Xây dựng văn hóa cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam trong kỷ nguyên phát triển mới của dân tộc
Văn hóa chính trị nói chung và văn hóa cầm quyền nói riêng có ảnh hưởng quan trọng đến sự bền vững của thể chế chính trị và sự phát triển nói chung của một quốc gia. Đó là hệ thống các giá trị trong hoạt động lãnh đạo, quản lý, thể hiện trí tuệ, bản lĩnh của đảng cầm quyền và người lãnh đạo, quản lý. Các giá trị đó tạo nên bản chất và sức sống của đảng cầm quyền, là chất kết dính giữa Đảng với nhân dân, tạo nên sức mạnh cho Đảng và cho cách mạng. Trong bài viết này, tác giả tập trung phân tích những nội dung cơ bản của văn hóa cầm quyền, từ đó đề xuất giải pháp nhằm tăng cường xây dựng văn hóa cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam trong kỷ nguyên phát triển mới của dân tộc.
1. Đặt vấn đề
Đất nước ta đang bước vào
một kỷ nguyên phát triển mới với nhiều thời cơ để phát triển nhưng cũng có
không ít thách thức, khó khăn. Sau 40 năm tiến hành công cuộc đổi mới, Việt Nam
đã gặt hái được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Từ một nền kinh tế
lạc hậu, nông nghiệp là chủ yếu, đến nay, Việt Nam đã trở thành một nền kinh tế
năng động, hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế toàn cầu, đời sống vật chất và
tinh thần của nhân dân không ngừng được nâng cao. Vị thế của Việt Nam trên
trường quốc tế ngày càng được củng cố. Những thành tựu đó là minh chứng sống
động cho sự lãnh đạo đúng đắn, sáng suốt của Đảng Cộng sản Việt Nam - yếu tố
quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Trong bối cảnh ấy, việc xây
dựng, nâng cao văn hóa chính trị nói chung, văn hóa cầm quyền của Đảng nói
riêng là hết sức cần thiết, cấp bách, có ý nghĩa sống còn đối với sự tồn vong
và phát triển của Đảng, của dân tộc. Văn hóa cầm quyền của Đảng có vai trò quan
trọng trong quá trình đổi mới và phát triển đất nước. Đây là cơ sở quan trọng
để củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng và chế độ, tạo sự đồng thuận
trong xã hội, huy động sức mạnh đoàn kết của toàn dân tộc để thực hiện khát
vọng xây dựng đất nước phồn vinh, hạnh phúc. Hồ Chí Minh từng nói: “Đảng ta là
một đảng cầm quyền. Mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức
cách mạng, thật sự cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư. Phải giữ gìn đảng ta
thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung
thành của nhân dân” (Hồ Chí Minh 2011, tập 12: 498). Trong quá trình lãnh đạo
đất nước, Đảng Cộng sản Việt Nam thực hiện sứ mệnh lãnh đạo xây dựng chế độ
mới, con người mới, nền văn hóa mới. Đảng không có mục đích nào khác ngoài mang
lại nền độc lập, tự do, ấm no, hạnh phúc cho nhân dân. Trong sự nghiệp cách
mạng to lớn, đầy vẻ vang nhưng cũng đầy khó khăn gian khổ ấy, Đảng Cộng sản
Việt Nam vừa là hạt nhân lãnh đạo các tổ chức của hệ thống chính trị, vừa là
thành viên trong hệ thống chính trị. Hiện nay, kỷ nguyên phát triển mới của đất
nước đã và đang đặt ra nhiều cơ hội và thách thức đòi hỏi Đảng ta phải không
ngừng nâng cao bản lĩnh, trí tuệ, phẩm chất đạo đức để đáp ứng đòi hỏi của thực
tiễn. Bên cạnh đó, tác động tiêu cực của mặt trái nền kinh tế thị trường và sự
suy thoái đạo đức, lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên, kể cả cán bộ có
chức có quyền, đã làm ảnh hưởng đến niềm tin của nhân dân đối với Đảng và chế
độ. Đảng ta nhận định: “quan liêu, cửa quyền, xa thực tế, xa quần chúng là nguy
cơ của một đảng cầm quyền, là nguồn gốc của biết bao hư hỏng” (Đảng Cộng sản
Việt Nam 2004, tập 37: 803). Trong tình hình ấy, việc thường xuyên coi trọng
xây dựng, chỉnh đốn Đảng, xây dựng, nâng cao văn hóa cầm quyền của Đảng là hết
sức cấp thiết, có ý nghĩa quan trọng trong bối cảnh hiện nay.
2. Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu
Để làm rõ vấn đề xây dựng
văn hóa cầm quyền của Đảng trong kỷ nguyên mới, bài viết vận dụng phương pháp
luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử nhằm xem xét sự vật
trong trạng thái vận động và mối liên hệ mật thiết với thực tiễn cách mạng. Tác
giả sử dụng cách tiếp cận chính trị học làm hướng chủ đạo để phân tích vai trò
của Đảng Cộng sản Việt Nam với tư cách là hạt nhân lãnh đạo toàn diện hệ thống
chính trị. Cách tiếp cận này cho phép làm rõ mối quan hệ hữu cơ giữa Đảng và
Nhà nước, nơi văn hóa cầm quyền được đo lường cụ thể qua hiệu quả quản lý và sự
thể chế hóa đường lối của Đảng thành pháp luật. Đồng thời, bài viết đi sâu phân
tích tính chính đáng trong sự cầm quyền thông qua “lòng dân” và niềm tin của
nhân dân – yếu tố cốt lõi tạo nên sức mạnh và sự tồn vong của chế độ.
Về phương pháp cụ thể,
tác giả sử dụng và kết hợp một số phương pháp như: phương pháp phân tích và
tổng hợp, phương pháp nghiên cứu tài liệu và phương pháp lôgic – lịch sử...
Trước hết, phương pháp phân tích và tổng hợp được sử dụng để làm rõ các nội
dung cốt lõi của văn hóa cầm quyền như văn hóa trách nhiệm, văn hóa liêm chính
và văn hóa dùng người. Phương pháp nghiên cứu tài liệu giúp tác giả khai thác
hệ thống văn kiện của Đảng qua các thời kỳ lịch sử và di sản tư tưởng Hồ Chí
Minh để tạo nền tảng lý luận vững chắc. Đồng thời, phương pháp lôgic - lịch sử
dùng để đánh giá những thành tựu cũng như những thách thức đang đặt ra trong
thực tiễn hiện nay nhằm đề xuất các giải pháp phù hợp cho việc xây dựng văn hóa
cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam, đáp ứng yêu cầu của kỷ nguyên phát triển
mới của dân tộc.
3. Văn hóa cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam: một số nội dung
chủ yếu
Văn hóa cầm quyền của
đảng và một đảng cầm quyền đạt đến chuẩn mực văn hóa được thể hiện trên các
phương diện: Thứ nhất, đảng cầm quyền phải hiện thực hóa được mục tiêu
đã đề ra nhằm thực hiện cam kết đối với nhân dân. Chỉ khi hiện thực hóa được
mục tiêu thì đảng mới có được lòng dân, củng cố được lòng tin của nhân dân đối
với đảng. Đây là hạt nhân nòng cốt trong văn hóa của đảng cầm quyền. Thứ hai,
văn hóa cầm quyền của đảng còn thể hiện ở mối quan hệ giữa đảng với nhà nước,
thông qua nhà nước và được thể hiện bằng văn hóa quản lý của nhà nước. Trong
quá trình tổ chức lãnh đạo nhà nước, trí tuệ, đạo đức, bản lĩnh chính trị của
đảng được hiện thực hóa thông qua hoạt động quản lý của nhà nước. Đồng thời,
văn hóa cầm quyền còn thể hiện ở ý thức trách nhiệm, ở phẩm chất đạo đức của
người cán bộ, đảng viên, ở văn hóa “dùng người” của đảng cầm quyền.
