Tăng cường quản lý, sử dụng bền vững các vùng đất ngập nước quan trọng và nhận diện các Khu đất ngập nước có tầm quan trọng quốc tế tiềm năng ở Việt Nam
Ngày 18/9/2026, tại Vườn quốc gia Cát Tiên, Viện Địa lý nhân văn và Phát triển bền vững, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam phối hợp với Vườn quốc gia Cát Tiên tổ chức Hội thảo khoa học “Tăng cường quản lý, sử dụng bền vững các vùng đất ngập nước quan trọng và đề xuất danh mục các Khu Ramsar tiềm năng”. Hội thảo là diễn đàn trao đổi giữa các nhà quản lý, chuyên gia, nhà khoa học, các vườn quốc gia, khu bảo tồn và tổ chức bảo tồn trong nước, quốc tế về những vấn đề khoa học và thực tiễn đang đặt ra đối với quản lý, bảo tồn, phục hồi và sử dụng bền vững đất ngập nước ở Việt Nam. Hội thảo trong khuôn khổ nhiệm vụ Bảo vệ môi trường của Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam “điều tra, đánh giá hiện trạng và xây dựng bộ tiêu chí đánh giá tính dễ bị tổn thương của các vùng đất ngập nước nội địa quan trọng vùng Đông Nam Bộ”.
Quang cảnh Hội thảo
TS. Phạm Thị Trầm - Phó Viện trưởng Viện Địa lý nhân văn và Phát triển bền vững, ông Phạm Xuân Thịnh - Giám đốc Vườn quốc gia Cát Tiên chủ trì Hội thảo. Tham dự Hội thảo có đại diện các cơ quan quản lý nhà nước; lãnh đạo các Sở Nông nghiệp và Môi trường; các vườn quốc gia, khu Ramsar, khu bảo tồn thiên nhiên; các viện nghiên cứu, trường đại học; các chuyên gia, nhà khoa học; đại diện Quỹ Quốc tế về bảo tồn thiên nhiên (WWF), Liên minh Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế (IUCN) cùng nhiều tổ chức hoạt động trong lĩnh vực bảo tồn thiên nhiên và đa dạng sinh học.
Từ nhận diện giá trị đến quản lý tính dễ bị tổn thương của đất ngập nước
Phát biểu tại Hội thảo, TS. Phạm Thị Trầm - Phó Viện trưởng Viện Địa lý nhân văn và Phát triển bền vững nhấn mạnh, đất ngập nước là một trong những hệ sinh thái có giá trị đặc biệt đối với tự nhiên và con người. Không chỉ là sinh cảnh của nhiều loài động, thực vật, trong đó có các loài nguy cấp, quý, hiếm, đất ngập nước còn thực hiện nhiều chức năng quan trọng như điều tiết nguồn nước, kiểm soát lũ, duy trì chất lượng nước, lưu giữ carbon, cung cấp nguồn lợi thủy sản, duy trì sinh kế và các giá trị văn hóa, cảnh quan, đồng thời góp phần thích ứng với biến đổi khí hậu và phát triển bền vững.
Tuy nhiên, các hệ sinh thái này đang chịu tác động ngày càng lớn của quá trình phát triển kinh tế - xã hội, đô thị hóa, chuyển đổi mục đích sử dụng đất, khai thác tài nguyên, ô nhiễm môi trường, thay đổi chế độ thủy văn, sinh vật ngoại lai xâm hại và biến đổi khí hậu. Vì vậy, yêu cầu đặt ra hiện nay không chỉ là xác định một vùng đất ngập nước có giá trị như thế nào, mà còn cần nhận diện vùng đất ngập nước đó đang chịu những sức ép gì, dễ bị tổn thương ở mức độ nào, khả năng thích ứng và phục hồi ra sao để xác định đúng các ưu tiên quản lý, bảo tồn và phục hồi.
