Quá trình hình thành và phát triển SGIC tại Hàn Quốc cho thấy mô
hình này hình thành trong bối cảnh nhiều khu công nghiệp lâu đời phải đối mặt
với hạ tầng xuống cấp, hiệu suất năng lượng thấp và áp lực phát thải. Các khu
công nghiệp giữ vai trò lớn trong sản xuất và xuất khẩu, vì vậy chuyển đổi môi
trường không chỉ là nhiệm vụ tuân thủ mà còn liên quan trực tiếp đến năng suất,
khả năng cạnh tranh và khả năng đáp ứng các tiêu chuẩn thương mại xanh.
Tình hình môi trường và rủi
ro khí hậu tại Việt Nam
Việt Nam chịu tác động đáng kể từ biến đổi khí hậu do có đường
bờ biển dài, các đô thị và vùng sản xuất nằm ở khu vực thấp trũng, cùng sự phụ
thuộc của nhiều ngành kinh tế vào tài nguyên thiên nhiên. Báo cáo Khí hậu và
Phát triển Quốc gia Việt Nam của Ngân hàng Thế giới ước tính tác động của biến
đổi khí hậu gây thiệt hại khoảng 10 tỷ USD, tương đương 3,2% GDP, trong năm
2020. Báo cáo cảnh báo tổn thất có thể tăng lên đáng kể nếu không tăng cường
thích ứng và giảm phát thải.
Các con số này là ước tính theo mô hình và năm tham chiếu cụ thể, không nên
diễn giải thành mức thiệt hại thường niên cố định.
Rủi ro khí hậu đối với công nghiệp thể hiện ở nhiều dạng: ngập
lụt làm gián đoạn đường vận tải và chuỗi cung ứng; nắng nóng làm tăng nhu cầu
làm mát và nguy cơ sức khỏe nghề nghiệp; hạn hán và xâm nhập mặn gây áp lực lên
nguồn nước; bão và thời tiết cực đoan ảnh hưởng tới điện, cảng và kho bãi. Vì
vậy, kế hoạch chuyển đổi khu công nghiệp cần kết hợp giảm phát thải với đánh
giá rủi ro khí hậu và kế hoạch duy trì hoạt động.
Về ô nhiễm công nghiệp, tình hình giữa các địa phương và khu
công nghiệp không đồng nhất. Một số khu đã xây dựng hệ thống xử lý nước thải
tập trung và quan trắc tự động; chẳng hạn, thông tin của Cục Môi trường về Vĩnh
Long cho biết hai khu công nghiệp đang hoạt động tại địa phương đã có nhà máy
xử lý nước thải tập trung, với công suất tổng cộng 9.100 m³/ngày đêm, và lượng
nước thải phát sinh được thu gom, xử lý theo quy định.
Đây là ví dụ tại một địa phương, không thể suy rộng thành tình trạng của tất cả
khu công nghiệp trên toàn quốc.
Các chỉ tiêu môi trường quốc gia từng đặt mục tiêu nâng tỷ lệ
khu công nghiệp, khu chế xuất có hệ thống xử lý nước thải tập trung đạt quy
chuẩn lên 100% trong giai đoạn 2026–2030; đồng thời đặt mục tiêu 100% cụm công
nghiệp có hệ thống xử lý nước thải tập trung vận hành đạt quy chuẩn vào giai đoạn
này.
Những mục tiêu này cho thấy trọng tâm chính sách không chỉ là xây dựng công
trình, mà còn là bảo đảm công trình vận hành đúng chuẩn, có giám sát liên tục
và xử lý vi phạm khi cần thiết.
Một thách thức khác là dữ liệu môi trường thường được thu thập
theo từng nguồn thải hoặc từng địa phương, trong khi ô nhiễm không khí và nước
có thể lan truyền qua ranh giới hành chính. Nếu không có cơ chế chia sẻ dữ
liệu, đánh giá tải lượng cộng dồn và phối hợp liên vùng, cơ quan quản lý có thể
xử lý từng cơ sở nhưng vẫn khó giải quyết vấn đề chất lượng môi trường ở quy mô
lưu vực hoặc vùng đô thị-công nghiệp. Kết luận 75-KL/TW, theo phần giới thiệu
và trao đổi của Cục trưởng Cục Môi trường, đặt ra hướng quản lý theo vùng, lưu
vực sông và không gian môi trường, kết hợp kiểm soát từng nguồn thải với tổng
tải lượng ô nhiễm.
