1. Từ các luận điểm của Hồ Chí Minh về khoa học - công nghệ đến sự vận dụng trong chiến lược chuyển đổi số quốc gia
Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ khẳng định khoa học, kỹ thuật là động lực cốt lõi để tiến lên chủ nghĩa xã hội, mà còn đặt nền móng cho triết lý “khoa học vị nhân sinh” cùng tinh thần liên tục học hỏi, tìm tòi và sáng tạo. Việc nhận thức và vận dụng sáng tạo di sản tư tưởng này chính là kim chỉ nam cho chiến lược chuyển đổi số quốc gia hiện nay, khi đất nước bước vào kỷ nguyên vươn mình, kỷ nguyên số.
Từ luận điểm coi khoa học, kỹ thuật là động lực tất yếu của chủ nghĩa xã hội đến chiến lược coi chuyển đổi số là khâu đột phá, động lực then chốt.
Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn đặt khoa học, kỹ thuật vào vị trí trung tâm của sự nghiệp kiến thiết đất nước. Trong “ Báo cáo về dự thảo Hiến pháp sửa đổi tại kỳ họp thứ 11 Quốc hội khóa I nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa” năm 1959, Người đã nhấn mạnh rằng “Cách mạng xã hội chủ nghĩa gắn liền với sự phát triển khoa học và kỹ thuật, với sự phát triển văn hóa của nhân dân” (Hồ Chí Minh, 2011 a , tr. 371). Quá trình xây dựng một quốc gia chủ nghĩa xã hội đòi hỏi phải cải tạo nền kinh tế lạc hậu thành một nền kinh tế có “công nghiệp và nông nghiệp hiện đại, có văn hóa và khoa học tiên tiến” (Hồ Chí Minh, 2011a, tr. 412).
Trong bối cảnh hiện nay, tầm nhìn đó được tiếp tục thể hiện qua Văn kiện Đại hội XIII, tiếp tục khẳng định phát triển khoa học công nghệ là “quốc sách hàng đầu”, là “động lực then chốt để phát triển lực lượng sản xuất hiện đại”, đổi mới mô hình tăng trưởng (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2021). Nhận thức này tiếp tục được nâng lên một tầm cao mới khi Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị (2024) xác định rõ việc phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia (ứng dụng AI, công nghệ bán dẫn, IoT, xây dựng Chính phủ số, kinh tế số , xã hội số) chính là đột phá quan trọng hàng đầu, là điều kiện tiên quyết để Việt Nam phát triển bứt phá.
Từ “khoa học phải trở lại phục vụ sản xuất, phục vụ quần chúng” đến triết lý chuyển đổi số lấy người dân làm trung tâm.
Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn yêu cầu khoa học phải bám sát thực tiễn sản xuất và đời sống của nhân dân. Trong bài phát biểu tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ nhất Hội Phổ biến khoa học và kỹ thuật Việt Nam (tháng 5 năm 1963), Người nêu rõ nhiệm vụ của ngành khoa học kỹ thuật nước nhà, đó là: “Khoa học phải từ sản xuất mà ra và phải trở lại phục vụ sản xuất, phục vụ quần chúng, nhằm nâng cao năng suất lao động và không ngừng cải thiện đời sống của nhân dân, bảo đảm cho chủ nghĩa xã hội thắng lợi” (Hồ Chí Minh, 2011b, tr. 97). Theo Người, mọi nỗ lực nghiên cứu và tiến bộ kỹ thuật, dù tinh xảo đến đâu, nếu không quay trở lại phục vụ lợi ích của quần chúng và quốc kế dân sinh thì đều mất đi giá trị chân chính của nó.
Đây chính là nền tảng để Đảng ta xây dựng triết lý khoa học phục vụ nhân dân trong không gian số. Khía cạnh này đã được thể chế hóa thành pháp luật hiện hành: Luật Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo; Luật Trí tuệ nhân tạo. Theo đó, Nhà nước đầu tư và khuyến khích ứng dụng dữ liệu lớn (Big Data) và AI vào mọi mặt đời sống, song các hoạt động này phải bảo đảm “lấy con người làm trung tâm, tôn trọng quyền con người” và luôn đặt dưới sự kiểm soát của con người (Quốc hội, 2025a, 2025b).