Văn hóa cầm quyền của
Đảng Cộng sản Việt Nam có những nội dung chủ yếu như sau:
Thứ nhất, văn hóa cầm quyền của
Đảng thể hiện trước hết ở việc hiện thực hóa các mục tiêu đã được xác định
trong cương lĩnh, nghị quyết, đường lối của Đảng. Cam kết chính trị của Đảng
đối với nhân dân được thể hiện trong mục tiêu của Đảng, không chỉ dừng lại ở
việc giành chính quyền, mà ở mục tiêu cao hơn là đem lại cuộc sống ấm no, tự
do, hạnh phúc cho nhân dân. Đảng luôn xác định, “ngoài lợi ích của dân tộc, của
Tổ quốc, thì Đảng không có lợi ích nào khác” (Hồ Chí Minh, 2011, tập 5: 290).
Tính chính đáng về sự cầm quyền của Đảng được thể hiện thông qua những thành
tựu trong phát triển kinh tế, cải thiện đời sống của nhân dân, đáp ứng sự kỳ
vọng của xã hội đối với các chính sách phát triển kinh tế - xã hội; đồng thời
bảo đảm và không ngừng mở rộng dân chủ, công bằng xã hội, giữ vững an ninh,
trật tự, tạo môi trường sống an toàn, ổn định để nhân dân được thụ hưởng và
thực hiện các quyền cơ bản trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật. Để khẳng
định và củng cố tính chính đáng của sự cầm quyền, chứng minh Đảng xứng đáng với
sự tín nhiệm, tin tưởng của nhân dân, trong quá trình lãnh đạo, cầm quyền, Đảng
phải lựa chọn đường lối đúng đắn và đề ra mục tiêu phù hợp với nguyện vọng
chính đáng của nhân dân, được thể chế hóa thông qua cương lĩnh chính trị và các
nghị quyết của Đảng. Theo đó, cương lĩnh chính trị của Đảng chính là sự kết
tinh các giá trị văn hóa, trí tuệ và bản lĩnh chính trị của Đảng, hướng đến mục
tiêu cao nhất là phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân. Việc tổ chức thực hiện
thắng lợi các nghị quyết, đường lối của Đảng đòi hỏi sự vào cuộc đồng bộ của cả
hệ thống chính trị, sự đồng thuận và nỗ lực của toàn Đảng, toàn dân và toàn
quân với quyết tâm cao và phương thức lãnh đạo phù hợp, như Hồ Chí Minh từng
nói: “Muốn làm tốt mọi việc thì phải lãnh đạo tốt… Lãnh đạo tốt nghĩa là phải
thực hiện đầy đủ nghị quyết của Đảng, biến quyết tâm của Đảng thành quyết tâm
của nhân dân” (Hồ Chí Minh, 2011, tập 11: 30).
Thứ hai, văn hóa cầm quyền còn
được thể hiện ở mối quan hệ giữa Đảng với Nhà nước. Mối quan hệ này biểu hiện ở
sự thể chế hóa chủ trương của Đảng thành pháp luật của Nhà nước, hiện thực hóa
vai trò lãnh đạo của Đảng bằng và thông qua hoạt động quản lý của Nhà nước. Ở
đây, văn hóa lãnh đạo của Đảng và văn hóa quản lý của Nhà nước thâm nhập vào
nhau. Uy tín, năng lực lãnh đạo và giá trị của Đảng cầm quyền được đo lường
bằng cách thức tổ chức, bằng văn hóa quản lý của Nhà nước. Nói cách khác, văn
hóa quản lý của Nhà nước là thước đo cụ thể đối với văn hóa cầm quyền của Đảng.