Kết hợp khu công nghiệp sinh
thái với công cụ xanh - thông minh ở Việt Nam
Đối với Việt Nam, không nhất thiết phải lựa chọn giữa khu công
nghiệp sinh thái và khu công nghiệp xanh- thông minh. Hai cách tiếp cận có thể
bổ sung cho nhau. Khu công nghiệp sinh thái cung cấp nền tảng về sản xuất sạch
hơn, sử dụng hiệu quả tài nguyên và cộng sinh công nghiệp; SGIC gợi ý bổ sung
số hóa, quản lý năng lượng và hạ tầng thông minh vào chương trình chuyển đổi.
Nghị định 35/2022/NĐ-CP là một cơ sở pháp lý quan trọng về quản lý khu công
nghiệp và khu kinh tế.
Một mô hình tích hợp có thể bắt đầu bằng kiểm kê dòng vật chất
và năng lượng: doanh nghiệp sử dụng loại nguyên liệu nào, tiêu thụ bao nhiêu
nước và điện, phát sinh chất thải gì, phần nào có thể tái sử dụng và phần nào
cần xử lý. Sau đó, nền tảng số của khu công nghiệp có thể kết nối dữ liệu đã
được chuẩn hóa, phát hiện bất thường, hỗ trợ dự báo nhu cầu hạ tầng và lập kế
hoạch đầu tư. Việc trao đổi phụ phẩm cần dựa trên kiểm định chất lượng, quy
định an toàn và hợp đồng rõ ràng, tránh xem mọi chất thải là nguyên liệu có thể
tái sử dụng.
Với năng lượng, các khu công nghiệp có thể triển khai kiểm toán
năng lượng, hệ thống quản lý năng lượng nhà máy, quản lý phụ tải và giải pháp
tiết kiệm điện. Các phương án điện mặt trời mái nhà, lưu trữ hoặc hợp đồng mua
bán điện cần được xem xét theo quy định hiện hành, điều kiện kỹ thuật và khả
năng của lưới điện. Chỉ tiêu nên đo bằng cường độ năng lượng trên đơn vị sản
phẩm và lượng phát thải thực tế, thay vì chỉ đếm số dự án hoặc công suất lắp
đặt.
Với nước và chất thải, ưu tiên đầu tiên là bảo đảm thu gom và xử
lý đạt quy chuẩn, giám sát vận hành và xử lý sự cố. Sau khi bảo đảm tuân thủ,
khu công nghiệp có thể tăng tái sử dụng nước đã xử lý phù hợp, thu hồi vật
liệu, phân loại chất thải tại nguồn và kết nối các doanh nghiệp có nhu cầu sử
dụng phụ phẩm. Các giải pháp tuần hoàn không được làm giảm tiêu chuẩn an toàn
hoặc chuyển ô nhiễm từ môi trường này sang môi trường khác.
Kết luận
Kinh nghiệm Hàn Quốc trong xây dựng khu công nghiệp xanh - thông
minh cho thấy chính sách môi trường có thể gắn trực tiếp với năng lực cạnh
tranh công nghiệp thông qua quản trị dữ liệu, hiệu quả năng lượng, giảm phát
thải và tuần hoàn tài nguyên. Kết luận số 75-KL/TW ngày 28/7/2026 của Ban Chấp
hành Trung ương Đảng khóa XIV đặt vấn đề bảo vệ môi trường và chủ động ứng phó
biến đổi khí hậu trong bối cảnh Việt Nam hướng tới mô hình phát triển chất
lượng cao. Cùng với Chương trình hành động số 31-CTr/TW của Bộ Chính trị và
Nghị quyết số 208/NQ-CP ngày 4/8/2026 của Chính phủ, văn kiện thúc đẩy cách
tiếp cận toàn diện: hoàn thiện thể chế, tăng hiệu lực thực thi, giải quyết ô
nhiễm, bảo tồn thiên nhiên, thích ứng khí hậu, thúc đẩy chuyển đổi xanh và phát
triển kinh tế tuần hoàn[8].