Theo TS. Phạm Thị Trầm, trong quản lý đất ngập nước cần từng bước chuyển từ nhận diện giá trị sang nhận diện rủi ro; từ đánh giá hiện trạng sang đánh giá tính dễ bị tổn thương; từ bảo tồn đơn thuần sang bảo tồn gắn với phục hồi và sử dụng bền vững. Cách tiếp cận này đòi hỏi tăng cường cơ sở dữ liệu, phương pháp đánh giá, quan trắc và các công cụ khoa học có khả năng hỗ trợ trực tiếp quá trình ra quyết định quản lý.
Hội thảo được tổ chức trong bối cảnh Việt Nam đang tiếp tục triển khai Kế hoạch hành động quốc gia về bảo tồn và sử dụng bền vững các vùng đất ngập nước giai đoạn 2021-2030; đồng thời, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã phê duyệt Đề án “Phục hồi và tăng cường quản lý các vùng đất ngập nước quan trọng giai đoạn 2026–2035, tầm nhìn đến năm 2050” theo Quyết định số 3076/QĐ-BNNMT ngày 05/8/2026. Đề án đặt ra các nhiệm vụ gắn trực tiếp với chủ đề Hội thảo như xác định các vùng đất ngập nước quan trọng; đánh giá mức độ suy thoái, nguyên nhân và khả năng phục hồi; xác định các vùng có tiềm năng đề cử Khu Ramsar; tăng cường quản lý, kết nối mạng lưới các Khu Ramsar; ứng dụng khoa học, công nghệ và chuyển đổi số trong quản lý đất ngập nước.
Trong khuôn khổ nhiệm vụ nghiên cứu về điều tra, đánh giá hiện trạng và xây dựng bộ tiêu chí đánh giá tính dễ bị tổn thương của các vùng đất ngập nước nội địa quan trọng vùng Đông Nam Bộ, Viện Địa lý nhân văn và Phát triển bền vững đang tiếp cận theo hướng kết hợp giữa đánh giá giá trị, trạng thái hệ sinh thái với các yếu tố phơi nhiễm, mức độ nhạy cảm và khả năng thích ứng. Khu Ramsar Bàu Sấu tại Vườn quốc gia Cát Tiên là một trong những khu vực được lựa chọn để nghiên cứu, thử nghiệm, qua đó góp phần kiểm chứng khả năng ứng dụng của phương pháp đánh giá trong thực tiễn quản lý.
Bàu Sấu: Công nhận Ramsar là khởi đầu của một trách nhiệm lâu dài
Phát biểu tại Hội thảo, ông Phạm Xuân Thịnh - Giám đốc Vườn quốc gia Cát Tiên cho biết Cát Tiên không chỉ được biết đến với hệ sinh thái rừng nhiệt đới mà còn có hệ thống đất ngập nước đa dạng, gồm sông, suối, bàu, đầm, vùng bán ngập và các sinh cảnh ngập nước theo mùa. Nổi bật là Khu Ramsar Bàu Sấu với diện tích được công nhận 13.759 ha. Ngày 04/8/2005, Bàu Sấu được công nhận là vùng đất ngập nước có tầm quan trọng quốc tế thứ 1.499 của thế giới và là Khu Ramsar thứ hai của Việt Nam.
Theo TS. Vũ Ngọc Long (Nguyên Viện trưởng Viện Sinh thái học Miền Nam), từ hơn hai thập kỷ thực tiễn quản lý Bàu Sấu, lãnh đạo Vườn quốc gia Cát Tiên nhấn mạnh một thông điệp đáng chú ý “một vùng đất ngập nước được công nhận là Khu Ramsar không có nghĩa công việc bảo tồn đã hoàn thành; trái lại, đó là sự khởi đầu của một trách nhiệm lâu dài”.
TS. Vũ Ngọc Long trình bày nghiên cứu chuyên sâu về Bàu Sấu
TS Vũ Ngọc Long cho biết, các nghiên cứu tại Bàu Sấu đã ghi nhận những vấn đề cần tiếp tục quan tâm như biến động chế độ ngập, xu hướng thu hẹp diện tích mặt nước, sự phát triển của các thảm thực vật nổi, sự xuất hiện của loài ngoại lai xâm hại và thay đổi sinh cảnh. Dữ liệu quan trắc bằng viễn thám từ năm 2000 cho thấy diện tích phủ nước có xu hướng suy giảm trong cả mùa khô và mùa mưa, đặt ra yêu cầu tiếp tục theo dõi, nghiên cứu và làm rõ nguyên nhân.
