Một số bất cập trong quá trình giao đất, giao rừng cho hộ gia đình người Bru - Vân Kiều ở tỉnh Quảng Trị
Chính sách giao đất, giao rừng ở nước ta là một chiến lược quan trọng nhằm góp phần bảo vệ môi trường tự nhiên và cải thiện sinh kế cho người dân, đặc biệt ở vùng dân tộc thiểu số. Tuy nhiên, do sự đa dạng về điều kiện tự nhiên, kinh tế, văn hóa, xã hội nên việc triển khai chính sách này không phải lúc nào cũng đạt hiệu quả như mong đợi. Dựa trên kết quả nghiên cứu tại tỉnh Quảng Trị, bài viết này chỉ ra một số bất cập nảy sinh trong quá trình triển khai chính sách giao đất, giao rừng khiến hiệu quả kinh tế, xã hội không đạt được mục tiêu như kỳ vọng và làm nảy sinh một số hệ lụy không mong muốn. Trên cơ sở đó, bài viết cũng đưa ra một số đề xuất nhằm góp phần tăng hiệu quả kinh tế cho chính sách này

1. Mở đầu

Trong nhiều thập kỷ qua, phân quyền quản lý rừng và giao quyền sử dụng đất rừng cho cộng đồng địa phương đã trở thành xu hướng phổ biến trong quản trị tài nguyên rừng ở các nước đang phát triển. Chính sách này dựa trên niềm tin trao quyền sử dụng tài nguyên cho cộng đồng địa phương sẽ cải thiện hiệu quả quản lý rừng, giảm nghèo và thúc đẩy phát triển sinh kế bền vững (Agrawal và Ostrom, 2001; Larson và Ribot, 2007). Ở Đông Nam Á, nhiều quốc gia đã thực hiện các chương trình giao rừng hoặc quản lý rừng cộng đồng, như Philippines, Indonesia, Thái Lan và Việt Nam. Tuy nhiên, mức độ thành công của các chương trình này rất khác nhau do sự khác biệt về thể chế, quyền sở hữu tài nguyên và mức độ tham gia của cộng đồng địa phương.

Tại Việt Nam, việc giao đất, giao rừng (GĐGR) cho hộ gia đình và cộng đồng quản lý được thúc đẩy mạnh mẽ sau khi Luật Đất đai năm 1993 ban hành. Chính sách này được xem là một phần quan trọng trong quá trình chuyển đổi từ mô hình lâm nghiệp nhà nước sang lâm nghiệp xã hội (Sikor, 2001). Tuy nhiên, nhiều nghiên cứu cho thấy kết quả của chính sách này còn nhiều hạn chế, đặc biệt đối với các cộng đồng dân tộc thiểu số (DTTS) (Vương Xuân Tình, 2007; Trần Văn Hà, 2021). Dựa trên phân tích so sánh các nghiên cứu trước đây về chủ đề này, kết hợp với kết quả nghiên cứu thực địa tại tỉnh Quảng Trị (địa bàn tỉnh Quảng Bình cũ), bài viết này tập trung phân tích một số bất cập trong quá trình triển khai chính sách GĐGR cho người Bru - Vân Kiều và xem xét tính hợp lý, hiệu quả của quá trình này đối với sinh kế của người dân.

Những dữ liệu trong bài viết được tham khảo từ các báo cáo tổng kết kinh tế, văn hóa - xã hội trong các năm 2023 - 2024 của Ủy ban nhân dân xã Kim Thủy[1] và xã Trường Sơn; thông tin thu được từ tổng số 6 cuộc thảo luận nhóm và 22 cuộc phỏng vấn sâu với người Bru - Vân Kiều ở 4 bản: Hà Lẹc, Mít Cát (xã Kim Thủy cũ), bản Sắt và Khe Cát (xã Trường Sơn, tỉnh Quảng Trị) trong hai năm 2023, 2024. Giả thuyết mà bài viết đưa ra là do việc triển khai GĐGR ở cấp xã chưa bám sát với hướng dẫn của Luật Đất đai, chưa đặt trong điều kiện tự nhiên, kinh tế, văn hóa - xã hội của địa phương dẫn đến cứng nhắc khi triển khai ở cấp độ cộng đồng. Bên cạnh đó, thực trạng tập trung quá nhiều diện tích đất rừng sản xuất dưới sự quản lý của các ban quản lý, công ty lâm nghiệp mang tính lịch sử. Việc thu hồi đất từ những tổ chức này để giao cho người dân không thể thực hiện trong thời gian ngắn bởi các quyết định giao đất rừng vẫn còn hiệu lực. Điều đó dẫn đến mục tiêu phát triển sinh kế cho người dân từ kinh tế rừng chưa được thúc đẩy như mong đợi, tình trạng khai thác trái phép tài nguyên rừng có dấu hiệu phát triển trở lại.

Chính sách GĐGR ở Trung Quốc được triển khai chủ yếu thông qua cải cách “quyền sử dụng rừng tập thể”, đặc biệt từ sau năm 2003, nhằm chuyển giao quyền quản lý rừng từ tập thể sang hộ gia đình để thúc đẩy đầu tư lâm nghiệp và giảm nghèo ở khu vực nông thôn, bao gồm vùng DTTS. Chính sách này không chuyển quyền sở hữu mà trao quyền sử dụng, khai thác và hưởng lợi cho các hộ gia đình, tạo động lực kinh tế và nâng cao an ninh quyền sử dụng đất (Ren et al., 2018; Liu & Ren, 2020). Tuy nhiên, tại nhiều khu vực miền núi Tây Nam, việc thực hiện không hoàn toàn theo hướng cá thể hóa mà vẫn duy trì hoặc quay lại mô hình quản lý tập thể để phù hợp với điều kiện cộng đồng địa phương (Zinda & Zhang, 2018). Một số nghiên cứu cho thấy việc phân quyền có thể làm gia tăng khai thác tài nguyên phục vụ sinh kế, phản ánh sự căng thẳng giữa mục tiêu bảo tồn và phát triển (Liu & Ren, 2020). Nhìn chung, chính sách này góp phần nâng cao hiệu quả quản lý rừng và sinh kế hộ gia đình, song vẫn đặt ra các vấn đề về công bằng, sự tham gia của cộng đồng và tính phù hợp đối với các nhóm DTTS.

