hoá tộc người không bị xoá bỏ mà đang được tái định dạng trong bối cảnh mới. Những biến đổi trong hình thức biểu đạt văn hoá, từ sinh hoạt thường nhật sang trình diễn, từ truyền khẩu sang tư liệu hoá, không đồng nghĩa với đồng hoá, mà phản ánh quá trình thích ứng trong điều kiện kinh tế - xã hội mới.

Tuy nhiên, thực tiễn cũng ghi nhận một số hạn chế trong triển khai chính sách, như đầu tư chưa đồng đều, thiếu chuyên môn sâu hoặc phát sinh tâm lý phụ thuộc. Những vấn đề này cần được nhìn nhận như giới hạn của quá trình thực thi chính sách, chứ không phải bằng chứng cho chủ đích “đồng hoá văn hoá”.

Từ đó có thể khẳng định rằng, biến đổi văn hoá trong các cộng đồng dân tộc rất ít người là kết quả của một quá trình tương tác phức hợp giữa chính sách phát triển, điều kiện thị trường và năng lực thích ứng của cộng đồng. Việc quy giản toàn bộ quá trình này thành “đồng hoá văn hoá” không chỉ thiếu cơ sở thực tiễn mà còn bỏ qua những nỗ lực nhất quán của Nhà nước trong việc kết hợp phát triển với bảo tồn văn hoá. Chính thực tiễn này là cơ sở để khẳng định tính đúng đắn của nguyên tắc bình đẳng dân tộc trong đường lối của Đảng, đồng thời bác bỏ các cách diễn giải mang tính giản lược về chính sách dân tộc ở Việt Nam.

Kết luận

Từ những phân tích về mối quan hệ giữa chính sách dân tộc và thực tiễn biến đổi văn hoá tại các cộng đồng Brâu và Rơ-măm, có thể rút ra một số nhận định khái quát. Trước hết, các chính sách dân tộc của Việt Nam được xây dựng và triển khai trên nền tảng nhất quán của nguyên tắc bình đẳng dân tộc, thể hiện qua định hướng tôn trọng sự đa dạng văn hoá, bảo đảm quyền phát triển của các tộc người và thúc đẩy sự gắn kết trong chỉnh thể quốc gia thống nhất. Nguyên tắc này được cụ thể hoá bằng các chương trình phát triển kinh tế – xã hội kết hợp với bảo tồn và phát huy giá trị văn hoá truyền thống, đặc biệt đối với các dân tộc rất ít người.

Thứ hai, đối chiếu với thực tiễn tại cộng đồng Brâu và Rơ-măm cho thấy không tồn tại một quá trình “đồng hoá văn hoá” mang tính chính sách như một số cách diễn giải đã nêu. Ngược lại, có thể nhận diện một quá trình vừa biến đổi vừa tái tạo văn hoá, trong đó Nhà nước đóng vai trò hỗ trợ thông qua đầu tư cơ sở hạ tầng, thiết chế văn hoá, phục dựng lễ hội, truyền dạy nghệ thuật truyền thống và bảo tồn ngôn ngữ. Những biến đổi trong đời sống văn hoá chủ yếu là kết quả của sự tương tác giữa phát triển kinh tế – xã hội, hội nhập và năng lực thích ứng nội sinh của cộng đồng, chứ không phải sự áp đặt nhằm xoá bỏ bản sắc tộc người.

Từ đó, có thể khẳng định rằng luận điểm quy kết toàn bộ quá trình biến đổi văn hoá của các dân tộc thiểu số ở Việt Nam như một hình thức “đồng hoá văn hoá” là thiếu cơ sở thực tiễn và chưa phản ánh đúng bản chất của chính sách dân tộc hiện hành. Thực tiễn chính sách cho thấy sự nhất quán trong việc kết hợp giữa phát triển và bảo tồn, qua đó củng cố tính đúng đắn của nguyên tắc bình đẳng dân tộc trong đường lối của Đảng.

Tuy nhiên, để nâng cao hiệu quả của các chính sách đối với các dân tộc rất ít người như Brâu và Rơ-măm, cần chú ý một số khuyến nghị sau:

Thứ nhất, cần tăng cường tính đặc thù và linh hoạt trong thiết kế chính sách, bảo đảm các can thiệp phát triển phù hợp với điều kiện sinh kế, không gian cư trú và cấu trúc xã hội riêng của từng cộng đồng. Tránh áp dụng các mô hình phát triển đồng nhất vốn có nguy cơ làm suy giảm tính bền vững của các thực hành văn hoá tộc người.

Thứ hai, nâng cao chất lượng công tác bảo tồn văn hoá theo hướng gắn với đời sống cộng đồng thay vì chỉ tập trung vào hình thức trình diễn. Việc phục dựng lễ hội, nhà rông hay truyền dạy cồng chiêng cần được đặt trong bối cảnh duy trì chức năng xã hội thực sự của các thiết chế văn hoá, tránh xu hướng “bảo tàng hoá” văn hoá tộc người.