Từ thực tiễn này, ông Phạm Xuân Thịnh cho rằng quản lý đất ngập nước không thể chỉ là bảo vệ một ranh giới trên bản đồ mà quan trọng hơn là duy trì đặc tính sinh thái, chế độ thủy văn, tính kết nối sinh cảnh và các giá trị đa dạng sinh học của toàn bộ hệ sinh thái. Công tác quản lý trong thời gian tới cần chú trọng dữ liệu dài hạn về thủy văn, chất lượng đất và nước, thảm thực vật, đa dạng sinh học và biến đổi sinh cảnh; tăng cường giám sát, cảnh báo sớm và quản lý thích ứng; ứng dụng viễn thám, hệ thống quan trắc và các công nghệ số.
Ông Phạm Xuân Thịnh chia sẻ tại Hội thảo
Cùng với việc quản lý tốt các Khu Ramsar hiện có, cần tiếp tục thúc đẩy việc xác định các Khu Ramsar tiềm năng trên cơ sở khoa học, đáp ứng các tiêu chí quốc tế và đặc biệt phải tính đến năng lực quản lý lâu dài sau khi được công nhận. Đây cũng là cơ sở để tăng cường kết nối, trao đổi thông tin và kinh nghiệm giữa các Khu Ramsar, khu bảo tồn, cơ quan nghiên cứu và các tổ chức bảo tồn.
Từ nghiên cứu khoa học đến công cụ quản lý cụ thể
Một nội dung nhận được sự quan tâm tại Hội thảo là vấn đề kiểm soát thực vật xâm hại tại hệ sinh thái đất ngập nước Ramsar Bàu Sấu. Dự thảo Tiêu chuẩn cơ sở “Quy trình quản lý và xử lý thực vật xâm hại hệ sinh thái đất ngập nước Ramsar Bàu Sấu” được giới thiệu nhằm từng bước chuẩn hóa các yêu cầu kỹ thuật từ điều tra, xác định đối tượng, lập phương án, xử lý và quản lý sinh khối đến nghiệm thu và giám sát sau xử lý.
Một trong những nguyên tắc xuyên suốt của dự thảo là ưu tiên an toàn sinh thái. Trong phạm vi Ramsar Bàu Sấu, quy trình không sử dụng thuốc trừ cỏ hóa học hoặc hóa chất diệt sinh vật để xử lý thực vật xâm hại mà ưu tiên các phương pháp cơ học và thủ công phù hợp với quy mô, mật độ, mực nước, điều kiện dòng chảy, đặc điểm sinh học của loài và mức độ nhạy cảm của sinh cảnh.
Cách tiếp cận này cho thấy quản lý sinh vật xâm hại không phải là một hoạt động xử lý đơn lẻ. Dự thảo thiết kế một chu trình liên tục gồm điều tra hiện trạng; xác định loài, nguồn gốc và mức độ tác động; lập bản đồ GIS và phân lô; xây dựng phương án; xử lý; thu gom sinh khối; kiểm tra, nghiệm thu; giám sát tái phát; xử lý duy trì và cập nhật để đánh giá hiệu quả. Đây là ví dụ cụ thể về việc chuyển từ các kết quả điều tra, nghiên cứu sang quy trình kỹ thuật và hệ thống quản lý có khả năng kiểm chứng, cập nhật và điều chỉnh theo thời gian.
Phục hồi đất ngập nước cần gắn với cộng đồng và sinh kế bền vững
Một hướng tiếp cận quan trọng khác được trao đổi tại Hội thảo là mối quan hệ giữa bảo tồn, phục hồi hệ sinh thái với sinh kế của cộng đồng địa phương.