Tại Đông Nam Á, nhiều quốc gia đã triển khai giao quyền quản lý rừng cho cộng đồng với những mô hình và kết quả khác nhau. Ở Philippines, chương trình quản lý rừng cộng đồng (CBFM) từ thập niên 1990 đã tăng cường quyền tiếp cận tài nguyên và vai trò của cộng đồng trong quản lý rừng, dù vẫn khó khăn về thị trường và thủ tục hành chính (Pulhin et al., 2008). Indonesia đặt mục tiêu giao hơn 12 triệu ha rừng cho cộng đồng địa phương, góp phần mở rộng quyền tiếp cận đất rừng nhưng quá trình thực hiện còn chậm do rào cản thể chế và quyền sử dụng đất (Moeliono et al., 2017). Tại Thái Lan, cộng đồng được tham gia quản lý rừng theo Luật Rừng cộng đồng, song quyền sở hữu đất vẫn thuộc Nhà nước và quyền khai thác lâm sản còn hạn chế (Gilmour, 2016).

Ở Lào, chương trình GĐGR được triển khai từ thập niên 1990 nhằm giao quyền quản lý rừng cho hộ gia đình và cộng đồng địa phương. Tuy nhiên, việc thực hiện còn mang tính hành chính từ trên xuống, mức độ tham gia của cộng đồng DTTS hạn chế và quyền sử dụng đất thiếu ổn định (Fujita & Phanvilay, 2008; Barney, 2009). Chính sách này góp phần hạn chế du canh du cư nhưng làm thu hẹp không gian sinh kế truyền thống và gia tăng bất bình đẳng trong tiếp cận tài nguyên (Dressler et al., 2017). Tại Campuchia, dù khung pháp lý cho phép giao quyền sử dụng đất tập thể cho cộng đồng ở địa phương, song quá trình thực hiện diễn ra chậm do rào cản về thủ tục, năng lực quản trị và xung đột đất đai với các dự án nhượng quyền kinh tế. Vì vậy, quyền tiếp cận rừng và lợi ích từ tài nguyên rừng của cộng đồng chưa được bảo đảm đầy đủ (Milne, 2015).

Chính sách GĐGR ở Việt Nam được triển khai rộng công cuộc Đổi mới và được thể chế hóa qua Luật Đất đai 1993, Nghị định số 02/CP ngày 15/1/1994 của Chính phủ và các chương trình lâm nghiệp quốc gia. Tính đến năm 2018, diện tích rừng đã giao cho chủ rừng chiếm 69% tổng diện tích đất rừng cả nước, trong đó giao cho: Ban Quản lý rừng đặc dụng 2.056.504 ha, Ban Quản lý rừng phòng hộ 2.984.158 ha, tổ chức kinh tế (chủ yếu là doanh nghiệp nhà nước) 1.711.594 ha, tổ chức Khoa học và Công nghệ, đào tạo về Lâm nghiệp 118.521 ha, doanh nghiệp có vốn nước ngoài 66.159 ha, hộ gia đình 2.955.134 ha, cộng đồng dân cư 1.156.714 ha, đơn vị vũ trang 198.825 ha, tổ chức khác 148.793 ha. Diện tích rừng chưa giao là 3.094.893 ha, chiếm 31% hiện đang giao cho ủy ban nhân dân cấp xã quản lý. Tuy nhiên, việc GĐGR chủ yếu trên hồ sơ, bản đồ, ít triển khai thực địa, chưa giải quyết mâu thuẫn, vướng mắc, thiếu sự tham gia của người dân (Ủy ban Dân tộc, 2020). Ở một số địa phương, hiệu quả kinh tế của chính sách này còn hạn chế do diện tích được giao quá ít (Trần Văn Hà, 2021; Nguyễn Công Thảo, 2024).

Mục tiêu của GĐGR là trao quyền sử dụng đất lâm nghiệp dài hạn cho hộ gia đình và cộng đồng nhằm khuyến khích bảo vệ và phát triển rừng, tạo thu nhập cho người dân (McElwee, 2016). Việc giao rừng cho hộ gia đình thường diễn ra với diện tích khá nhỏ, khoảng 0,5 - 2 ha mỗi hộ. Điều này khiến nhiều hộ gia đình không có thu nhập ổn định từ rừng (Nguyễn Hoàng Khánh Linh và cộng sự, 2020). Trong nghiên cứu về chính sách GĐGR ở vùng Tây Bắc Việt Nam, Sikor (2001) cho thấy, việc mở rộng diện tích rừng trong giai đoạn những năm 1990 chủ yếu liên quan đến thay đổi thị trường nông sản và công nghệ nông nghiệp hơn là chính sách GĐGR. Ngoài ra, các nghiên cứu về thể chế cũng cho thấy sự hạn chế trong năng lực quản trị của chính sách giao rừng. Hệ thống quyền tài sản chưa rõ ràng, sự phối hợp giữa các cơ quan quản lý còn yếu và nguồn lực thực thi chính sách còn thiếu (Dang et al, 2017).

Nghiên cứu ở vùng núi miền Trung cho thấy tác động của chính sách GĐGR với sinh kế của người nghèo trong chuyển đổi đất nông nghiệp sang đất lâm nghiệp đã làm giảm diện tích đất sản xuất và tăng rủi ro sinh kế cho các hộ nghèo. Mặc dù, chính sách GĐGR ở vùng DTTS tại Việt Nam nhằm cải thiện sinh kế và bảo vệ rừng, nhưng bị phê phán vì ưu tiên phân bổ đất cho các doanh nghiệp lâm nghiệp nhà nước, làm thu hẹp quỹ đất của hộ dân và gây ra xung đột đất đai kéo dài (To & Tran, 2015). Đồng thời, nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng chính sách này làm suy giảm quyền tiếp cận tài nguyên truyền thống và an ninh sinh kế của người DTTS, do thiếu đất sản xuất và quyền sử dụng rừng bị hạn chế (Bayrak et al., 2013). Bên cạnh đó, quá trình thực thi còn mang tính từ trên xuống, với mức độ tham gia thấp của cộng đồng, dẫn đến hiệu quả quản lý rừng và động lực bảo vệ rừng chưa đạt như kỳ vọng (Nguyen et al., 2020).

Nghiên cứu của Ủy ban Dân tộc (2020) cho thấy GĐGR cho hộ gia đình vẫn diễn ra chậm và là thực trạng phổ biến ở nhiều địa phương. Tỷ lệ diện tích rừng và đất lâm nghiệp đã giao cho hộ gia đình, cá nhân còn thấp, như tại Hà Giang cũ (nay thuộc tỉnh Tuyên Quang) đạt 35,17%, Nghệ An 19,44%, Quảng Nam cũ 12,98% và Điện Biên chỉ 1,31% tổng diện tích đất lâm nghiệp của địa phương. Theo Quyết định số 638/QĐ-UBND ngày 28/02/2024 của Ủy ban nhân dân tỉnh Đắk Lắk (cũ) thì trong tổng số 434.264 ha rừng sản xuất và đất ngoài quy hoạch lâm nghiệp vẫn còn 108.137,4 ha chưa được giao hoặc cho thuê. Kết quả điều tra tại 9 tỉnh cho thấy chỉ có 5 tỉnh thực hiện giao đất lâm nghiệp cho đồng bào DTTS; trong đó, Bắc Kạn cũ và Nghệ An là những địa phương có diện tích rừng sản xuất được giao tương đối lớn, còn phần lớn các tỉnh chủ yếu giao rừng phòng hộ (Ủy ban Dân tộc, 2020). Tương tự, tại vùng người Cơ-tu, diện tích đất lâm nghiệp giao cho hộ gia đình chỉ chiếm 9,72% tổng diện tích đất lâm nghiệp toàn xã (Lê Ngọc Phương Quý và cộng sự, 2021); diện tích bình quân ở nhiều vùng DTTS chỉ khoảng 0,76 ha/hộ (Sikor, 2011).