Trong điều kiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, Đảng là một bộ phận của
hệ thống chính trị, là hạt nhân lãnh đạo của hệ thống chính trị, Đảng tôn trọng
Nhà nước, tôn trọng pháp luật, tôn trọng các tổ chức chính trị - xã hội khác:
“Đảng không thể đòi hỏi Mặt trận thừa nhận quyền lãnh đạo của mình, mà phải tỏ
ra là một bộ phận trung thành nhất, hoạt động nhất và chân thực nhất. Chỉ trong
đấu tranh và công tác hàng ngày, khi quần chúng rộng rãi thừa nhận chính sách
đúng đắn và năng lực lãnh đạo của Đảng, thì Đảng mới giành được địa vị lãnh
đạo” (Hồ Chí Minh, 2011, tập 3: 139). Đường lối của Đảng được Nhà nước triển
khai hiệu quả chính là sự thể hiện chiều sâu trí tuệ, bản lĩnh chính trị và văn
hóa cầm quyền của Đảng.
Thứ ba, văn hóa cầm quyền thể
hiện ở ý thức trách nhiệm, đạo đức của người đảng viên, nhất là đảng viên giữ
vị trí lãnh đạo. Trách nhiệm của người cán bộ, đảng viên càng rõ, ý thức làm
tròn trách nhiệm, bổn phận của họ càng cao, thì văn hóa cầm quyền của Đảng càng
cao. Văn hóa cầm quyền của Đảng được biểu hiện chủ yếu ở văn hóa lãnh đạo, quản
lý của đội ngũ cán bộ, đảng viên. Vị trí, chức vụ càng cao, quyền hạn càng lớn,
thì trách nhiệm càng nhiều, càng nặng nề. Ở đây, người cán bộ phải hiểu được
quyền lực mà họ được giao không phải là quyền lực tự thân mà là quyền lực đại
diện, do nhân dân giao phó. Người cán bộ chỉ là người đại diện của nhân dân để
thực hiện nhiệm vụ chung. Vì vậy, “văn hóa trách nhiệm”, “văn hóa ứng xử”, “văn
hóa từ chức”… là những tiêu chí cơ bản để đánh giá mức độ của văn hóa cầm
quyền. Văn hóa cầm quyền còn được thể hiện ở một nền chính trị trong sạch,
“liêm khiết từ to đến nhỏ” (Hồ Chí Minh, 2011, tập 5: 61), ở phẩm chất đạo đức
trong sáng, “cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư” của người cán bộ, đảng
viên. Nhân dân chỉ tham gia tích cực vào việc thực hiện chủ trương, đường lối
của Đảng khi và chỉ khi đội ngũ đảng viên thực sự là tấm gương sáng về đạo đức,
lối sống. Đạo đức của người cán bộ là nền tảng của chính trị, là gốc của người
cách mạng, là cơ sở của văn hóa cầm quyền của Đảng. Đạo đức cũng là cơ sở để
tập hợp quần chúng đấu tranh vì sự nghiệp cách mạng chung, nhân dân chỉ tin
yêu, hết lòng hết sức đi theo Đảng khi “Đảng là đạo đức, là văn minh”. Hồ Chí
Minh căn dặn: “một dân tộc, một đảng và mỗi con người hôm qua là vĩ đại, có sức
hấp dẫn lớn, không nhất định ngày hôm nay và ngày mai vẫn được mọi người yêu
mến và ca ngợi, nếu lòng dạ không trong sáng nữa, nếu sa vào chủ nghĩa cá nhân”
(Hồ Chí Minh, 2011, tập 12: 557-558). Chính vì vậy, để xứng đáng là người đại
diện của nhân dân, người cán bộ, đảng viên phải không ngừng rèn luyện các phẩm
chất đạo đức, như: suốt đời phấn đấu cho đảng, cho cách mạng; toàn tâm, toàn ý
phục vụ nhân dân; gần gũi, lắng nghe, tin yêu nhân dân; nêu gương về đạo đức và
kiên quyết đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân. Ở đây, đạo đức của người cán bộ,
đảng viên chính là biểu hiện cụ thể của văn hóa cầm quyền của Đảng. Văn hóa cầm
quyền của Đảng còn thể hiện ở nội dung căn cốt là văn hóa dùng người của Đảng
khi Đảng tuyển chọn, sử dụng những cán bộ vừa có tài vừa có đức, “vừa hồng vừa
chuyên” phục vụ cách mạng, phục vụ nhân dân. Cán bộ là gốc của mọi công việc.