Các kinh nghiệm phục hồi tại một số Khu Ramsar cho thấy phục hồi đất ngập nước không chỉ là khôi phục diện tích hay trồng lại một số loài thực vật, mà cần hướng đến phục hồi chế độ thủy văn, sinh cảnh, đa dạng sinh học và các chức năng hệ sinh thái; đồng thời tạo điều kiện để cộng đồng tham gia và hưởng lợi từ quá trình bảo tồn.
Các hoạt động được chia sẻ tại Hội thảo cho thấy nhiều cách tiếp cận khác nhau đang được triển khai tại các Khu Ramsar ở Đồng bằng sông Cửu Long, từ phục hồi đồng cỏ và sinh cảnh, quản lý thủy văn, phục hồi rừng trên đất than bùn, rừng ngập mặn đến xây dựng dữ liệu và ứng dụng công nghệ số trong giám sát đa dạng sinh học.
Ở góc độ sử dụng bền vững đất ngập nước, tham luận của ThS. Tăng Phương Giản, IUCN, giới thiệu nhiều mô hình sinh kế thích ứng ở Đồng bằng sông Cửu Long như sen - lúa, sen - cá, sen kết hợp du lịch sinh thái, canh tác lúa mùa nổi trên đồng lũ, vườn rau nổi, nuôi và dưỡng cá đồng tự nhiên trong mùa lũ, phục hồi rừng tràm tạo sinh cảnh cho chim nước, nuôi tôm hoặc cá trên đồng ruộng trong mùa lũ và phát triển nghề thủ công dựa trên sản phẩm đặc trưng của vùng đất ngập nước.
Điểm chung của các mô hình là hướng tới phát triển sinh kế bền vững, tạo không gian trữ nước và phục hồi hệ sinh thái đồng lũ, thích ứng với tác động của biến đổi khí hậu, phù hợp với định hướng sản xuất thuận thiên và điều kiện sinh thái của từng khu vực.
Các kết quả phân tích kinh tế được trình bày tại Hội thảo cũng cho thấy một số mô hình thí điểm có khả năng tạo lợi ích kinh tế cho người dân, qua đó cho thấy bảo tồn và sinh kế không nhất thiết là hai mục tiêu đối lập nếu lựa chọn được mô hình sử dụng tài nguyên phù hợp với đặc tính của hệ sinh thái.
Từ các mô hình thực tiễn, tham luận nhấn mạnh quản lý đất ngập nước cần được thực hiện theo phương thức có sự tham gia và phối hợp của nhiều bên liên quan. Chính quyền địa phương có vai trò định hướng, xây dựng quy hoạch, kế hoạch và điều phối; cộng đồng địa phương là chủ thể trực tiếp khai thác và sử dụng tài nguyên; các tổ chức chính trị - xã hội góp phần tuyên truyền, vận động và nhân rộng mô hình; viện nghiên cứu, trường đại học, nhà khoa học và các tổ chức quốc tế cung cấp dữ liệu, bằng chứng khoa học, phương pháp và công nghệ; trong khi doanh nghiệp có thể tham gia đầu tư, phát triển chuỗi giá trị, thị trường, tạo việc làm và tăng thu nhập cho cộng đồng.
Cách tiếp cận đa bên này đặc biệt có ý nghĩa đối với đất ngập nước bởi đây là các hệ sinh thái có quan hệ chặt chẽ với sinh kế, sử dụng đất, sử dụng nước và đời sống của cộng đồng. Hiệu quả bảo tồn vì thế không chỉ phụ thuộc vào các biện pháp kỹ thuật mà còn phụ thuộc vào khả năng tạo dựng sự đồng thuận, chia sẻ lợi ích và trách nhiệm giữa các chủ thể.
Mở rộng mạng lưới Ramsar phải đi cùng chất lượng quản lý
Một nội dung quan trọng khác của Hội thảo là nhận diện các vùng đất ngập nước có tầm quan trọng và xây dựng hồ sơ đề cử các Khu Ramsar tiềm năng.