Mặc dù có nhiều nghiên cứu về chính sách GĐGR ở Việt Nam, song vẫn còn một số nội dung chưa được nghiên cứu sâu. Thứ nhất, còn ít phân tích về bất bình đẳng trong phân bổ tài nguyên rừng giữa các nhóm xã hội, đặc biệt giữa cán bộ địa phương, doanh nghiệp lâm nghiệp và các hộ DTTS. Thứ hai, phần lớn các nghiên cứu hiện nay tập trung vào trường hợp địa phương, trong khi thiếu các nghiên cứu so sánh liên vùng. Thứ ba, cần có thêm các nghiên cứu phân tích mối quan hệ giữa chính sách GĐGR, quyền tài sản và điều kiện tự nhiên, kinh tế, văn hóa, xã hội của địa phương nhằm hiểu rõ hơn vì sao nhiều cộng đồng DTTS vẫn chưa hưởng lợi đầy đủ từ chính sách này. Mục tiêu của bài viết nhằm giới thiệu nghiên cứu trường hợp để chỉ ra một số bất bình đẳng, bất hợp lý trong quá trình triển khai chính sách GĐGR đặt trong sự so sánh với bối cảnh của một vùng DTTS cụ thể.

2. Kết quả nghiên cứu và thảo luận

2.1. Thực trạng giao đất, giao rừng tại điểm nghiên cứu


Năm 2020, tỷ lệ diện tích đất rừng sản xuất giao cho hộ gia đình ở Quảng Bình (cũ) chỉ đạt 2,5% và phần lớn diện tích đất rừng sản xuất được giao cho các Ban quản lý, công ty lâm nghiệp, Uỷ ban nhân dân xã. Thảo luận nhóm với lãnh đạo hai xã Kim Thủy và Trường Sơn cho thấy, việc GĐGR cho hộ gia đình quản lý được triển khai trên diện rộng từ năm 2005 với định mức 0,25 ha/người. Tính đến đầu năm 2025, có khoảng 70% hộ người Bru-Vân Kiều ở xã Kim Thủy đã được giao đất rừng sản xuất, nhưng chỉ có 15% được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Tại xã Trường Sơn, trong số 75% hộ Bru-Vân Kiều được cấp đất, chỉ khoảng 20% có giấy chứng nhận. Lãnh đạo các bản được khảo sát cho biết, tỷ lệ hộ gia đình được giao đất rừng sản xuất khá thấp, cụ thể mỗi hộ nhận được từ 0,5 – 1 ha (đa số) đến 3ha (số ít). Tại bản Mít Cát, trong tổng số 80 hộ, chỉ có 20 hộ được giao đất rừng sản xuất. Tỷ lệ này khá tương đồng ở 3 bản còn lại: bản Hà Lẹc: 32/59 hộ; bản Sắt: 6/34 hộ; bản Khe Cát :87/106 hộ. Trong khi đó, diện tích đất rừng giao cho cộng đồng quản lý lại khá cao: bản Khe Cát là 250 ha; bản Sắt là 148 ha và Mít Cát với 155 ha. Bản Hà Lẹc nằm ở vùng thấp, bao quanh bởi diện tích rừng thuộc quyền quản lý của Ban Quản lý Khu dự trữ thiên nhiên Động Châu - Khe Nước Trong. Có thể thấy, diện tích đất rừng sản xuất giao cho hộ gia đình quản lý, sử dụng thấp hơn nhiều so với mức tối đa là 30ha mà Luật Đất đai hiện hành đưa ra.

   Kết quả thảo luận nhóm và phỏng vấn sâu người Bru - Vân Kiều tại xã Trường Sơn cho thấy cơ cấu thu nhập của các hộ gia đình ở bản Sắt và Khe Cát chủ yếu đến từ đi làm ăn xa hoặc lao động làm thuê tại địa phương (khoảng 60%), tiếp đến là sản xuất cây lương thực, hoa màu và chăn nuôi (30%), trong khi thu nhập từ trồng keo trên diện tích rừng sản xuất được giao chỉ chiếm khoảng 10%. Đây là tỷ lệ được nhiều người dân, lãnh đạo thôn bản và lãnh đạo xã đồng thuận trong các cuộc thảo luận. Keo là loại cây được trồng phổ biến trên diện tích rừng sản xuất được giao. Sau khoảng 6 năm, mỗi hecta keo cho nguồn thu khoảng 30 triệu đồng. Tuy nhiên, nếu phân bổ cho toàn bộ chu kỳ sản xuất, thu nhập bình quân chỉ đạt khoảng 5 triệu đồng/năm, tương đương khoảng 417.000 đồng/tháng. Với hộ gia đình bốn nhân khẩu, mức thu nhập này chỉ khoảng 104.000 đồng/người/tháng, thấp hơn nhiều so với chuẩn nghèo khu vực nông thôn hiện nay. Vì vậy, dù không đòi hỏi nhiều công chăm sóc, rừng keo chủ yếu được người dân xem như một khoản tích lũy dài hạn để đáp ứng các nhu cầu chi tiêu lớn hơn là nguồn sinh kế thường xuyên.

Trong khi đó, theo ước tính của cán bộ huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình (cũ), thu nhập từ 1ha keo đạt khoảng 45 - 60 triệu đồng, thậm chí có nghiên cứu cho rằng có thể vượt 100 triệu đồng/ha (Nguyễn Văn Phú và cộng sự, 2020). Thực tế con số này chủ yếu phản ánh doanh thu bán gỗ mà chưa tính đầy đủ chi phí đầu vào như giống, phân bón và công lao động. Hơn nữa, hiệu quả kinh tế của rừng keo phụ thuộc lớn vào điều kiện tự nhiên và khả năng tiếp cận thị trường. Các diện tích rừng nằm trên địa hình dốc, xa đường giao thông thường phải chịu chi phí khai thác, vận chuyển cao hơn nên giá bán tại rừng thấp hơn đáng kể so với các khu vực có điều kiện thuận lợi.