Sau khi có chủ trương, đường lối đúng đắn, người cán bộ của đảng chính là sợi
“dây chuyền” tuyên truyền, vận động, tổ chức nhân dân thực hiện. Nếu “dây
chuyền” tốt thì bộ máy chạy tốt; ngược lại, nếu “dây chuyền” hỏng thì bộ máy
cũng hỏng theo. Chính vì vậy, việc tuyển chọn những cán bộ xứng đáng với vai
trò là người đại diện cho quyền lực của nhân dân là trách nhiệm và thể hiện văn
hóa của Đảng .
4. Kỷ nguyên phát triển mới của dân tộc và yêu cầu đặt ra đối
với việc phát huy văn hóa cầm quyền của Đảng
Trong kỷ nguyên phát
triển mới của dân tộc, Việt Nam đang đứng trước những cơ hội lớn để bứt phá
vươn lên mạnh mẽ. Đây là kỷ nguyên của đổi mới sáng tạo, của hội nhập sâu rộng
và của kinh tế số. Để lãnh đạo đất nước, Đảng Cộng sản Việt Nam với vai trò
Đảng cầm quyền, cần không ngừng phát huy văn hóa cầm quyền, đáp ứng yêu cầu mới
của thời đại. Kỷ nguyên phát triển mới của dân tộc không chỉ là một giai đoạn
phát triển mới, mà còn là một bước ngoặt lịch sử với những đặc điểm cốt lõi. Đó
là sự chuyển đổi số toàn diện - nơi công nghệ trở thành động lực thúc đẩy mọi
lĩnh vực, từ kinh tế, y tế, giáo dục đến quản lý xã hội. Đó là sự hội nhập quốc
tế sâu rộng - nơi vị thế Việt Nam ngày càng được nâng cao đi kèm với sự cạnh
tranh khốc liệt và những thách thức mới. Đặc biệt, kỷ nguyên này chứng kiến sự
trỗi dậy mạnh mẽ của lực lượng lao động trẻ - lực lượng năng động, sáng tạo, có
tri thức và mong muốn đóng góp vào sự phát triển của đất nước. Cùng với đó,
người dân có yêu cầu cao hơn về sự công khai, minh bạch và dân chủ trong quản
lý nhà nước. Những thay đổi trên đặt ra yêu cầu cấp thiết cần phải phát huy hơn
nữa văn hóa cầm quyền của Đảng để phù hợp với bối cảnh mới. Trong kỷ nguyên
phát triển mới của dân tộc, điều này cần được thực hiện một cách toàn diện và
đồng bộ trên nhiều phương diện, với những yêu cầu cụ thể sau đây:
Một là, cần phải xây dựng văn
hóa lãnh đạo của Đảng cầm quyền dựa trên cơ sở pháp luật và nhằm mục tiêu hướng
đến phục vụ nhân dân là yêu cầu cốt lõi. Mọi chủ trương, chính sách của Đảng và
Nhà nước đều phải dựa trên cơ sở pháp lý vững chắc, đảm bảo quyền và lợi ích
hợp pháp của người dân. Cán bộ, đảng viên phải thực sự là người đầy tớ trung
thành của nhân dân, lắng nghe và giải quyết kịp thời những bức xúc, nguyện vọng
chính đáng của nhân dân. Đây không chỉ là trách nhiệm, mà còn là phương thức
củng cố niềm tin và sự ủng hộ của nhân dân.
Hai là, cần xây dựng văn hóa
liêm chính và cơ chế kiểm soát quyền lực chặt chẽ. Tham nhũng và tiêu cực là
“quốc nạn”, cản trở sự phát triển và làm xói mòn niềm tin của nhân dân đối với
Đảng. Do vậy, văn hóa cầm quyền của Đảng cần gắn liền với việc xây dựng một hệ
thống kiểm soát quyền lực chặt chẽ; cần ngăn chặn tình trạng “lợi ích nhóm” và
xử lý nghiêm các hành vi tham nhũng, tiêu cực. Quan trọng hơn, mỗi cán bộ, đảng
viên phải thực sự liêm chính, là tấm gương sáng về đạo đức, nhân cách để nhân
dân noi theo.
