Quan điểm của C.Mác và Ph.Ăngghen về lực lượng sản xuất ở giai đoạn hình thành quan niệm duy vật về lịch sử
Tóm tắt: Trong bài viết này, tác giả tập trung phân tích quan điểm của C.Mác và Ph.Ăngghen về lực lượng sản xuất ở giai đoạn hình thành quan niệm duy vật về lịch sử, thể hiện trong các tác phẩm được viết ở giai đoạn này, tiêu biểu là “Hệ tư tưởng Đức”. Với các ông, sự phát triển của lực lượng sản xuất không chỉ dẫn đến sự phát triển của nền sản xuất xã hội và con người, mà còn tác động mạnh mẽ đến quan hệ sản xuất, quan hệ xã hội, làm thay đổi kiến trúc thượng tầng xã hội và qua đó, dẫn đến những biến động to lớn trong lịch sử phát triển xã hội loài người.
Từ
khóa: Quan niệm duy vật về lịch sử, lực lượng sản xuất, quan hệ sản xuất.
Trong các tác phẩm được
viết ở giai đoạn hình thành quan niệm duy vật về lịch sử, tiêu biểu là Hệ tư
tưởng Đức, C.Mác và Ph.Ăngghen tập trung luận giải quan điểm mà các ông đã đưa
ra trước đó về lực lượng sản xuất. Trong tác phẩm này, hai ông tiếp tục khẳng
định vị trí và vai trò quyết định của hoạt động sản xuất ra đời sống vật chất
trực tiếp, đặc biệt là sự “sản xuất ra những tư liệu sinh hoạt” với tư cách yếu
tố, quá trình đầu tiên, căn bản nhất quyết định việc tách con người ra khỏi đời
sống loài vật, phân biệt con người với con vật, quy định sự hình thành và phát
triển lịch sử nhân loại. Với quan điểm này, C.Mác và Ph.Ăngghen đặc biệt nhấn
mạnh mối liên hệ giữa lực lượng sản xuất và “hình thức giao tiếp” (quan hệ sản
xuất), mà đặc trưng cơ bản của nó là sự phù hợp với một giai đoạn phát triển
nhất định của lực lượng sản xuất. Bên cạnh đó, khi đi sâu phân tích cấu trúc xã
hội, hai ông còn chỉ ra vai trò quyết định của “quan hệ giao tiếp”, phương thức
sản xuất, “xã hội công dân”, hay toàn bộ nền sản xuất vật chất đối với các lĩnh
vực sinh hoạt xã hội khác nhau, như sản xuất tinh thần, cơ cấu xã hội (nhất là
cơ cấu giai cấp), nhà nước và kiến trúc thượng tầng xã hội,... Do vậy, để làm
rõ quan điểm của các ông về vai trò của lực lượng sản xuất đối với sự phát
triển của lịch sử nhân loại, trong bài viết này, tác giả tập trung phân tích
một số nội dung cụ thể sau:
Thứ nhất, quan điểm của
C.Mác và Ph.Ăngghen về vai trò của lực lượng sản xuất đối với sự phát triển của
nền sản xuất xã hội và con người.
Cùng
với sự phát triển đi lên của nền sản xuất xã hội, lực lượng sản xuất không
ngừng thay đổi, ngày càng tự khẳng định vai trò quan trọng, quyết định đối với
sự phát triển nền sản xuất xã hội của toàn nhân loại.
Lực lượng sản xuất biểu
hiện mối quan hệ giữa con người với tự nhiên trong quá trình sản xuất vật chất.
Trong quá trình sản xuất, người lao động là chủ thể của hoạt động lao động sản
xuất. Với sức mạnh, kỹ năng của mình, các chủ thể hoạt động này sử dụng tư liệu
sản xuất, trước hết là công cụ lao động, tác động vào các đối tượng lao động để
sản xuất ra của cải vật chất. Theo đó, lực lượng sản xuất chính là năng lực
thực tiễn cải biến giới tự nhiên của con người nhằm đáp ứng nhu cầu đời sống
của mình. Nói về xu hướng phát triển của lực lượng sản xuất, C.Mác và
Ph.Ăngghen đã chỉ ra sự phát triển của nó với một chuỗi các giai đoạn và trình
độ khác nhau, theo hướng ngày càng cao hơn, bởi nó không những kế thừa sự phát
triển của những giai đoạn trước, mà còn được bổ sung bởi sự phát triển của thế
hệ mới.