Do quy mô sản xuất nhỏ lẻ, thiếu phương tiện vận chuyển và không tiếp cận trực tiếp được với các nhà máy chế biến, phần lớn hộ gia đình phải phụ thuộc vào thương lái trong khâu tiêu thụ. Việc mua bán thường được thực hiện theo hình thức ước lượng giá trị lô rừng, trong khi toàn bộ hoạt động khai thác và vận chuyển do thương lái đảm nhận, khiến người dân ở vị thế yếu trong quá trình thương lượng giá. Theo người dân, mức giá thực nhận năm 2025 chỉ khoảng 30 triệu đồng/ha. Họ cũng cho rằng các con số này có thể được tính dựa trên giá thu mua tại nhà máy hoặc được trích dẫn từ các báo cáo hành chính mang tính tổng hợp. Một số trường hợp cũng có thể dựa trên các mô hình trồng keo lai ở khu vực địa hình thấp, thuận lợi cho cơ giới hóa, khai thác và vận chuyển, trong khi phần lớn diện tích rừng của người Bru - Vân Kiều nằm ở địa hình đồi núi dốc, xa đường giao thông và có chi phí khai thác cao hơn đáng kể.

Có nhiều nguyên nhân chính dẫn đến thực trạng thu nhập của hộ gia đình từ rừng sản xuất thấp, bởi phần lớn diện tích rừng do doanh nghiệp quản lý, diện tích giao cho dân chỉ mang tính tượng trưng, điều này phù hợp với một số kết quả nghiên cứu trước đó (Ủy ban Dân tộc, 2020). Theo Luật Đất đai (từ 2013 đến nay), diện tích đất rừng sản xuất tối đa có thể giao cho một hộ gia đình là 30 ha nhưng diện tích trung bình thực tế các hộ người Bru - Vân Kiều ở hai xã Kim Thủy và Trường Sơn nhận được chỉ bằng 1/30 so với mức tối đa mà Luật Đất đai đưa ra, trung bình mỗi hộ khoảng 1ha rừng. Kết quả thảo luận nhóm với lãnh đạo các bản Hà Lẹc, Mít Cát, Khe Cát cho thấy, hộ được giao nhiều đất rừng sản xuất nhất là 5 ha và tại mỗi bản chỉ có một vài hộ nhận được định mức khoán này, khoảng 10% hộ trong bản nhận được 2 ha. Trong khi đó, tại hai xã Kim Thủy và Trường Sơn, phần lớn diện tích rừng sản xuất lại do các công ty lâm nghiệp hoặc Ban Quản lý rừng phòng hộ quản lý.

Ở xã Trường Sơn, trong tổng số khoảng 77.500 ha đất rừng, chỉ có khoảng 400ha được giao cho các hộ gia đình trong khi phần lớn diện tích còn lại do Công ty Trách nhiệm hữu hạn một thành viên Lâm Công nghiệp Long Đại (Công ty TNHH MTV LCN Long Đại) quản lý. Tình trạng tương tự cũng diễn ra tại xã Kim Thủy, nơi có khoảng 48.000 ha rừng sản xuất nhưng chỉ khoảng 4.000 ha thuộc quyền quản lý của chính quyền xã và các hộ dân địa phương. Do quản lý diện tích lớn, các công ty lâm nghiệp thường thuê lao động tại chỗ cho việc trồng, phát cỏ, bón phân và khai thác rừng keo. Điều này tạo ra một nghịch lý: nhiều hộ người Bru-Vân Kiều có rất ít đất rừng sản xuất, trong khi phần lớn diện tích lại được giao cho các tổ chức bên ngoài nhưng thường không đủ năng lực khai thác hiệu quả. Sự chênh lệch về diện tích này cũng đã được chỉ ra ở phạm vị toàn tỉnh Quảng Bình (cũ) tại nghiên cứu gần đây của Trần Thị Tuyết, Phạm Mạnh Hà (2021).

Thực trạng trên dẫn đến việc thực hiện mục tiêu tạo việc làm, tăng thu nhập, phát triển sinh kế cho người dân kết hợp với công tác bảo vệ rừng của chính sách GĐGR chưa đạt được kết quả như kỳ vọng. Diện tích được giao quá nhỏ khiến người dân chưa có động lực để đầu tư. Họ phải trồng, chăm sóc và thu hoạch keo thuê cho các doanh nghiệp lâm nghiệp trên chính mảnh đất đã sinh sống nhiều đời. Hầu hết những người dân khi được phỏng vấn đều thừa nhận thu nhập từ rừng sản xuất là “không đáng kể”. Họ trồng keo chỉ vì “đất được chính phủ giao thì phải cach tác; người ta trồng thì mình cũng trồng” hay bị chi phối nỗi sợ bị đánh giá là “lười, không biết làm ăn”. Thực trạng này cũng là tác nhân quan trọng thúc đẩy quá trình di cư lao động ở vùng DTTS, vùng biên giới nước ta.

2.2. Thiếu công bằng và sự linh hoạt trong giao đất, giao rừng cho người dân

Tại bản Sắt, xã Trường Sơn, tính đến cuối năm 2024, chỉ có 6/34 hộ, được giao đất rừng sản xuất nằm quanh khu vực cư trú, tiện cho việc trồng, chăm sóc và khai thác. Những hộ còn lại được chính quyền địa phương đề nghị cấp cho diện tích cách bản gần 20km, không có đường ô tô. Điều đó khiến các hộ dân này cương quyết từ chối không nhận và đề nghị chính quyền cấp đất ở khu vực gần bản hơn, có đường cho xe tải tiếp cận để thu mua keo sau này. Do địa hình có độ dốc cao, lối mòn đi lại nhỏ, việc vận chuyển giống, phân bón hay nông - lâm sản bằng xe máy cũng rất khó khăn, đặc biệt trong mùa mưa. Hơn nữa, việc nằm quá xa khu vực cư trú khiến người dân gặp khó khăn trong chăm sóc, bảo vệ hay thu hoạch cây trồng một cách hiệu quả (xem thêm Nguyễn Công Thảo, 2024). Trong số 6 hộ đã được giao đất rừng, thì tất cả đều là cán bộ bản đương nhiệm hoặc cán bộ từ các khóa trước hay họ hàng thân thiết của lãnh đạo bản. Sự “tình cờ” này khiến nhiều người dân trong bản cho rằng họ bị đối xử “không công bằng”. Diện tích “rừng tốt” thì dành cho cán bộ và người dân nghèo khổ như họ thì chỉ nhận được “rừng xấu”. Thực trạng này tương đồng với những gì được ghi nhận ở khu vực Đông Bắc, nơi “đa số hộ có kinh tế khá giả, có lao động lại được giao diện tích rừng lớn; hộ nghèo, ít lao động, những cặp vợ chồng trẻ, hộ có 1 - 2 con tách hộ vào thời gian này không còn quỹ đất rừng để giao” (Trần Văn Hà, 2021, tr.11).