Ba là, xây dựng văn hóa đổi
mới, sáng tạo và khoa học. Trong một thế giới thay đổi không ngừng, tư duy đổi
mới là yếu tố sống còn. Do vậy, Đảng cần có tư duy dám nghĩ, dám làm, dám chịu
trách nhiệm vì lợi ích chung. Việc ra quyết định phải dựa trên cơ sở khoa học,
phân tích dữ liệu và nghiên cứu chuyên sâu. Đây là cách để đưa ra những chính
sách, đường lối đúng đắn, hiệu quả, phù hợp với quy luật phát triển của xã hội
hiện đại.
Bốn là, xây dựng văn hóa dân
chủ và đối thoại. Để thực sự là chủ thể của sự phát triển, Đảng cần tạo điều
kiện cho người dân phát huy quyền làm chủ. Văn hóa cầm quyền được thể hiện ở
việc thúc đẩy dân chủ, lắng nghe ý kiến đóng góp của nhân dân trong quá trình
xây dựng chính sách, giám sát hoạt động của các cơ quan nhà nước. Việc xây dựng
cơ chế đối thoại cởi mở, thường xuyên giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân sẽ giúp
thu hút trí tuệ tập thể, tạo sự đồng thuận và sức mạnh tổng hợp của mọi tầng
lớp nhân dân.
Có thể nói, văn hóa cầm
quyền của Đảng được xây dựng, phát huy một cách minh bạch, liêm chính, khoa học
và dân chủ sẽ là nền tảng vững chắc để đưa đất nước Việt Nam phát triển bền
vững, ngày càng hiện thực hóa khát vọng phồn vinh và hạnh phúc của toàn dân
tộc.
5. Giải pháp phát huy văn hóa cầm quyền của Đảng trong tình hình
hiện nay
Văn hóa cầm quyền là nhân
tố quyết định đến nội dung, phẩm chất, phương thức cầm quyền của Đảng. Chính vì
vậy, để Đảng thực sự phát huy văn hóa cầm quyền, tiêu biểu về danh dự, lương
tâm, trí tuệ của dân tộc, của thời đại, cần thực hiện các biện pháp:
Thứ nhất, cần tăng cường nghiên
cứu lý luận, tổng kết thực tiễn. Nâng tầm tư duy lý luận nhằm cung cấp luận cứ
khoa học, những kiến giải phù hợp với thực tiễn đất nước, từ đó giúp Đảng xây
dựng cương lĩnh chính trị phù hợp với từng giai đoạn cách mạng, hoạch định chiến
lược đúng đắn nhằm phát triển kinh tế - xã hội. V.I.Lênin chỉ rõ: “Không có lý
luận cách mạng thì cũng không thể có phong trào cách mạng... chỉ đảng nào được
một lý luận tiên phong hướng dẫn thì mới có khả năng làm tròn vai trò chiến sĩ
tiên phong” (V.I.Lênin, 1978, tập 6: 3032). Muốn vậy, Đảng phải kiên định,
trung thành và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh;
công tác lý luận của Đảng cần có đột phá cả về nghiên cứu lý luận và tổng kết
thực tiễn. Đồng thời, Đảng cần chú trọng đổi mới quy trình hoạch định chủ
trương, xây dựng nghị quyết. Bên cạnh việc nâng cao năng lực phát hiện những
vấn đề thực tiễn đặt ra, các cấp ủy đảng phải khảo sát thực trạng, thuận lợi,
khó khăn, tìm được nguyên nhân của hạn chế, tồn tại, trên cơ sở đó mới có thể
đề ra chủ trương, chính sách đúng đắn. Mặt khác, Đảng cần tạo điều kiện, cơ chế
để phát huy tính dân chủ trong quá trình hoạch định chính sách, ban hành nghị
quyết để nhân dân có điều kiện đóng góp trí tuệ và tạo sự đồng thuận trong nhân
dân.