Thứ ba, tăng cường đào tạo và sử dụng đội ngũ cán bộ văn hoá tại chỗ, ưu tiên người địa phương tham gia vào quá trình xây dựng, triển khai và giám sát chính sách. Điều này không chỉ nâng cao hiệu quả thực thi mà còn góp phần củng cố năng lực tự quản văn hoá của cộng đồng.

Thứ tư, cần chú trọng hơn đến các giải pháp phát triển sinh kế bền vững gắn với văn hoá, như du lịch cộng đồng, sinh kế truyền thống và các mô hình sản xuất phù hợp, qua đó tạo nền tảng kinh tế để văn hoá có thể được duy trì một cách tự nhiên.

Tổng thể, việc kết hợp hài hoà giữa phát triển kinh tế - xã hội và bảo tồn văn hoá không chỉ là yêu cầu chính sách, mà còn là điều kiện quan trọng để bảo đảm sự phát triển bền vững của các cộng đồng dân tộc rất ít người. Đây cũng là cơ sở thực tiễn khẳng định tính đúng đắn, nhất quán của nguyên tắc bình đẳng dân tộc trong đường lối của Đảng, đồng thời mở ra những định hướng điều chỉnh chính sách theo hướng ngày càng phù hợp và hiệu quả hơn trong giai đoạn hiện nay.

Tài liệu tham khảo

1.    Appadurai, A. (1996), Modernity at large: Cultural dimensions of globalization, University of Minnesota Press.

2.    Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011), Hà Nội.

3.    Đảng Cộng sản Việt Nam (2021), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII. Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật.

4.    Đảng Cộng sản Việt Nam (2026), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV. Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật.

5.    Evans, G. (1995), The Vietnamese solution: Vietnam and Cambodia, 1978–1989, Monthly Review Press.

6.   Hardy, A. (2003), Red hills: Migrants and the state in the highlands of Vietnam, National University of Singapore Press.

7.    Hannerz, U. (1992), Cultural complexity: Studies in the social organization of meaning, Columbia University Press.

8.    Lê Thị Hường, Nguyễn Thị Tám (2024), “Thực trạng biến đổi nhà rông của người Brâu ở tỉnh Kon Tum”, Tạp chí Dân tộc học, số 2, 98–110.

9.    Bùi Thị Bích Lan (Chủ biên, 2021), Một số vấn đề về phát triển kinh tế - xã hội và bảo tồn văn hoá truyền thống các dân tộc rất ít người ở Việt Nam hiện nay, Nxb. Văn hoá Dân tộc.

10.  Le, A. T., Nguyen, H. T., & Tran, V. B. (2024), Perspectives of ethnic minority students in Northern Vietnam, Pavlo Johansen Library Science Serbii, 2(2), 23264–23275.

11.  McElwee, P. (2004), Becoming socialist or becoming Kinh? Government policies for ethnic minorities in the Socialist Republic of Viet Nam, In C. R. Duncan (Ed.), Civilizing the margins: Southeast Asian government policies for the development of minorities (pp. 182–213), NUS Press.

12.  Nguyen, A. H. (2020), Inequality in ethnic representation in secondary-school literature (Honors project), Bridgewater College Digital Commons. https://digitalcommons.bridgewater.edu/cgi/viewcontent.cgi?article=1011&context=honors_projects

13.   Nguyen, T. T., & Tran, D. H. (2022), “Educational linguicism: Linguistic discrimination against minority students in Vietnamese mainstream schools”, Language Policy, 21(3), 445–467. https://eric.ed.gov/?id=EJ1339268

14.   Nguyễn Thị Ngân, Tô Thị Thu Trang (2009), Văn hoá Rơ măm, Nxb. Văn hoá dân tộc.

15.   Nguyễn Thị Tám (Chủ nhiệm, 2024), Biến đổi văn hoá tộc người Brâu ở vùng biên giới tỉnh Kon Tum hiện nay (Báo cáo tổng hợp đề tài cấp Bộ 2023–2024), Viện Dân tộc học và Tôn giáo học (lưu trữ).

16.  Phạm Thị Phương Thái (Chủ nhiệm, 2020), Những giải pháp cơ bản, cấp bách nhằm nâng cao hiệu quả của chính sách bảo tồn và phát triển các dân tộc thiểu số rất ít người ở nước ta hiện nay (Báo cáo đề tài cấp Nhà nước, mã số CTDT.42.18/16–20).

17.  Salemink, O. (2003), The ethnography of Vietnam’s Central Highlanders: A historical contextualization, 1850–1990, University of Hawai‘i Press.

Sở Văn hoá, Thể thao và Du lịch tỉnh Quảng Ngãi (2026), Báo cáo kết quả khôi phục, bảo tồn và phát triển bản sắc văn hóa truyền thống của dân tộc Rơ Măm, Làng Le, xã Mô Rai, tỉnh Quảng Ngãi.

Trần Hồng Thu
Nguồn bài viết: Viện Dân tộc học và Tôn giáo học
Tin xem nhiều
Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tất cả: 1