Trong khi đó, nhiều diện tích rừng nằm sát các bản người Bru - Vân Kiều ở hai xã Kim Thủy và Trường Sơn lại thuộc quyền quản lý của Công ty TNHH MTV LCN Long Đại hoặc Ban Quản lý rừng phòng hộ Động Châu. Theo người dân, sẽ công bằng hơn nếu diện tích rừng gần bản được ưu tiên cấp cho các hộ gia đình chính sách như: hộ nghèo, hộ có con nhỏ/ người già, hộ thiếu đất canh tác. Các công ty lâm nghiệp có trụ sở ở trung tâm tỉnh, sở hữu phương tiện và máy móc phục vụ sản xuất nên không gặp nhiều trở ngại về khoảng cách địa lý; hơn nữa, các đơn vị này cũng thường thuê lao động địa phương trong các khâu trồng, chăm sóc và khai thác rừng trụ sở tại trung tâm tỉnh, sở hữu phương tiện, máy móc phục vụ sản xuất nên khoảng cách địa lý không phải là trở ngại đáng kể đối với hoạt động quản lý và khai thác rừng. Đồng thời, cũng thường thuê người địa phương trồng, chăm sóc và thu hoạch. Vì vậy, một bộ phận người dân cho rằng cơ chế giao rừng hiện nay đang ưu tiên doanh nghiệp hơn cộng đồng địa phương.

   Sự khác biệt không chỉ về vị trí rừng được giao mà cả diện tích được giao. Như đã trình bày ở phần trước, diện tích rừng sản xuất trung bình mà các hộ gia đình người Bru - Vân Kiều ở 2 xã được giao chỉ ở mức 1 ha, trong khi một số hộ có từ 3 - 5 ha (xem thêm Nguyễn Công Thảo, 2024). Thực trạng diện tích rừng giao cho các hộ gia đình không đồng đều cũng được ghi nhận qua một nghiên cứu ở Quảng Trị (Nguyễn Hoàng Khánh Linh và cộng sự, 2020; Trần Văn Hà, 2021). Những người được phỏng vấn ở hai xã Kim Thủy và Trường Sơn bày tỏ sự không hài lòng vì họ được giao ít đất rừng sản xuất hơn so với một số hộ khác dù số nhân khẩu ở những hộ đó thậm chí ít hơn. Điều kiện kinh tế cũng không phải là nguyên nhân giúp lý giải thực trạng này vì đa phần hộ nhận được giao nhiều đất rừng lại là hộ khá giả chứ không phải hộ nghèo, theo như cách nghĩ thông thường của họ. Trong khi lãnh đạo cấp thôn bản, xã cho rằng khác biệt đó do thời điểm đăng ký nhận giao đất rừng sản xuất, có hộ đăng ký nhiều, hộ đăng ký ít. Cách giải thích này không được người dân thấy thỏa đáng bởi họ khẳng định luôn muốn có nhiều diện tích rừng hơn để đa dạng hóa cây trồng, trong đó kết hợp cây keo dài ngày với các cây trồng ngắn hạn như sắn, ngô hay các cây lâu năm khác. Đối với người dân ở 4 bản Hà Lẹc, Mít Cát, Sắt và Khe Ngang, đất rừng sản xuất đặc biệt có ý nghĩa bởi diện tích đất lúa nước, đất nông nghiệp khác trên địa bàn họ cư trú rất ít, chưa đủ đảm bảo an ninh lương thực cho hộ gia đình.

Do đặc điểm địa hình của vùng cao và yếu tố lịch sử, không gian sản xuất của một thôn bản có thể không trùng với ranh giới không gian cư trú. Người dân sống ở bản A có thể có đất sản xuất ở bản B và ngược lại. Theo hồi cố của người cao tuổi tại hai xã Kim Thủy và Trường Sơn, trước năm 2000, họ thường làm nương rẫy trên đất rừng thuộc địa giới hành chính của xã khác nhưng lại gần nơi họ cư trú. Sau những biến động về tách hay sáp nhập xã, họ vẫn canh tác trên những diện tích này và không hề được cấp đất ở xã mới. Thực trạng này khá rõ nét với người Bru - Vân Kiều ở bản Mít Cát. Về mặt hành chính, một bộ phận dân bản có hộ khẩu thường trú ở xã Kim Thủy nhưng lại canh tác nương trên địa giới của xã Lâm Thủy qua nhiều thế hệ. Khi triển khai giao đất rừng sản xuất cho người dân, chính quyền xã Lâm Thủy không thừa nhận tính hợp pháp của diện tích rừng này do những hộ dân canh tác không có hộ khẩu thường trú tại xã. Điều đó khiến những hộ dân này không thể xin xác nhận nguồn gốc gỗ từ chính quyền xã Lâm Thủy để bán cây keo khi thu hoạch. Trong khi đó, chính quyền xã Kim Thủy cũng không giao đất rừng sản xuất cho họ với lý do “những hộ đó đã có đất”. Trong hơn 10 năm qua, các hộ dân này đã đề xuất xin chuyển đổi diện tích rừng này lấy diện tích tương đương tại xã Kim Thủy nhưng chưa được giải quyết. Chính sự cứng nhắc này cũng dẫn đến câu chuyện 28 hộ ở bản Sắt được giao diện tích rừng cách nơi ở hàng chục km (nhưng vẫn thuộc địa bàn xã, trong khi diện tích ở gần lại thuộc xã khác) như đã trình bày ở phần trước. Sự thiếu linh hoạt cũng thể hiện ở việc dàn trải số hộ được giao đất rừng sản xuất. Chính quyền hai xã Kim Thủy và Trường Sơn thể hiện mong muốn, quyết tâm giao đất rừng cho 100% hộ dân người Bru - Vân Kiều. Tuy nhiên, nhiều hộ dân cho rằng chủ trương này không hợp lý bởi cần phải căn cứ theo mong muốn, nguồn lực của từng hộ gia đình. Để đảm bảo hiệu quả và hợp lý, cần căn cứ theo số người trong độ tuổi lao động đang sống thực tế ở địa phương và kinh nghiệm trồng rừng. Hơn nữa, họ cho rằng sẽ hiệu quả hơn nếu tập trung giao luân phiên đất rừng sản xuất cho một nhóm hộ gia đình tại mỗi bản trong 6 năm. Như thế, mỗi hộ có thể được giao hàng chục ha như định mức của Luật Đất đai, tạo ra nguồn thu nhập đáng kể cho nhóm hộ gia đình này trước khi chuyển giao cho nhóm khác theo một chu kỳ 6 năm mới.