Lấy công cụ sản xuất là
đặc trưng cho giai đoạn phát triển lực lượng sản xuất về mặt kỹ thuật, C.Mác và
Ph.Ăngghen đã chỉ ra các giai đoạn khác nhau của nó. Giai đoạn thứ nhất, con
người sử dụng những “công cụ sản xuất tự nhiên”, như ruộng, nước… Giai đoạn thứ
hai, con người sử dụng những “công cụ sản xuất do nền văn minh tạo ra” [3,
tr.93]. Ở giai đoạn này, có hai giai đoạn hợp thành: Giai đoạn của những công
cụ sản xuất thủ công và giai đoạn công cụ là máy móc. Kinh tế công nghiệp chủ
yếu dựa vào việc sử dụng máy móc và hoạt động của người công nhân phụ thuộc vào
yêu cầu của máy móc: “Thứ lao động ngay từ đầu gắn liền với máy móc dù còn ở
dưới hình thức hết sức thô sơ, đã nhanh chóng tỏ ra là thứ lao động có khả năng
phát triển nhất” [3, tr.79]. Hai ông nhận thấy, lực lượng sản xuất hiện thời
đang chuyển sang một giai đoạn, một trình độ mới, gắn liền với sự “tồn tại có
tính chất lịch sử thế giới” [3, tr.49]. Nó đang đạt được sự phát triển phổ
biến, đó là nền “công nghiệp lớn” và bản thân giai đoạn này cũng chứa đựng bên
trong nó một chuỗi quá trình phát triển.
Cùng với mặt kỹ thuật,
tính chất xã hội của lực lượng sản xuất cũng thể hiện xu hướng phát triển ngày
càng cao của nó. Theo C.Mác và Ph.Ăngghen, đây là quá trình kết tinh, vật hóa
các mối quan hệ ngày càng sâu sắc, rộng lớn giữa con người và con người. Công
cụ lao động do con người tạo ra và đó là “sức mạnh của tri thức đã được vật thể
hóa”, nó “nhân” lên sức mạnh của con người trong quá trình lao động
sản xuất; đồng thời, cùng với quá trình tích lũy kinh nghiệm, những phát minh
và sáng chế kỹ thuật của con người đã làm cho công cụ sản xuất không ngừng thay
đổi và từng bước hoàn thiện. Và, chính sự cải biến và hoàn thiện không ngừng
công cụ lao động đã làm biến đổi toàn bộ tư liệu sản xuất.
Trong quá trình sản xuất
vật chất, con người đã tạo ra thế giới sản phẩm ngày càng phong phú, đa dạng.
Thế giới sản phẩm này không chỉ mang ý nghĩa là những hình thái vật thể cho sự
thỏa mãn những nhu cầu sản xuất trực tiếp, mà còn cho phép con người không
ngừng phát triển và hoàn thiện bản thân mình. Con người với tư cách chủ thể
hoạt động lao động, thông qua quá trình lao động, đã đối tượng hóa chính bản
thân mình vào thế giới đối tượng, vào sản phẩm lao động và thông qua quá trình
trao đổi, hưởng dụng sản phẩm ấy, con người quan hệ với nhau, tiếp nhận ở nhau
cái tính chất người đã kết tinh trong sản phẩm của họ. C.Mác và Ph.Ăngghen
viết: “Sản xuất ra những tư liệu sinh hoạt của mình, như thế con người đã gián
tiếp sản xuất ra chính đời sống vật chất của mình” [3, tr.29]. Bằng cách đó,
con người luôn không ngừng sản xuất ra những tư liệu sinh hoạt mới và nhờ đó,
tạo ra tồn tại xã hội mới cho mình.