Thứ hai, tiếp tục đổi mới phương
thức lãnh đạo của Đảng trong thời kỳ mới. Theo đó, văn hóa cầm quyền của Đảng
được thể hiện rõ ở việc phân định một cách khoa học, hợp lý giữa chức năng lãnh
đạo, cầm quyền của Đảng với chức năng quản lý của Nhà nước. Đảng cần xác định
rõ hình thức, nội dung lãnh đạo đối với Nhà nước, Mặt trận và các đoàn thể
chính trị - xã hội thông qua việc xây dựng, hoàn thiện các quy chế, quy định
nhằm làm rõ chức năng, thẩm quyền, trách nhiệm và cơ chế phối hợp giữa các chủ
thể trong hệ thống chính trị. Việc phân định rõ ràng, minh bạch các chức năng
giữa Đảng và Nhà nước, cũng như phân công, phân cấp hợp lý giữa các cơ quan nhà
nước, có ý nghĩa quan trọng trong việc phòng ngừa nguy cơ lạm quyền, quan liêu,
đồng thời tránh sự chồng chéo trong thực hiện nhiệm vụ và quyền hạn. Bên cạnh
đó, cần tiếp tục đẩy mạnh “nghiên cứu lý luận về đảng cầm quyền, xác định rõ
mục đích cầm quyền, phương thức cầm quyền, nội dung cầm quyền, điều kiện cầm
quyền” (Nguyễn Văn Huyên,2015: 18).
Thứ ba, thường xuyên nâng cao ý
thức trách nhiệm, tăng cường giáo dục đạo đức, lối sống cho đội ngũ cán bộ đảng
viên thông qua nhiều hình thức, biện pháp như tăng cường việc phê bình và tự
phê bình một cách nghiêm túc. Hồ Chí Minh khẳng định: “Một Đảng mà giấu giếm
khuyết điểm của mình là một Đảng hỏng. Một Đảng có gan thừa nhận khuyết điểm
của mình, vạch rõ những cái đó, vì đâu mà có khuyết điểm, xét rõ hoàn cảnh sinh
ra khuyết điểm đó, rồi tìm kiếm mọi cách để sửa chữa khuyết điểm đó. Như thế là
một Đảng tiến bộ, mạnh dạn, chắc chắn, chân chính” (Hồ Chí Minh, 2011, tập 5:
297). Đồng thời, Đảng cần tăng cường công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật
đảng. Làm tốt chức năng kiểm tra, giám sát sẽ góp phần khắc phục nguy cơ suy
thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng
viên. Đây là chức năng không thể thiếu đối với một đảng cầm quyền trong bối
cảnh mới, trước những thách thức ngày càng lớn đối với vai trò lãnh đạo của
Đảng. Theo Hồ Chí Minh, “kiểm soát khéo, bao nhiêu khuyết điểm lòi ra hết, hơn
nữa kiểm tra khéo về sau khuyết điểm nhất định bớt đi” (Hồ Chí Minh 2011, tập
5: 327). Đặc biệt, cần chú trọng kiểm tra, giám sát người đứng đầu các cấp uỷ,
tổ chức đảng, cơ quan và đoàn thể trong việc thực hiện chức trách, nhiệm vụ
được giao; đồng thời “nâng cao vai trò phát huy tính tích cực, chủ động và phối
hợp của Mặt trận Tổ quốc, tổ chức chính trị - xã hội, nhân dân, doanh nghiệp,
báo chí trong phát hiện, đấu tranh phòng, chống tham nhũng” (Đảng Cộng sản Việt
Nam 2021, tập II: 146). Cần xử lý kỷ luật nghiêm minh đối với những cán bộ đảng
viên vi phạm kỷ luật đảng, tham nhũng, suy thoái về đạo đức, lối sống, mất uy
tín đối với nhân dân để tăng tính giáo dục, răn đe, cảnh báo. Đồng thời, phải
chú trọng vào việc giáo dục pháp luật, ý thức tuân thủ pháp luật trong đội ngũ
cán bộ, đảng viên. Việc tuân thủ pháp luật, về thực chất, chính là yếu tố căn
bản để làm tròn trách nhiệm công vụ, hình thành và củng cố “văn hóa trách
nhiệm” của đội ngũ cán bộ, đảng viên.