Thêm vào đó, nhiều hộ được giao đất rừng sản xuất nhưng chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Con số này, theo ước tính của lãnh đạo bản Mít Cát lên đến gần 90%. Tại bản Hà Lẹc, trong tổng số 59 hộ được giao 80 ha đất rừng sản xuất, chỉ 20 hộ có sổ đỏ. Kết quả phỏng vấn sâu cho thấy, đa phần các hộ người Bru - Vân Kiều không hiểu các thủ tục cần thiết phải thực hiện để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đối với diện tích đất rừng gia đình đã canh tác trong nhiều năm. Điều đó khiến họ không yên tâm đầu tư trồng cây lấy gỗ lâu năm vì e sợ đất có thể bị thu hồi bất cứ lúc nào. Trong khi đó, chính quyền xã khẳng định không có đủ nhân lực để hỗ trợ người dân hoàn thiện tất cả các thủ tục hành chính. Họ chỉ có thể tư vấn về mặt kỹ thuật, pháp lý chứ không thể làm thay. Việc không có sổ đỏ cũng khiến họ không thể thế chấp để vay vốn, đầu tư sản xuất. Thêm vào đó, theo quy định, các hộ khi khai thác, bán cây gỗ cần làm bảng kê khai khối lượng, địa điểm khai thác để xin Ủy ban Nhân dân xã hoặc Hạt Kiểm lâm địa bàn xác nhận nhằm chứng minh nguồn gốc, đặc biệt khi vận chuyển đi xa.

   Một minh chứng khác cho sự thiếu linh hoạt trong chính sách giao đất rừng sản xuất là chậm điều chỉnh về thể chế quản lý rừng. Hầu hết diện tích rừng vùng thấp ở xã Kim Thủy nói chung, bản Mít Cát nói riêng được giao cho Ban Quản lý Khu dự trữ thiên nhiên Động Châu - Khe Nước Trong quản lý từ năm 2020. Trong khi đó, diện tích đất rừng sản xuất ở khu cao hơn được giao cho Công ty TNHH MTV LCN Long Đại. Tuy nhiên, diện tích được giao cho 2 chủ thể quản lý này lại bao gồm cả diện tích mà người Bru - Vân Kiều ở đây đã trồng keo hay cây lương thực như ngô, sắn, khoai trong nhiều năm trước đó. Mặc dù hai chủ thể này đã phát hiện sự chồng lấn ranh giới khi tiến hành kiểm đếm, xác định địa giới thực tế nhưng việc điều chỉnh diện tích quản lý không được tiến hành. Điều đó cũng khiến người dân không thể khai thác gỗ keo để bán do chính quyền xã hay Hạt Kiểm lâm địa phương không thể xác nhận tính hợp pháp của nguồn gỗ này bởi về mặt pháp lý, chúng được trồng trên đất rừng của chủ thể khác.

2.3. Xu thế thương mại hóa đất rừng sản xuất

Về mặt pháp lý, việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất rừng sản xuất được pháp luật cho phép. Luật Đất đai năm 2024 xác định người sử dụng đất được phép chuyển nhượng quyền sử dụng đất khi: (i) Có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCN QSDĐ) hoặc đủ điều kiện cấp giấy chứng nhận (GCN); (ii) Đất không có tranh chấp hoặc tranh chấp đã được giải quyết bởi cơ quan có thẩm quyền; (iii) Quyền sử dụng đất không bị kê biên để bảo đảm thi hành án; (iv) Trong thời hạn sử dụng đất theo quy định. Ngoài ra, Nghị định số 102/2024/NĐ-CP ngày 30/7/2024 của Chính phủ hướng dẫn chi tiết rằng, đối với đất rừng sản xuất, việc chuyển nhượng phải đảm bảo không làm thay đổi mục đích sử dụng đất (tức là người nhận chuyển nhượng phải tiếp tục sử dụng làm rừng sản xuất) và không thuộc diện đất rừng phòng hộ hoặc rừng đặc dụng bị hạn chế chuyển nhượng. Tuy nhiên, ở vùng biên giới, vùng đồng bào DTTS, hoạt động này tiềm ẩn nhiều rủi ro bởi đa số diện tích đất này chưa được cấp GCN QSDĐ; ranh giới giữa các khu đất chưa được xác định rõ ràng nên dễ dẫn đến tranh chấp giữa các chủ sở hữu hay khiếu kiện giữa người mua và người bán. Chính quyền địa phương không nắm bắt được số giao dịch cụ thể do chúng diễn ra dưới thỏa thuận bằng lời, không có hợp đồng chuyển nhượng. Thực trạng này cũng có thể dẫn đến việc tích tụ diện tích đất rừng sản xuất trong tay một số hộ khá giả hay nhóm tộc người khác đến từ bên ngoài (Ủy ban Dân tộc, 2020).

Dù chính quyền hai xã hay lãnh đạo 4 thôn bản không có số liệu chính thức nhưng họ thừa nhận có việc “mua bán” (chuyển nhượng quyền sử dụng) đất rừng sản xuất ở một số hộ, nhất là ở bản Mít Cát và Hà Lẹc. Người bán thường là các hộ nghèo người Bru - Vân Kiều. Họ phải bán đất rừng khi gia đình có người ốm, cần khoản tiền mặt lớn để chữa trị. Hầu hết đối tượng mua là người Kinh đến từ ngoài bản và việc mua bán chỉ qua thỏa thuận miệng hoặc giấy viết tay, không có xác nhận từ chính quyền địa phương. Điều đáng lưu tâm là hoạt động giao dịch này diễn ra ngay cả với những hộ chưa được cấp GCN QSDĐ cũng như chưa được xác nhận đủ điều kiện để được cấp GCN. Chính quyền địa phương thừa nhận khó kiểm soát tình trạng này do việc mua bán diễn ra ngầm, không công khai. Thực tế này không chỉ làm gia tăng tình trạng thiếu đất sản xuất, ảnh hưởng đến an ninh lương thực của người Bru - Vân Kiều mà còn tiềm ẩn nguy cơ phát sinh tranh chấp đất đai trong tương lai; đồng thời có thể gián tiếp thúc đẩy các hoạt động phá rừng trái phép nhằm mở rộng diện tích canh tác, như đã được nhiều nghiên cứu chỉ ra.