Trình bày tại Hội thảo, TS. Trần Ngọc Cường, nguyên Trưởng phòng Sinh thái, Cục Bảo tồn thiên nhiên và Đa dạng sinh học, hệ thống hóa các yêu cầu của Công ước Ramsar, các tiêu chí xác định vùng đất ngập nước có tầm quan trọng quốc tế, quyền lợi và nghĩa vụ của Khu Ramsar cũng như trình tự, thủ tục đề cử theo các quy định hiện hành.
Công ước Ramsar hướng tới bảo tồn và sử dụng khôn khéo các vùng đất ngập nước thông qua hành động ở cấp địa phương, khu vực, quốc gia và hợp tác quốc tế. Các tiêu chí Ramsar không chỉ xem xét tính đại diện hoặc độc đáo của kiểu đất ngập nước mà còn đánh giá vai trò của khu vực đối với các loài bị đe dọa, các quần thể động, thực vật có ý nghĩa đối với đa dạng sinh học, chim nước, cá và các nhóm sinh vật phụ thuộc vào đất ngập nước.
Việc được công nhận là Khu Ramsar tạo cơ hội tiếp cận thông tin và hỗ trợ khoa học - kỹ thuật, đề xuất các dự án bảo tồn, thúc đẩy du lịch sinh thái và huy động nguồn lực. Tuy nhiên, đi cùng với đó là trách nhiệm duy trì các giá trị đa dạng sinh học, sử dụng khôn khéo đất ngập nước và thực hiện đầy đủ các yêu cầu của Công ước cũng như pháp luật Việt Nam.
Theo nội dung trình bày tại Hội thảo, quy trình đề cử hiện nay đòi hỏi sự phối hợp giữa đơn vị trực tiếp quản lý di sản thiên nhiên, cơ quan quản lý chuyên ngành cấp tỉnh, UBND cấp tỉnh, Bộ Nông nghiệp và Môi trường, Cục Bảo tồn thiên nhiên và Đa dạng sinh học, Bộ Ngoại giao cùng hội đồng thẩm định gồm các cơ quan, chuyên gia và nhà khoa học liên quan.
Những nội dung này cho thấy việc đề xuất danh mục các Khu Ramsar tiềm năng cần được nhìn nhận như một quá trình khoa học và quản trị, thay vì chỉ là việc lựa chọn thêm các địa danh để đề nghị công nhận. Một khu vực tiềm năng cần có đầy đủ bằng chứng đáp ứng tiêu chí, hồ sơ khoa học, sự đồng thuận của các bên liên quan và quan trọng hơn là khả năng bảo đảm quản lý lâu dài sau khi được công nhận.
Từ kinh nghiệm của Bàu Sấu và các Khu Ramsar khác, các ý kiến tại Hội thảo cho thấy mục tiêu mở rộng mạng lưới Ramsar cần đi cùng với nâng cao chất lượng quản lý các khu đã được công nhận, duy trì đặc tính sinh thái và tăng cường kết nối giữa các Khu Ramsar để trao đổi dữ liệu, kinh nghiệm, công nghệ và mô hình quản lý.
Tăng cường kết nối khoa học với thực tiễn quản lý đất ngập nước
Phần thảo luận tại Hội thảo tập trung trao đổi về những khó khăn trong quản lý các vùng đất ngập nước quan trọng; khả năng áp dụng các tiêu chí đánh giá tính dễ bị tổn thương; kiểm soát sinh vật ngoại lai xâm hại; phục hồi hệ sinh thái; xây dựng sinh kế thích ứng; yêu cầu đối với hồ sơ đề cử Ramsar và cơ chế tăng cường kết nối giữa các đơn vị trực tiếp quản lý các vùng đất ngập nước.
Từ các báo cáo khoa học và ý kiến trao đổi, Hội thảo cho thấy một số vấn đề cần tiếp tục được quan tâm trong thời gian tới.
Trước hết, cần tiếp tục điều tra, cập nhật và chuẩn hóa dữ liệu về đất ngập nước, nhất là dữ liệu về chế độ thủy văn, đa dạng sinh học, chất lượng môi trường, dịch vụ hệ sinh thái và các yếu tố gây sức ép. Đây là nền tảng để xác định các vùng đất ngập nước quan trọng, đánh giá suy thoái và nhận diện tính dễ bị tổn thương.