Trong thời đại ngày nay,
những thành tựu của khoa học, khi được ứng dụng vào kỹ thuật, đã giúp cho con
người cải biến, hiện đại hóa công cụ lao động, công nghệ sản xuất, tạo ra các
công cụ, công nghệ mới, hiện đại làm tăng khối lượng sản phẩm, tăng năng suất
lao động, tăng độ bền sản phẩm, giảm lao động sống và chi phí cho sản xuất. Đến
lượt mình, chính điều này lại đòi hỏi phải tăng lượng kiến thức phục vụ sản
xuất trực tiếp cho người lao động, cung cấp kỹ năng, kỹ xảo lao động, nâng cao
trình độ của người lao động, tạo nhân cách, tác phong, thái độ và lối sống công
nghiệp hiện đại đối với lao động. Việc chuyển phương thức lao động chủ yếu bằng
thể lực thành lao động trí tuệ là chủ yếu đã góp phần thúc đẩy sự phân tầng xã
hội theo những lát cắt mới, dẫn đến sự ra đời các tầng lớp xã hội mới, làm thay
đổi vị thế của các giai tầng xã hội cũ.
Cách đây gần hai thế kỷ,
C.Mác đã viết: “Theo đà phát triển của đại công nghiệp, việc tạo ra của cải
thực tế trở nên ít phụ thuộc vào thời gian lao động và vào một số lượng lao
động đã chi phí…, mà… phụ thuộc vào trình độ chung của khoa học và vào sự tiến
bộ của kỹ thuật, hay là phụ thuộc vào việc ứng dụng khoa học ấy vào sản xuất…
Thiên nhiên không chế tạo ra máy móc” [4, tr.368-369] và “tất cả những cái đó
đều là sản phẩm lao động của con người..., đều là sức mạnh đã vật hóa của tri
thức. Sự phát triển của tư bản cố định là chỉ số cho thấy tri thức xã hội phổ
biến (Wissen knowledge) đã chuyển hóa đến mức độ nào thành lực lượng sản xuất
trực tiếp, do đó nó cũng là chỉ số cho thấy những điều kiện của chính quá trình
sống của xã hội đã phục tùng đến mức độ nào sự kiểm soát của trí tuệ phổ biến”
[4, tr.372].
Quan điểm đó của C.Mác đã
được thực tiễn lịch sử nhân loại minh chứng. Trong thời đại ngày nay, tri thức
khoa học không chỉ được vật hóa, được kết tinh vào mọi yếu tố của lực lượng sản
xuất, mà còn in dấu ấn vào mọi hình thức tổ chức sản xuất, kinh doanh của con
người nhanh chóng như hiện nay. Nhờ đó, người lao động không những được giải
phóng khỏi các chức năng vận chuyển, như vận chuyển năng lượng, công nghệ, mà
cả những chức năng kiểm tra quản lý, chức năng lôgíc… Cũng nhờ đó, con người
ngày càng được giải phóng khỏi quá trình sản xuất trực tiếp và từ chỗ là người
thực hiện giản đơn các thao tác máy móc, con người trở thành chủ thể của sản
xuất với chức năng chủ yếu và quan trọng nhất là sáng tạo. Đến lượt mình, điều
này cho phép một lượng lớn lao động chuyển dịch dần sang các lĩnh vực sản xuất dịch
vụ và tinh thần, làm cho lao động trí tuệ, nguồn lực trí tuệ có khả năng thay
thế lao động chân tay và nguồn lực vật chất hữu hình, dần chiếm vị trí chủ đạo,
quyết định đối với sự phát triển của nền sản xuất xã hội. Và do vậy, sự phát
triển toàn diện của lực lượng sản xuất, đặc biệt là con người và những năng lực
sáng tạo của trí tuệ đã trở thành mục tiêu hàng đầu cho sự phát triển của nền
sản xuất xã hội.
Thứ hai, quan điểm của
C.Mác và Ph.Ăngghen về vai trò của lực lượng sản xuất đối với sự phát triển của
quan hệ sản xuất.