2.4. Một số giải pháp nhằm phát huy hiệu quả của chính sách giao đất, giao rừng

Từ kết quả nghiên cứu tại hai xã Kim Thủy và Trường Sơn, có thể thấy những hạn chế của chính sách GĐGR hiện nay không chỉ xuất phát từ khung pháp lý mà còn liên quan đến cách thức triển khai ở cấp cơ sở. Để nâng cao hiệu quả kinh tế, xã hội và môi trường của chính sách này, cần chú ý một số giải pháp sau:

Thứ nhất, cần tiến hành điều tra, rà soát tổng thể hiện trạng đất rừng và xác định rõ ranh giới quản lý giữa các chủ thể sử dụng đất. Trên thực tế, nhiều diện tích rừng hiện đang tồn tại tình trạng chồng lấn giữa hộ gia đình, công ty lâm nghiệp và Ban Quản lý rừng phòng hộ. Việc thiếu bản đồ địa giới rõ ràng không chỉ làm phát sinh tranh chấp mà còn khiến người dân gặp khó khăn trong khai thác, vận chuyển và xác nhận nguồn gốc lâm sản. Vì vậy, việc đo đạc, cắm mốc và xây dựng cơ sở dữ liệu đất rừng thống nhất là yêu cầu cần thiết nhằm tạo nền tảng cho quản trị rừng minh bạch và hiệu quả hơn.

Thứ hai, cần điều chỉnh cơ cấu chủ thể quản lý rừng theo hướng tăng diện tích đất rừng sản xuất giao cho hộ gia đình và cộng đồng địa phương, đặc biệt tại các khu vực nằm gần nơi cư trú của người dân. Thực tế nghiên cứu cho thấy, phần lớn diện tích rừng thuận lợi hiện vẫn thuộc quyền quản lý của các doanh nghiệp lâm nghiệp hoặc Ban Quản lý rừng phòng hộ, trong khi nhiều hộ dân chỉ được giao diện tích nhỏ, ở xa khu dân cư và khó tiếp cận. Điều này làm giảm động lực đầu tư sản xuất và hạn chế khả năng cải thiện sinh kế từ rừng. Do đó, cần ưu tiên giao đất cho các hộ thiếu đất sản xuất, hộ nghèo hoặc các nhóm dễ bị tổn thương nhằm bảo đảm tính công bằng trong tiếp cận tài nguyên.

Thứ ba, chính sách giao đất rừng sản xuất cần được triển khai theo hướng linh hoạt và phù hợp hơn với điều kiện tự nhiên, lịch sử cư trú và tập quán canh tác của cộng đồng DTTS. Ở nhiều địa phương miền núi, không gian sản xuất truyền thống của người dân không hoàn toàn trùng với ranh giới hành chính hiện nay. Vì vậy, cần cho phép điều chỉnh hoặc hoán đổi diện tích đất rừng giữa các xã giáp ranh trong những trường hợp hợp lý, tránh tình trạng người dân có đất canh tác truyền thống nhưng không được công nhận quyền sử dụng hợp pháp. Đồng thời, cũng cần nghiên cứu thí điểm mô hình giao đất tập trung cho một nhóm hộ trong một chu kỳ sản xuất nhất định nhằm tạo ra quy mô đủ lớn để phát triển kinh tế lâm nghiệp hiệu quả hơn. Chính vì thế, tôi cho rằng cần có sự linh hoạt trong xác định phạm vi địa giới giao đất rừng sản xuất ở miền núi, đặc biệt là vùng DTTS.

Thứ tư, việc giao đất rừng phải đi đôi với cấp GCN QSDĐ và hỗ trợ thủ tục hành chính cho người dân. Hiện nay, nhiều hộ gia đình đã được giao đất nhưng chưa được cấp sổ đỏ, dẫn đến tâm lý thiếu an tâm trong đầu tư dài hạn và khó tiếp cận nguồn vốn tín dụng. Trong bối cảnh phần lớn người DTTS hạn chế về khả năng tiếp cận thủ tục hành chính, chính quyền địa phương cần đóng vai trò chủ động hơn trong hướng dẫn, hỗ trợ hoàn thiện hồ sơ và xác nhận quyền sử dụng đất cho người dân.

Thứ năm, cần tăng cường giám sát quá trình chuyển nhượng quyền sử dụng đất rừng sản xuất nhằm hạn chế nguy cơ tích tụ đất đai và bất bình đẳng trong tiếp cận tài nguyên. Dù pháp luật cho phép chuyển nhượng quyền sử dụng đất rừng sản xuất, nhưng tại vùng DTTS, nhiều giao dịch hiện vẫn diễn ra không chính thức, tiềm ẩn nguy cơ tranh chấp và làm mất đất sản xuất của các hộ nghèo. Do đó, chính quyền địa phương cần xây dựng cơ chế theo dõi, quản lý và hỗ trợ pháp lý đối với các giao dịch liên quan đến đất rừng nhằm bảo vệ quyền lợi của người dân địa phương.

3. Kết luận

Chính sách giao đất, giao rừng ở Việt Nam được kỳ vọng sẽ góp phần bảo vệ tài nguyên rừng, thúc đẩy phát triển sinh kế và nâng cao vai trò của cộng đồng địa phương trong quản lý tài nguyên thiên nhiên. Tuy nhiên, kết quả nghiên cứu tại hai xã Kim Thủy và Trường Sơn cho thấy quá trình triển khai chính sách này vẫn còn nhiều hạn chế, đặc biệt DTTS ở vùng miền núi. Diện tích đất rừng sản xuất giao cho hộ gia đình còn quá nhỏ, phân bổ chưa công bằng và thiếu phù hợp với điều kiện thực tế khiến hiệu quả kinh tế từ rừng không cao. Trong khi phần lớn diện tích rừng thuận lợi vẫn do các doanh nghiệp hoặc Ban Quản lý nhà nước nắm giữ, nhiều hộ người Bru - Vân Kiều chỉ được giao diện tích nhỏ, xa nơi cư trú hoặc chưa được cấp GCN QSDĐ. Điều này làm giảm động lực đầu tư, hạn chế khả năng phát triển sinh kế từ kinh tế rừng và góp phần thúc đẩy xu hướng di cư lao động ở địa phương. Bên cạnh đó, sự thiếu linh hoạt trong xác định địa giới giao đất, việc chậm điều chỉnh chủ thể quản lý rừng cũng như xu hướng thương mại hóa đất rừng sản xuất đang làm gia tăng nguy cơ bất bình đẳng và phát sinh tranh chấp tài nguyên trong cộng đồng.

Kết quả nghiên cứu cho thấy, hiệu quả của chính sách GĐGR không chỉ phụ thuộc vào khung pháp lý mà còn phụ thuộc rất lớn vào cách thức thực thi ở cấp cơ sở và mức độ phù hợp với điều kiện tự nhiên, kinh tế, văn hóa và xã hội của từng địa phương. Vì vậy, để chính sách này thực sự góp phần cải thiện sinh kế cho người dân và nâng cao hiệu quả quản lý rừng, cần có những điều chỉnh theo hướng tăng cường tính công bằng, linh hoạt và phù hợp với nhu cầu thực tế của cộng đồng DTTS./.