Từ tinh thần không ngừng tìm tòi, sáng tạo đến yêu cầu đột phá tư duy trong toàn hệ thống chính trị
Trong bài viết “Xây dựng những con người của chủ nghĩa xã hội” tại Hội nghị bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo các cấp toàn miền Bắc do Ban Bí thư Trung ương Đảng triệu tập ngày 13/ 0 3 đến ngày 21/ 0 3/1961, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định “ Chỉ cần chúng ta có đầy đủ ý thức làm chủ, tinh thần tập thể, kỷ luật và ra sức học tập, nâng cao trình độ văn hóa, kỹ thuật, có tinh thần sáng tạo, tìm tòi cái mới, học tập cái mới, ủng hộ cái mới, thực hiện cái mới thì việc gì chúng ta cũng làm được (Hồ Chí Minh, 2011b, tr. 70). Kế thừa tinh thần không ngừng tìm tòi, thử nghiệm và thực hành cái mới, công cuộc chuyển đổi số hiện nay đòi hỏi sự chuyển mình mạnh mẽ về nhận thức. Nghị quyết số 57-NQ/TW yêu cầu cấp ủy, tổ chức đảng và cán bộ, đảng viên phải đột phá về đổi mới tư duy, xác định quyết tâm chính trị mạnh mẽ, quyết liệt lãnh đạo, chỉ đạo, tạo xung lực mới, khí thế mới trong phát triển khoa học, công nghệ và chuyển đổi số. Chỉ khi phá vỡ được rào cản của tư duy cũ, chúng ta mới có thể biến tri thức công nghệ thành sức mạnh kiến tạo quốc gia hùng cường.
2. Vai trò của nhà nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn
Bước vào “kỷ nguyên vươn mình của dân tộc” với trọng tâm là bứt phá về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, những di sản tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về vai trò của trí thức và nhà khoa học tiếp tục mang những sứ mệnh mới mẻ và cấp thiết.
Kiến tạo luận chứng, luận cứ cho hoạch định đường lối, chính sách số
Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn đặt sự phát triển khoa học - kỹ thuật song hành với sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và phát triển văn hóa của nhân dân (Hồ Chí Minh, 2011a, 2011 b). Vận dụng tư tưởng này, Đảng ta đã xác định việc phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là khâu đột phá quan trọng hàng đầu, là động lực chính để phát triển nhanh lực lượng sản xuất hiện đại (Bộ Chính trị, 2024).
Trong công cuộc đó, vai trò tiên quyết của nhà nghiên cứu KHXH&NV là cung cấp nền tảng lý luận, tổng kết đánh giá bài học thực tiễn cho công cuộc số hóa quốc gia. Thực tiễn 40 năm đổi mới đã chứng minh vai trò không thể thiếu của KHXH&NV trong việc cung cấp các nghiên cứu phục vụ hoạch định đường lối, chính sách phát triển đất nước (Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam , 2026). Về mặt pháp lý, tại điểm a, khoản 3, điều 29 Luật Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo cũng quy định rõ, Nhà nước đặc biệt chú trọng nghiên cứu KHXH&NV nhằm “cung cấp luận cứ khoa học cho việc xây dựng đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước” (Quốc hội, 2025a). Do đó, giới học thuật nói chung, nhà nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn (KHXH&NV) mang trọng trách tổng kết thực tiễn sinh động, truyền tải chân thực tiếng nói của nhân dân vào hoạch định chính sách nhằm chuyển hóa công nghệ thành sức mạnh xã hội.