Sự biến đổi của lực lượng
sản xuất kéo theo sự thay đổi trong quan hệ sản xuất. Quan hệ sản xuất là quan
hệ giữa người với người trong quá trình sản xuất vật chất. Quan hệ sản xuất bao
gồm ba mặt: Quan hệ giữa người với người trong việc sở hữu tư liệu sản xuất,
quan hệ trong tổ chức và quản lý sản xuất, quan hệ trong phân phối sản phẩm xã
hội, trong đó quan hệ giữa người với người trong việc sở hữu tư liệu sản xuất
là quan trọng nhất, đóng vai trò quyết định. Theo C.Mác và Ph.Ăngghen, quan hệ
sản xuất, chế độ sở hữu tư liệu sản xuất là cơ sở để phân biệt các giai cấp,
quy định tính chất của một hình thái kinh tế - xã hội. Sự phát triển của các
hình thái kinh tế - xã hội, xét đến cùng, là sự phát triển của lực lượng sản
xuất. Song hành với một chuỗi các giai đoạn, trình độ khác nhau của lực lượng
sản xuất là một chuỗi các trình độ khác nhau của “hình thức giao tiếp” được đặc
trưng bằng các hình thức sở hữu. Tương ứng với các giai đoạn, trình độ khác
nhau của lực lượng sản xuất là sự tồn tại của các hình thức sở hữu, như sở hữu
bộ lạc, sở hữu công xã, nhà nước hoặc sở hữu đẳng cấp hay sở hữu phong kiến gắn
liền với việc đất đai được mở rộng hơn, “sở hữu tư nhân hiện đại” hay sở hữu tư
nhân tư bản chủ nghĩa.
Nói đến quan hệ sản xuất
là phải nói đến hình thức, chế độ sở hữu thống trị, tức là phải nói đến lực
lượng sản xuất xã hội có lợi ích kinh tế cơ bản, chi phối kết cấu kinh tế, đời
sống xã hội nói chung. Quan hệ sản xuất quy định mục đích xã hội của nền sản
xuất, trong đó mục đích chủ đạo thể hiện lợi ích kinh tế cơ bản được ý thức bởi
các cá nhân sở hữu những tư liệu sản xuất cơ bản của xã hội.
Sự phát triển của lực
lượng sản xuất, đặc biệt là công cụ lao động, kéo theo sự thay đổi của quan hệ
sản xuất. Khi nhân tố đóng vai trò quyết định đối với sự phát triển của nền sản
xuất xã hội là tài nguyên thiên nhiên, trong đó chủ yếu là đất đai và điều kiện
tự nhiên thuận lợi, thì khi đó, theo C.Mác và Ph.Ăngghen, “với những công cụ
sản xuất tự nhiên” này, “ các cá nhân bị phụ thuộc vào tự nhiên…”; và do vậy,
“sở hữu (sở hữu ruộng đất) cũng xuất hiện ra là sự thống trị trực tiếp và tự
nhiên” [3, tr.93]. Còn ở giai đoạn đã có sự xuất hiện của “những
công cụ sản xuất do nền văn minh tạo ra”, thì “sở hữu xuất hiện ra là sự thống
trị của lao động, đặc biệt là của lao động tích lũy, của tư bản” [3, tr.93].
Cuộc cách mạng khoa học –
kỹ thuật thế kỷ XVIII với máy hơi nước làm đại diện đã “đem” những thao tác do
bàn tay con người trong công cụ thủ công “giao cho” máy móc thực hiện. Đặc
trưng của giai đoạn kinh tế công nghiệp này là công cụ sản xuất cơ khí hay
thường gọi là máy móc. Sự xuất hiện máy móc và các công trường thủ công đã làm
cho những quan hệ sở hữu lập tức biến đổi. Tương ứng với giai đoạn này là “hình
thức sở hữu tư nhân hiện đại” hay sở hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa về tư liệu
sản xuất mà cụ thể là máy móc, phương tiện và tiền tệ…; từ đó, những biện pháp
bóc lột mới đối với sức lao động của người công nhân đã xuất hiện nhằm khai
thác tối đa các nguồn tài nguyên thiên nhiên, nắm quyền quyết định trong sản
xuất và chi phối sự phát triển của xã hội.
Trong bối cảnh đó, lực
lượng sản xuất không thể phát triển ở ngoài quan hệ sản xuất tương ứng với nó.
Chính hoạt động theo đuổi lợi ích kinh tế, lợi ích chỉ có thể hình thành trong
quan hệ giữa người với người trong sản xuất, đã thúc đẩy sự phát triển của lực
lượng sản xuất. Khi quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực
lượng sản xuất, thì lực lượng sản xuất chính là lực lượng của các cá nhân đang
sở hữu nó, còn quan hệ sản xuất, hình thức sở hữu thống trị chính là hình thức
tất yếu mà trong đó, lực lượng sản xuất đang phát triển.