Bên cạnh đó, cần hoàn thiện các phương pháp, tiêu chí và công cụ hỗ trợ ra quyết định, bảo đảm kết quả nghiên cứu có thể sử dụng ở cấp quản lý. Việc đánh giá tính dễ bị tổn thương có ý nghĩa đặc biệt bởi cho phép chuyển từ cách tiếp cận phản ứng sau khi suy thoái đã xảy ra sang nhận diện sớm các nguy cơ và ưu tiên nguồn lực phòng ngừa, bảo tồn, phục hồi.
Công tác phục hồi cần dựa trên đặc tính của từng hệ sinh thái, đặc biệt là chế độ thủy văn, cấu trúc sinh cảnh và các quá trình sinh thái; đồng thời phải có hệ thống theo dõi sau phục hồi để đánh giá hiệu quả và điều chỉnh biện pháp quản lý.
Đặc biệt, bảo tồn đất ngập nước cần được gắn chặt hơn với sinh kế và lợi ích của cộng đồng địa phương. Những mô hình sử dụng thuận thiên, du lịch sinh thái, khai thác hợp lý sản phẩm và dịch vụ hệ sinh thái có thể vừa tạo nguồn thu nhập, vừa hình thành động lực kinh tế để cộng đồng tham gia bảo tồn nếu được thiết kế và quản lý phù hợp.
Góp phần cung cấp luận cứ khoa học cho quản lý, phục hồi và sử dụng bền vững đất ngập nước
Trong bối cảnh yêu cầu bảo tồn đa dạng sinh học, thích ứng với biến đổi khí hậu và phát triển bền vững ngày càng gắn kết chặt chẽ, thông điệp xuyên suốt từ Hội thảo là: quản lý đất ngập nước cần vượt ra khỏi tư duy bảo vệ thụ động để chuyển sang quản lý chủ động, thích ứng và dựa trên bằng chứng khoa học; bảo tồn phải gắn với phục hồi, sử dụng khôn khéo tài nguyên và sinh kế bền vững; mở rộng mạng lưới Ramsar phải đi cùng với nâng cao năng lực và chất lượng quản lý.
Việc tổ chức Hội thảo tại Vườn quốc gia Cát Tiên, nơi có Khu Ramsar Bàu Sấu với hơn hai thập kỷ kinh nghiệm quản lý, càng làm rõ ý nghĩa của sự kết nối này. Như chia sẻ của lãnh đạo Vườn quốc gia Cát Tiên, bảo tồn đất ngập nước không chỉ là bảo vệ diện tích mặt nước ở thời điểm hiện tại mà còn phải duy trì khả năng vận hành của cả hệ sinh thái trong tương lai.
Thông qua Hội thảo, sự kết nối giữa các viện nghiên cứu, cơ quan quản lý, vườn quốc gia, khu bảo tồn, Khu Ramsar, tổ chức quốc tế và cộng đồng thực hành về đất ngập nước tiếp tục được tăng cường. Đây là cơ sở quan trọng để chia sẻ dữ liệu và kinh nghiệm, thúc đẩy nghiên cứu ứng dụng, chuyển giao các phương pháp và công nghệ phù hợp, đồng thời cung cấp thêm luận cứ khoa học và thực tiễn cho việc triển khai các nhiệm vụ quản lý, bảo tồn và phục hồi đất ngập nước trong giai đoạn tới.
Đối với Viện Địa lý nhân văn và Phát triển bền vững, các kết quả và ý kiến trao đổi tại Hội thảo là nguồn tư liệu thực tiễn quan trọng để tiếp tục hoàn thiện các nghiên cứu về hiện trạng và tính dễ bị tổn thương của các vùng đất ngập nước quan trọng, đồng thời góp phần phát triển cách tiếp cận liên ngành giữa hệ sinh thái - con người - sinh kế - quản trị tài nguyên và phát triển bền vững.