Kết luận 75-KL/TW mở ra cơ hội củng cố cách tiếp cận trong đó
bảo vệ môi trường và ứng phó khí hậu là thành phần của năng lực cạnh tranh và
chất lượng tăng trưởng. Kinh nghiệm SGIC của Hàn Quốc cho thấy một khu công
nghiệp có thể trở thành nền tảng thực thi chính sách xanh nếu số hóa, năng
lượng và môi trường được kết nối trong cùng một cơ chế quản trị. Đối với Việt
Nam, ưu tiên là chuyển các mục tiêu thành dữ liệu, chỉ tiêu, trách nhiệm và kết
quả có thể kiểm chứng: bảo đảm xử lý nước thải đạt chuẩn; giảm cường độ năng
lượng và phát thải; thúc đẩy tuần hoàn tài nguyên; xây dựng hạ tầng chống chịu
khí hậu; đồng thời hỗ trợ doanh nghiệp đổi mới công nghệ. Một khu công nghiệp
xanh không chỉ là khu có nhiều thiết bị mới, mà là khu có thể chứng minh rằng
sản xuất hiệu quả hơn, ít ô nhiễm hơn và an toàn hơn cho người lao động cũng
như cộng đồng.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Báo Chính phủ, “Chính phủ ban hành Nghị quyết số 208/NQ-CP về
Chương trình hành động thực hiện Kết luận số 75-KL/TW”, 04–07/08/2026,
https://baochinhphu.vn/chi-dao-dieu-hanh-cua-chinh-phu-thu-tuong-chinh-phu-noi-bat-tuan-1-7-8-2026-10226080711103321.htm
2. Cục Môi trường, “Từ quản lý đến quản trị môi
trường hiện đại: Bước chuyển chiến lược kiến tạo phát triển xanh”, 30/07/2026,
https://vea.mae.gov.vn/tin-tuc-su-kien/12685/tu-quan-ly-den-quan-tri-moi-truong-hien-dai-buoc-chuyen-chien-luoc-kien-tao-phat-trien-xanh
3. Cục Môi trường, “Vĩnh Long: Toàn bộ nước thải trong khu công
nghiệp đều được thu gom, xử lý”, 23/05/2025,
https://vea.mae.gov.vn/tin-tuc-su-kien/10798/vinh-long-toan-bo-nuoc-thai-trong-khu-cong-nghiep-deu-duoc-thu-gom-xu-ly
4. International Energy Agency, “Korean New Deal 10 key projects
– Smart and green industrial complexes”: https://www.iea.org/policies/13205-korean-new-deal-10-key-projects-smart-green-industrial-complexes
5. Nghị định 35/2022/NĐ-CP về quản lý khu công nghiệp và khu
kinh tế: https://vanban.chinhphu.vn/?pageid=27160&docid=205413
6. Tống Thùy Linh, “Quá trình hình thành và phát triển khu công
nghiệp xanh - thông minh ở Hàn Quốc”, Tạp chí Quản lý nhà nước, 12/10/2026,
https://www.quanlynhanuoc.vn/2026/10/12/qua-trinh-hinh-thanh-va-phat-trien-khu-cong-nghiep-xanh-thong-minh-o-han-quoc/
7. Quyết định 450/QĐ-TTg năm 2022 phê duyệt Chiến lược bảo vệ
môi trường quốc gia đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050 (tài liệu trên Cục Môi
trường), https://vea.mae.gov.vn/Data/files/450_Q%C4%90-TTg_2022.pdf
8. World Bank, “Key
Highlights: Country Climate and Development Report for Vietnam”, 01/07/2022: https://www.worldbank.org/en/brief/2022/07/01/key-highlights-country-climate-and-development-report-for-vietnam
Chú thích:
International Energy Agency, “Korean New Deal 10 key projects –
Smart and green industrial complexes”,
https://www.iea.org/policies/13205-korean-new-deal-10-key-projects-smart-green-industrial-complexes
Quyết định 450/QĐ-TTg năm 2022 phê duyệt Chiến lược bảo vệ môi
trường quốc gia đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050 (tài liệu trên Cục Môi
trường), https://vea.mae.gov.vn/Data/files/450_Q%C4%90-TTg_2022.pdf, Phụ luc 1, trang 2.