Trong hình thái kinh tế
tư bản chủ nghĩa, các cá nhân sử dụng sở hữu tư nhân để tự do kinh doanh dưới
hình thức các công
ty tư nhân nhằm thu lợi nhuận thông qua cạnh tranh trong các
điều kiện của thị trường tự do. Mọi sự phân chia của cải xã hội đều thông qua
quá trình mua bán của các thành phần tham gia vào quá trình kinh tế. Các công
ty tư nhân tạo thành thành phần kinh tế tư nhân là thành phần kinh tế chủ yếu
của nền kinh tế tư bản chủ nghĩa. Các yếu tố, như quyền tư hữu, thành phần kinh
tế tư nhân, kinh doanh tự do, cạnh tranh, động lực lợi nhuận, tính tự định
hướng, tự tổ chức, thị trường lao động, định hướng thị trường, bất bình đẳng
trong phân phối của cải xã hội là các khái niệm gắn liền với nền kinh tế tư bản
chủ nghĩa.
Như vậy, với sự phát
triển của lực lượng sản xuất, đặc biệt là sự tác động của nó đến công cụ sản
xuất đã làm cho quan hệ sản xuất xã hội thay đổi một cách cơ bản. Giai cấp nào
trong xã hội nắm quyền sở hữu về tư liệu sản xuất (trang thiết bị, máy móc,…
thì giai cấp đó là giai cấp thống trị về mặt kinh tế và cùng với đó là sự thống
trị về mặt xã hội. Về điều này, C.Mác và Ph. Ăng ghen chỉ rõ: “ Giai cấp nào là
lực lượng vật chất thống trị trong xã hội thì cũng là lực lượng tinh thần thống
trị trong xã hội”. Rằng, “giai cấp nào chi phối những tư liệu sản xuất vật chất
thì cũng chi phối luôn cả những tư liệu sản xuất tinh thần, thành thử nói chung
tư tưởng của những người không có tư liệu sản xuất tinh thần cũng đồng thời bị
giai cấp thống trị đó chi phối” [3, tr.66].
Theo đà tăng lên của tỷ
lệ lao động trí óc, sự phát triển của khoa học và kỹ thuật sản xuất, cũng như
mức độ tự động hóa sản xuất, nền sản xuất xã hội sẽ có nhiều đảo lộn. Nhận thấy
sự xuất hiện của hiện tượng này trong tương lai, C.Mác đã đưa dự báo về một nền
sản xuất không còn dựa trên giá trị trao đổi mà ở đó, sẽ có những đảo lộn lớn:
“Một khi lao động dưới hình thái trực tiếp của nó không còn là nguồn của cải vĩ
đại nữa thì thời gian lao động không còn là và phải không còn là thước đo của
cải nữa, do đó giá trị trao đổi không còn là thước đo giá trị sử dụng nữa. Lao
động thặng dư của quần chúng công nhân không còn là điều kiện để phát triển của
cải phổ biến… Do đó, nền sản xuất dựa trên giá trị trao đổi sụp đổ” [4,
tr.370]. Nghĩa là, nếu trước kia, con người trực tiếp tham gia vào quá trình
sản xuất vật chất, với vai trò to lớn của nguồn lực sức lao động, lao động chân
tay là phổ biến, thì khi nền sản xuất không còn dựa trên giá trị trao đổi xuất
hiện, con người sẽ được giải phóng hoàn toàn khỏi chức năng sản xuất trực tiếp,
có điều kiện để phát triển lao động trí tuệ và sử dụng chất xám của mình để vận
hành mọi quá trình sản xuất xã hội. Lao động trí tuệ sẽ trở thành lao động phổ
biến trong xã hội. Với sự thay đổi quan trọng đó, thước đo giá trị của sức lao
động trước kia không còn phù hợp để làm thước đo giá trị hàm lượng chất xám và
trí tuệ mà người lao động bây giờ tạo ra.