Thứ tư, chú trọng công tác cán
bộ, xây dựng đội ngũ cán bộ “vừa hồng vừa chuyên”; bởi, “cán bộ là dây chuyền
của bộ máy” (Hồ Chí Minh 2011, tập 5: 54). Đạo đức của đội ngũ cán bộ, đảng
viên có ý nghĩa sống còn đối với sự lãnh đạo, cầm quyền của Đảng. Vì vậy, cần
chủ động làm tốt các khâu của công tác cán bộ, nhất là quy hoạch, đào tạo, bồi
dưỡng, bố trí sử dụng cán bộ. Mạnh dạn bổ nhiệm cán bộ trẻ có phẩm chất và tài
năng đảm trách các chức danh lãnh đạo, quản lý. Có cơ chế phát hiện, thu hút và
sử dụng nhân tài. Đồng thời, kiên quyết “không bổ nhiệm cán bộ không đủ đức, đủ
tài, cơ hội chủ nghĩa” (Đảng Cộng sản Việt Nam 2011: 261). Chính vì
vậy, cần tập trung vào các giải pháp đột phá trong công tác đánh giá, lựa chọn,
giới thiệu, đề bạt cán bộ đủ đức, đủ tài vào các chức vụ lãnh đạo, quản lý của
các cơ quan nhà nước. Đồng thời, tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, kiểm
soát quyền lực, chống sự lạm dụng, lợi dụng quyền lực, lợi ích nhóm, thao túng
chính sách, quyền lực, chạy chức, chạy quyền… nhằm ngăn chặn tệ quan liêu, tham
nhũng.
6. Kết luận
Để xây dựng, phát huy văn
hóa cầm quyền của Đảng, cần tiếp tục kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng
Hồ Chí Minh, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, kiên định
đường lối đổi mới. Bên cạnh đó, cần nâng cao năng lực cầm quyền của Đảng và bảo
đảm sự lãnh đạo của Đảng có hiệu lực, hiệu quả; đồng thời, xây dựng đội ngũ
đảng viên thật sự tiên phong, gương mẫu, gần dân, sát dân, có trách nhiệm cao
trong công việc, có phẩm chất đạo đức cách mạng, ý thức tổ chức kỷ luật và năng
lực hoàn thành tốt nhiệm vụ, vững vàng trước mọi khó khăn, thách thức, phấn đấu
cho mục tiêu, lý tưởng của Đảng.
Tài liệu tham khảo
1. Đảng Cộng sản Việt
Nam. (2004). Văn kiện Đảng Toàn tập. Tập 37. Hà Nội: Nxb. Chính trị Quốc
gia.
2. Đảng Cộng sản
Việt Nam. (2011). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI. Hà
Nội: Nxb. Chính trị Quốc gia.
3. Đảng Cộng sản
Việt Nam. (2021). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII. Tập
II. Hà Nội: Nxb. Chính trị Quốc gia.
4. Hồ Chí Minh.
(2011). Toàn tập. Tập 2. Hà Nội: Nxb. Chính trị Quốc gia.
5. Hồ Chí Minh.
(2011). Toàn tập. Tập 3. Hà Nội: Nxb. Chính trị Quốc gia.
6. Hồ Chí Minh.
(2011). Toàn tập. Tập 5. Hà Nội: Nxb. Chính trị Quốc gia.
7. Hồ Chí Minh.
(2011). Toàn tập. Tập 12. Hà Nội: Nxb. Chính trị Quốc gia.
8. Nguyễn Văn Huyên.
(2015). “Đảng Cộng sản Việt Nam duy nhất cầm quyền và vấn đề phát huy dân chủ ở
nước ta hiện nay”. Tạp chí Sinh hoạt lý luận, số 4-2015.
9. V.I.Lênin.
(1978). Toàn tập. Tập 6. Mátxcơva: Nxb. Tiến bộ.