Khoa học vị nhân sinh và vai trò định hình hệ giá trị văn hóa và bảo vệ con người trong không gian số
Thực tiễn cho thấy, sự thâm nhập của công nghệ số đang làm thay đổi sâu sắc cấu trúc và chức năng gia đình, nhiều khía cạnh trong đời sống xã hội đứng trước những biến chuyển sâu sắc. Trong bối cảnh đó, nhà nghiên cứu KHXH&NV phải thực hiện sứ mệnh “nâng cao dân trí, thay đổi lối sống theo hướng hiện đại, nhân văn”, hình thành hệ giá trị văn hoá mới, đồng thời góp phần làm “giảm thiểu các xung đột xã hội, phát triển con người toàn diện” (Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam , 2026). Bằng lăng kính nhân văn, họ cần chuyển hóa các nghiên cứu học thuật hàn lâm thành các mô hình can thiệp xã hội thiết thực nhằm bảo vệ các nhóm yếu thế, kiến tạo môi trường sống bao trùm, bình đẳng và tôn trọng phẩm giá con người. Qua đó, góp phần xây dựng hệ giá trị gia đình Việt Nam “no ấm, tiến bộ, hạnh phúc, văn minh” trước sự chuyển mình sang văn minh kỹ thuật số (Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam & Bộ V ăn hoá Thể thao và Du lịch , 2026).
Bứt phá phương pháp luận và nghiên cứu liên ngành
Tiếp nối tinh thần luôn học hỏi, tinh thần sáng tạo, tìm tòi cái mới, học tập cái mới, các nhà nghiên cứu cần tiếp tục dấn thân trong kỷ nguyên số. Báo cáo tổng kết 40 năm đổi mới của Đảng đã thẳng thắn chỉ ra một điểm nghẽn lớn đó là: nhận thức trong xây dựng thể chế phù hợp với yêu cầu của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư chậm được đổi mới và “sức ì còn lớn” (Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam , 2026).
Để vượt qua sức ì này, trách nhiệm của nhà nghiên cứu KHXH&NV là phải tự đổi mới chính mình, thoát khỏi rào cản của tư duy bảo thủ hay sự khép kín chuyên ngành. Việc xóa bỏ sự khép kín này cũng là đòi hỏi mang tính pháp định, khi Nhà nước có chủ trương ưu tiên kinh phí cho các nhiệm vụ khoa học “có nội dung liên ngành, kết hợp giữa khoa học tự nhiên, khoa học kỹ thuật với khoa học xã hội và nhân văn” nhằm đánh giá chính xác “tác động xã hội, đạo đức, văn hóa và tâm lý của công nghệ mới đối với con người” (Quốc hội, 2025a). Bên cạnh đó, các nhà khoa học cần ứng dụng linh hoạt các phương pháp luận đương đại, chẳng hạn như dân tộc học kỹ thuật số hay xã hội học không gian mạng, để thực hiện các nghiên cứu đáp ứng nhu cầu thực tiễn của thời đại.
Sứ mệnh của nhà nghiên cứu KHXH&NV trong kỷ nguyên số không phải là cuộc chạy đua công nghệ thuần túy, mà cần kết hợp việc sử dụng các công cụ số hóa để đánh giá mối quan hệ tương tác liên tục giữa công nghệ số với đời sống xã hội, tiếp tục thực hiện vai trò hiện thực hóa nền “khoa học vị nhân sinh”, hướng đến hạnh phúc, bình đẳng và thịnh vượng cho mọi người.
Tài liệu tham khảo
Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam. (2021). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII (Tập 1). Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật.
Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam. (2026). Báo cáo tổng kết một số vấn đề lý luận và thực tiễn về công cuộc đổi mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa trong 40 năm qua ở Việt Nam . https://tulieuvankien.dangcongsan.vn/bo-chinh-tri-ban-bi-thu-ban-chap-hanh-trung-uong/dai-hoi-dang/lan-thu-xiv/bao-cao-tong-ket-mot-so-van-de-ly-luan-va-thuc-tien-ve-cong-cuoc-doi-moi-theo-dinh-huong-xa-hoi-chu-nghia-trong-40-nam-q.html
Bộ Chính trị. (2024). Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22 tháng 12 năm 2024 về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia .
Hồ Chí Minh. (2011a). Hồ Chí Minh Toàn tập (Tái bản lần thứ 3, Tập 12). Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật.
Hồ Chí Minh. (2011b). Hồ Chí Minh Toàn tập (Tái bản lần thứ 3, Tập 13). Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật.
Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam. (2025a). Luật Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo .
Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam. (2025b). Luật Trí tuệ Nhân tạo .
Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam & Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch. (2026). Kỷ yếu Hội thảo khoa học quốc gia: Xu hướng biến đổi của gia đình Việt Nam qua các thời kỳ - Thực trạng và giải pháp . Nhà xuất bản Hà Nội.