C.Mác đã chỉ ra cơ chế
bóc lột giá trị thặng dư trong nền sản xuất tư bản chủ nghĩa là nhà tư bản mua
sức lao động của người công nhân và hoàn toàn có quyền sử dụng sức lao động của
họ trong một khoảng thời gian nhất định. Phần thời gian thừa ra sau khi người
công nhân đã hoàn thành công việc với lượng giá trị đủ để trả lương cho mình và
cho nhà tư bản, nhà tư bản mua thêm nguyên liệu và trả thêm hao phí máy móc để
tiếp tục sản xuất, bóc lột phần giá trị thặng dư đó. Khi đó, sự chiếm hữu tri
thức có thể được giải thích như là chiếm hữu sức lao động của người lao động,
tức là người lao động thỏa thuận bán quyền làm chủ các sản phẩm trí tuệ của
mình cho nhà tư bản. Như vậy, trong yếu tố sức lao động ở đầu vào của quá trình
sản xuất phải bao hàm cả sức lao động trực tiếp của người lao động (thể lực và
trí lực) và sức lao động trí tuệ kết tinh trong những phát minh công nghệ có
khả năng tạo ra giá trị thặng dư và sức lao động kết tinh trong hàng hóa đang
ngày càng tăng trong thời đại ngày nay. Phân tích này của C.Mác cho chúng ta
thấy, trong thời đại hiện nay, cách thức tổ chức, quản lý và phân công lao động
trong nền sản xuất xã hội cần phải được thay đổi mạnh mẽ để phù hợp với vai trò
ngày càng gia tăng của yếu tố tri thức trong lực lượng sản xuất, để có thể ứng
dụng được những phát minh công nghệ có hàm lượng tri thức cao.
Thứ ba, quan điểm của
C.Mác và Ph.Ăngghen về vai trò tác động của lực lượng sản xuất đối với kiến
trúc thượng tầng.
Theo C.Mác và Ph.Ăngghen,
kiến trúc thượng tầng là bộ phận chịu sự tác động một cách gián tiếp từ những
thay đổi của lực lượng sản xuất. Kiến trúc thượng tầng bao gồm toàn bộ những
quan điểm chính trị, pháp quyền, triết học, đạo đức, văn hóa,… cùng với những
thiết xã hội tương ứng của chúng như nhà nước, đảng phái, giáo hội, các đoàn
thể xã hội…, do vậy mà sự biến đổi của cơ sở hạ tầng dẫn đến sự biến đổi của
kiến trúc thượng tầng là một quá trình hết sức phức tạp. Thêm nữa, sự thay đổi
của quan hệ sản xuất còn là yếu tố trực tiếp quy định kiến trúc thượng tầng của
xã hội. Đến lượt mình, kiến trúc thượng tầng trực tiếp xác lập tính toàn vẹn
của đời sống xã hội, biểu hiện quan hệ sản xuất dưới hình thức các quan hệ
chính trị, pháp quyền và tinh thần xã hội nói chung.
Cuộc cách mạng khoa học
cuối thế kỷ XVIII đã làm thay đổi quan hệ sản xuất với sự xuất hiện của sở hữu
tư nhân hiện đại – sở hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa, tương ứng với nó là nhà
nước tư sản hiện đại. C.Mác và Ph.Ăngghen khẳng định: “Nhà nước này bị những
người tư hữu nắm lấy dần dần bằng thuế khóa và hoàn toàn rơi vào tay họ qua
công trái; bản thân sự tồn tại của nhà nước đó được điều tiết bởi sự lên xuống
của thị giá chứng khoán nhà nước, ở Sở giao dịch, sự tồn tại ấy hoàn toàn phụ
thuộc vào tín dụng thương nghiệp mà những người tư hữu, những nhà tư sản, cấp
cho nhà nước” [3, tr.89-90]. Khẳng định đó của C.Mác và Ph.Ăngghen cho thấy,
dưới tác động của khoa học - kỹ thuật, cách thức quản lý và phong cách làm việc
của nhà nước tư sản cũng đã ít nhiều buộc phải thay đổi.
Nói về đặc trưng của nhà
nước, C.Mác và Ph.Ăngghen viết: “Do chỗ sở hữu tư nhân được giải thoát khỏi
cộng đồng (Gemeinwesen) nên nhà nước đã tồn tại độc lập bên cạnh và bên ngoài
xã hội công dân, nhưng thực ra nhà nước ấy chẳng phải là cái gì khác mà chỉ là
hình thức tổ chức mà những người tư sản buộc phải dùng đến để bảo đảm lẫn cho
nhau sở hữu và lợi ích của họ, ở ngoài nước cũng như ở trong nước” [3, tr.90].
Bản chất của nhà nước không gì khác ngoài bảo vệ quyền và lợi ích của một giai
cấp trong xã hội, cụ thể trong xã hội tư bản là của giai cấp tư sản với sở hữu
tư nhân.