Tài liệu tham khảo

1.    Agrawal, A., & Ostrom, E. (2001). Collective action, property rights, and decentralization in resource use in India and Nepal. Politics & Society, 29 (4), pp. 485–514. https://doi.org/10.1177/0032329201029004002

2.   Barney, K. (2009). Laos and the making of a “relational” resource frontier. The Geographical Journal, 175 (2), pp. 146-159.

3.    Bayrak, M. M., Tran, N. T., & Burgers, P. (2013). Restructuring space in the name of development: The socio-cultural impact of the Forest Land Allocation Program in Vietnam. Journal of Political Ecology, 20 (1), pp. 36-52.

4.    Dang, T. K. P., Visseren-Hamakers, I. J., & Arts, B. (2017). The institutional capacity for forest devolution: The case of forest land allocation in Vietnam. Development Policy Review, 35 (6), pp. 723-744. https://doi.org/10.1111/dpr.12251

5.    Dressler, W. H., Büscher, B., Schoon, M., et al. (2017). From hope to crisis and back again? A critical history of the global CBNRM narrative. Environmental Conservation, 44 (3), pp. 276-286.

6.    Fujita, Y., & Phanvilay, K. (2008). Land and forest allocation in Lao People’s Democratic Republic: Comparison of case studies from community-based natural resource management research. Society & Natural Resources, 21 (2), pp. 120-133.

7.    Gilmour, D. (2016). Forty years of community forestry: A review of its extent and effectiveness.  FAO. Forestry Paper 176

8.  Larson, M. Anne, & Jesse C. Ribot. (2007). Democratic decentralisation through a natural resource lens: An introduction. European Journal of Development Research, 19 (4), pp. 529-540. https://doi.org/10.1080/09578810701667507

9.    Lê Ngọc Phương Quý, Mai Văn & Thùy Vy. (2021). Tình hình thực hiện giao đất lâm nghiệp cho đồng bào DTTS Cơ Tu trên địa bàn xã Cà Dy, huyện Nam Giang, tỉnh Quảng Nam. Tạp chí Khoa học Đại học Huế: Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, 130 (3A), pp. 67-78. https://doi.org/10.26459/hueunijard.v130i3A.5948

10.    Liu, Y., & Ren, Y. (2020). Collective forest tenure reform and household energy consumption: A case study in Yunnan Province, China. China Economic Review, 60, 101134.

11.    McElwee, P. (2016). Forests are gold: Trees, People, and Environmental Rule in Vietnam. University of Washington Press.

12.    Moira Moeliono, Pham Thu Thuy, Indah Waty Bong, Grace Yee Wong, & Maria Brockhaus (2017). Social forestry - Why and for whom? A comparison of policies in Vietnam and Indonesia. Forest and Society, 1 (2), pp. 78-97. https://doi.org/10.24259/fs.v1i2.2484

13.    Nguyen Hoang Khanh Linh, Nguyen Quang Tan, Nguyen Thi Dieu Loan, Nguyen Le Dai Trang & Nguyen Vu Bao Chi. (2020). Understanding from policy to reality in implementation of forest land allocation: Insights from two case studies in Quang Tri province, Vietnam. Hue University Journal of Science: Agriculture and Rural Development, 129 (3C), pp. 55-72.

14.    Nguyễn Công Thảo (2024). Chính sách hỗ trợ phòng chống thiên tai ở một xã biên giới tỉnh Quảng Bình: thực tiễn và bài học kinh nghiệm. Tạp chí Dân tộc học, Số 4, tr. 15 - 29.

15.    Nguyễn Văn Phú, Trần Quang Bảo, & Lã Nguyên Khang (2020). Hiệu quả kinh tế và xã hội rừng trồng keo lai AI (Acacia hybrid) tại tỉnh Đồng Nai. Tạp chí Khoa học và Công nghệ Lâm nghiệp, (3), tr. 105-113.

16.    Pulhin, M. Juan  (et al, 2008). Community-based forest management in the Philippines: A preliminary assessment. Journal of Environmental Science and Management, 11 (1), pp. 1-14.

17.    Ren, Y., Kuuluvainen, J., Yang, L., Yao, S., Xue, C., & Toppinen, A. (2018). Property rights, village political system, and forestry investment: Evidence from China’s collective forest tenure reform. Forests, 9 (9), p. 541.

18.  Sikor, T. (2001). The allocation of forestry land in Vietnam. Forest Policy and Economics, 2 (1), pp. 1-11. https://doi.org/10.1016/S1389-9341(00)00041-1

19.    Sikor, T. (2011). The allocation of forest land in Vietnam: Did it cause the expansion of forests in the northwest? Forest Policy and Economics, 13 (3), pp. 172-177.

20.    Trần Thị Tuyết Nhung, Phạm Mạnh Hà. (2021). Về việc triển khai chính sách giao đất giao rừng cho cộng đồng dân cư dân tộc thiểu số ở Quảng Bình. Tạp chí Thông tin khoa học xã hội, số 8, tr 27-35.

21.    Trần Văn Hà (2021). Tác động của chính sách đổi mới đến giao đất giao rừng ở vùng đông bắc. Tạp chí Dân tộc học, Số 3, tr. 3-16.

22.    To, X. P., & Tran, H. N. (2015). Forest Land Allocation in the Context of Forestry Sector Restructuring. Forest Trends.

23.    Vương Xuân Tình (2007). Hưởng dụng đất với xóa đói giảm nghèo của các DTTS ở miền núi Việt Nam. Tạp chí Dân tộc học, Số 2, tr. 5-19.

24.    Ủy ban Dân tộc. (2020). Đánh giá hiệu quả, tác động của chính sách bảo vệ và phát triển rừng đối với đồng bào DTTS. Báo cáo đề tài thuộc Chương trình Khoa học và Công nghệ cấp Quốc gia giai đoạn 2016-2020.

25.    Zinda, J. A., & Zhang, Z. (2018). Stabilizing forests and communities: Accommodative buffering within China’s collective forest tenure reform. The China Quarterly, 235, pp. 828-848. https://doi.org/10.1017/S0305741018000905



 

[1] Từ ngày 01/7/2025, xã Kim Thủy sáp nhập với một số xã khác của huyện Quảng Ninh cũ, thành xã Kim Ngân, tỉnh Quảng Trị. Tuy nhiên, để mô tả một cách chính xác địa bàn tại thời điểm nghiên cứu, trong bài viết này, tên xã cũ được sử dụng.

TS. Nguyễn Công Thảo
Nguồn bài viết: Trang Thông tin điện tử Viện Dân tộc học và Tôn giáo học
Tin xem nhiều
Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tất cả: 1