C.Mác và Ph.Ăngghen còn
cho rằng, sự tồn tại của nhà nước không tách rời giai cấp, nhất là giai cấp
thống trị, và sự hình thành, phát triển của luật pháp (tư pháp) không tách rời
sở hữu tư nhân. Bởi lẽ, “nhà nước là hình thức mà các cá nhân thuộc một giai
cấp thống trị dùng để thể hiện lợi ích chung của họ và là hình thức dưới đó
toàn bộ xã hội công dân của một thời đại được biểu hiện một cách tập trung, nên
từ đó có thể rút ra kết luận là mọi thiết chế công cộng đều thông qua nhà nước
và mang một hình thức chính trị” [3, tr.90]. Và, “mỗi khi sự phát triển của
công thương nghiệp tạo ra những hình thức giao tiếp mới, chẳng hạn như những
công ty bảo hiểm, v.v., thì luật pháp buộc phải luôn luôn chấp nhận đó là những
hình thức mới của việc chiếm hữu sở hữu” [3, tr.93].
Sự phát triển của cuộc
cách mạng khoa học – kỹ thuật đã làm cho nền sản xuất tư bản chủ nghĩa tăng
nhanh và kéo theo đó là sự thay đổi về kiến trúc thượng tầng, đặc biệt là vai
trò của quản lý nhà nước. Chính đặc điểm kinh tế cơ bản là quyền tư hữu đối với
tư liệu sản xuất và kinh tế thị trường tự do đã dẫn đến sự xuất hiện các đặc
điểm khác về mặt luật pháp, triết học và tâm lý của xã hội tư bản chủ
nghĩa. Trong xã hội tư bản, quyền tư hữu đối với tư liệu sản xuất là
thiêng liêng, được xã hội, nhà nước và pháp luật bảo vệ, sự chuyển đổi quyền sở
hữu phải thông qua giao dịch dân sự được pháp luật và xã hội quy định. Chỉ khi
nào, C.Mác và Ph.Ăng ghen nhấn mạnh, “những cá nhân liên hợp mà chiếm hữu toàn
bộ tổng thể những lực lượng sản xuất thì chế độ tư hữu cũng bị thủ tiêu” [3,
tr.98].
Như vậy, theo C.Mác và
Ph.Ăngghen, sự phát triển của lực lượng sản xuất luôn ảnh to lớn đến đời sống
kinh tế - xã hội; nó tác động đến mọi mặt của đời sống kinh tế - xã hội. Đặc
biệt, sự xuất hiện của cuộc cuộc mạng khoa học - kỹ thuật cuối thế kỷ XVIII và
cuối thế kỷ XIX dẫn đến sự thay đổi sâu sắc toàn bộ nền sản xuất xã hội, chuyển
xã hội từ hình thái kinh tế - xã hội phong kiến sang hình thái kinh tế - xã hội
tư bản chủ nghĩa, đánh dấu một bước ngoặt quan trọng trong lịch sử nhân loại.
Như vậy, có thể nói, ở
giai đoạn hình thành quan niệm duy vật về lịch sử C.Mác và Ph.Ăngghen luôn giữ
quan điểm cho rằng, sự phát triển của lực lượng sản xuất không chỉ dẫn đến sự
phát triển của nền sản xuất xã hội và con người, mà còn tác động mạnh mẽ đến
quan hệ sản xuất, quan hệ xã hội làm thay đổi kiến trúc thượng tầng xã hội và
qua đó, dẫn đến những biến động to lớn trong lịch sử phát triển xã hội loài
người.
Tài liệu tham khảo
[1] Phạm Văn Chung
(2007), Triết học Mác về lịch sử, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
[2] Nguyễn Cảnh Hồ
(2003), Về mối quan hệ giữa khoa học và lực lượng sản xuất trực tiếp, Tạp chí
Triết học, số 7 (146).
[3] C.Mác và Ph.Ăngghen
(1995), Toàn tập, t.3, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
[4] C.Mác và Ph.Ăngghen
(2000), Toàn tập, t.46, phần II, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
[5] Phạm Ngọc Quang
(2003), Kinh tế tri thức – Xét từ giác độ lực lượng sản xuất và quan hệ sản
xuất, Tạp chí Triết học, số 3 (142).